HMS Superb (1907)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Superb
Thiết giáp hạm HMS Superb trên đường đi, năm 1917
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Superb
Đặt hàng: 1906
Hãng đóng tàu: Armstrong Whitworth
Đặt lườn: 6 tháng 2 năm 1907
Hạ thủy: 7 tháng 11 năm 1907
Nhập biên chế: 29 tháng 5 năm 1909
Xuất biên chế: 26 tháng 3 năm 1920
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1922
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp thiết giáp hạm Bellerophon
Trọng tải choán nước: 18.800 tấn Anh (19.100 t) (tiêu chuẩn)
22.102 tấn Anh (22.457 t) (đầy tải)
Độ dài: 160,3 m (526 ft) (chung)
Sườn ngang: 25,2 m (83 ft)
Mớn nước: 8,3 m (27,2 ft)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước Parsons dẫn động trực tiếp;
18 × nồi hơi Babcock & Wilcox;
4 × trục;
công suất 23.000 ihp (17.000 kW)
Tốc độ: 21,56 hải lý một giờ (40 km/h)
Tầm xa: 5.720 nmi (10.590 km) ở tốc độ 10 hải lý một giờ (19 km/h)
Tầm hoạt động: 900–2.648 tấn Anh (914–2.690 t) than
842 tấn Anh (856 t) dầu đốt
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
840
Vũ trang: 10 × pháo BL 12 inch (304,8 mm) Mk X (5×2);
16 × pháo BL 4 inch (101,6 mm) Mk VII;
4 × pháo 3-pounder;
3 × ống phóng ngư lôi 18 inch (460 mm)
Bọc giáp: đai giáp chính: 5–10 in (130–250 mm);
bệ tháp pháo: 5–9 in (130–230 mm);
tháp chỉ huy: 8–11 in (200–280 mm);
tháp pháo: 11 in (280 mm);
sàn tàu: 0,5–4 in (13–102 mm)

HMS Superb là một thiết giáp hạm dreadnought thuộc lớp Bellerophon của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc Được chế tạo tại xưởng tàu của hãng Armstrong WhitworthElswick với chi phí 1.744.287 Bảng Anh, Suberb hoàn tất vào ngày 19 tháng 6 năm 1909,[1] trở thành chiếc thiết giáp hạm kiểu dreadnought thứ tư được hoàn tất trên khắp thế giới, chỉ sau HMS Dreadnought và hai chiếc tàu chị em HMS BellerophonHMS Temeraire.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Superb được đặt hàng vào ngày 26 tháng 12 năm 1906 và được đặt lườn vào ngày 6 tháng 2 năm 1907. Nó chỉ được hạ thủy vào tháng 5 năm 1909; việc chế tạo nó bị trì hoãn đang kể do sự đình công phản đối của công nhân xưởng tàu.[2] Nó được cho nhập biên chế tại Portsmouth vào ngày 29 tháng 5 năm 1909.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Superb được biên chế cùng Đội 1 trực thuộc Hạm đội Grand, và tham gia các hoạt động thực tập thường lệ trong thời bình cùng các đơn vị khác của hạm đội. Vào ngày 24 tháng 6 năm 1911, nó hiện diện trong buổi Duyệt binh Hạm đội nhân lễ Đăng quang của Vua George V. Vào ngày 1 tháng 5 năm 1912, Đội 1 được đổi tên thành Hải đội Chiến trận 1, và tiếp tục các hoạt động trong thời bình cho đến ngày 29 tháng 7 năm 1914, khi Hạm đội Grand được điều động đến căn cứ thời chiến của chúng tại Scapa Flow.

Vào ngày 10 tháng 11 năm 1915, Superb được điều động sang Hải đội Chiến trận 4, vốn chỉ thay đổi vị trí trong cấu trúc chỉ huy mà không thay đổi vị trí địa lý. Trong trận Jutland vào ngày 31 tháng 5 năm 1916, nó là soái hạm của Hải đội Chiến trận 4, mang cờ hiệu của Chuẩn đô đốc Alexander. L. Duff.[3] Trong trận chiến nó không bị bắn trúng phát nào và không bị thương vong. Nó không tham gia hoạt động nào khác trong thời gian còn lại của Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và quay trở lại hoạt động thực tập thường lệ vào năm 1918.

Đến tháng 10 năm 1918, Superb được điều động để tăng cường cho Hải đội Đông Địa Trung Hải Anh Quốc, và đến tháng 11 đã đảm nhiệm vai trò soái hạm của Phó đô đốc Somerset Gough-Calthrope dẫn đầu một lực lượng hỗn hợp Anh-Pháp băng qua eo biển Dardanelles để đi đến Constantinople, nay là Istanbul, sau khi Đế quốc Ottoman ký hiệp ước đình chiến kết thúc chiến tranh. Nó được thay phiên vào tháng 4 năm 1919 để quay trở về Anh; và vào ngày 26 tháng 4 năm 1919 được đưa về lực lượng dự bị tại Sheerness. Vào tháng 5 năm 1922, nó được sử dụng như một mục tiêu tác xạ, và đến cuối năm đó như một mục tiêu thực tập không kích. Vào tháng 12 năm 1922, nó bị bán cho hãng Stanlee Shipbreaking Company tại Dover, và được kéo đến Dover để tháo dỡ.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Burt, R. A. (1986). British Battleships of World War One. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-863-8. 
  • Gardiner, Robert; Gray, Randal (1982). Conway's All the World's Fighting Ships 1906–1921. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-245-5. 
  • Parkes, Oscar (1990). British Battleships . Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-075-4. 
  • Taylor, Michael J.H. (1990). Jane's Fighting Ships of World War I. Studio. ISBN 1-85170-378-0. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]