HMS Cardiff (D58)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Cardiff.jpg
Tàu tuần dương HMS Cardiff trong màu sơn ngụy trang thời chiến, năm 1942
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Cardiff
Đặt tên theo: Cardiff, thủ đô xứ Wales
Hãng đóng tàu: Fairfield Shipbuilding and Engineering Company
Đặt lườn: 22 tháng 7 năm 1916
Hạ thủy: 12 tháng 4 năm 1917
Nhập biên chế: 25 tháng 6 năm 1917
Số phận: Bị bán để tháo dỡ, 23 tháng 1 năm 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu tuần dương C
Trọng tải choán nước: 4.290 tấn (tiêu chuẩn)
5.276 tấn (đầy tải)
Độ dài: 137,2 m (450 ft) (chung)
Sườn ngang: 13,3 m (43 ft 7 in)
Mớn nước: 4,3 m (14 ft)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Brown-Curtis
6 × nồi hơi Yarrow
2 × trục
công suất 40.000 mã lực (29,8 MW)
Tốc độ: 53,7 km/h (29 knot)
Tầm xa: 10.930 km ở tốc độ 18,5 km/h
(5.900 hải lý ở tốc độ 10 knot)
sau cải biến: 6.000 km ở tốc độ 22,2 km/h
(3.250 hải lý ở tốc độ 12 knot)
Tầm hoạt động: 300 tấn dầu đốt (tối đa 950 tấn)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
327
Vũ trang: 5 × hải pháo BL 152 mm (6 inch) Mark XII (5×1)
2 × hải pháo QF 76 mm (3 inch) 20 cwt phòng không (2×1)[1]
2 × pháo phòng không QF 2 pounder (2×1)
8 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch) (4×2)
Bọc giáp: đai giáp chính: 76 mm (3 inch) giữa tàu
38-57 mm (1½-2¼ inch) mũi
51 mm (2 inch) đuôi
sàn tàu: 25 mm (1 inch) sàn trên và bên trên bánh lái

HMS Cardiff (D58) là một tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp tàu tuần dương C của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, được chế tạo trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, thuộc lớp phụ Ceres. Lớp phụ này, vốn còn bao gồm HMS Ceres, HMS Coventry, HMS CuracoaHMS Curlew, giữ lại kiểu dáng hai ống khói và chỉ khác biệt đôi chút so với lớp phụ Caledon trước đó.

Cardiff được đặt lườn tại xưởng đóng tàu Fairfield Shipbuilding and Engineering Company vào ngày 22 tháng 7 năm 1916. Nó được hạ thủy vào ngày 12 tháng 4 năm 1917 và được đưa ra hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 25 tháng 6 năm 1917. Tên của nó được đặt theo tên thủ đô của xứ Wales

Cardiff dẫn đầu các tàu chiến-tuần dương Đức đầu hàng đi vào Rosyth vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất

Cardiff trở thành soái hạm của Hải đội Tuần dương nhẹ 6 trong thành phần Hạm đội Grand vào tháng 7 năm 1917. Năm 1918, Cardiff có vinh dự dẫn đầu Hạm đội Biển khơi Đức đầu hàng đi đến River Forth. Theo thỏa thuận đình chiến, những con tàu Đức sẽ bị chiếm giữ, nhưng vẫn còn thuộc quyền chỉ huy của Đức. Hạm đội Đức sau đó bị đánh đắm theo lệnh của sĩ quan chỉ huy, Đô đốc Ludwig von Reuter, để đảm bảo không bị rơi vào tay những người chiến thắng. Mặc dù Thế Chiến I đã kết thúc, việc phục vụ của nó vẫn chưa ngừng; khi nó được bố trí đến biển Baltic, hoạt động gần Reval (Tallinn), Estonia chống lại lực lượng Bolshevik trong vụ can thiệp bao gồm các lực lượng trên bộ Đồng Minh. Vào tháng 11 năm 1921, nó hộ tống Hoàng gia Áo-Hung đến Madeira.[2]

Giữa hai cuộc thế chiến, do được cho là đã lạc hậu, Cardiff phục vụ tại nước ngoài; vào đầu những năm 1930, nó là soái hạm của Africa Station.

Lúc mở đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai, Cardiff được sử dụng một thời gian ngắn vào việc hộ tống các đoàn tàu vận tải, bao gồm việc săn đuổi các tàu chiến-tuần dương Đức ScharnhorstGneisenau sau vụ đánh chìm chiếc HMS Rawalpindi vào ngày 23 tháng 11 năm 1939. Sau đó nó được cải biến để sử dụng như một tàu huấn luyện. Sau chiến tranh, nó bị bán để tháo dỡ vào ngày 23 tháng 1 năm 1946, và được tháo dỡ tại xưởng tàu của Arnott Young, tại Dalmuir, Scotland từ ngày 18 tháng 3 năm 1946.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Sight Manual 1916
  2. ^ Gordon Brook-Shepherd Uncrowned Emperor - The Life and Times of Otto von Habsburg, Hambledon Continuum, London 2003. ISBN 1-85285-549-5.