HQ-9

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

HQ-9 (Tiếng Trung giản thể: 红旗-9; tiếng Trung phồn thể: 紅旗-9; bính âm:Hóng Qí-9; nghĩa đen: "Hồng Kỳ-9"), là thế hệ tên lửa đất đối không tầm trung đến tầm xa mới của Trung Quốc.[1]

Gần giống với tổ hợp tên lửa S-300 của Nga hay hệ thống Patriot của Mỹ. HQ-9 sử dụng hệ thống radar HT-233 PESA[2]. Biến thể sử dụng cho Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc - HHQ-9 (Tiếng Trung giản thể: 海红旗-9; tiếng Trung phồn thể: 海紅旗-9; bính âm: Hǎi Hóng Qí-9; nghĩa đen: "Hải Hồng Kỳ-9"), gần như giống hệt phiên bản trên đất liền. HHQ-9 được trang bị trong các ống phóng thẳng đứng VLS trên Tàu khu trục lớp Type 052C Lan Châu(Lanzhou) thuộc biên chế Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc[3].

Hệ thống của HQ-9 có thể chống lại sự dò tìm của radar, được biết đến với bản xuất khẩu là FT-2000. Phiên bản được thiết kế để xuất khẩu là FD-2000 (với cụm từ FD là viết tắt của Fang Dun[防盾], có nghĩa là lá chắn phòng thủ), nó được phát triển bởi Tổng công ty xuất nhập khẩu máy móc chính xác Trung Quốc (CPMIEC) và ra mắt tại Triển lãm hàng không vũ trụ và quốc phòng Châu Phi được tổ chức ở Cape Town vào tháng 03 năm 2009.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu tạo cơ bản của HQ-9 bao gồm một ra đa tìm kiếm loại 305B, 1 ra đa, 1 ra đa theo dõi, 1 máy phát điện chạy diesel với công suất 200 kW, và 8 Xe mang phóng tự hành (TEL) với 4 tên lửa mỗi xe, tổng cộng 32 lượt phóng sẵn sàng khai hỏa. Những thiết bị này thường được gắn trên các xe tải Thái An. Cấu tạo cơ bản này có thể được mở rộng để có sức chứa lớn hơn, với những thiết bị được thêm vào như: 1 đài chỉ huy TWS-312, 1 xe khảo sát dựa trên các mẫu Humvee của Trung Quốc, một bộ chuyển đổi năng lượng, xe vận chuyển/nạp tên lửa bổ sung với 4 tên lửa mỗi xe dựa trên mẫu Thái An TAS5380, 1 ra đa dò tìm tầm thấp Type 120, 1 ra đa dò tìm tầm xa HT-233 PEAS. Hệ thống HQ-9 có sự cơ động cao.

Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Gần tương tự với hệ thống S-300V của Nga, hệ thống HQ-9 là các tên lửa 2 tầng. Tầng thứ nhất có đường kính 700mm và tầng thứ 2 có đường kính 560mm, với tổng khối lượng lên đến gần 2 tần và chiều dài 6,8m. Tên lửa được trang bị một đầu đạn nặng 180 kg, và đạt tốc độ tối đa 4,2 Mach và tầm bắn tối đa xấp xỉ 200 km. Vector đẩy (TVC) của HQ-9 là nhận dạng trực quan và rõ ràng nhất để phân biệt nó với hệ thống S-300V: TVC của HQ-9 lộ ra và nó có thể quan sát được từ bên cạnh, trong khi đó TVC của S-300V là không lộ ra. Hệ thống dẫn đường của HQ-9 là hệ thống điều khiển tên lửa kết hợp: máy lái tự động quán tính giai đoạn đầu; giai đoạn giữa kết hợp máy lái tự động quán tính trên tên lửa để chỉnh tầm và lệnh vô tuyến từ đài điều khiển mặt đất để chỉnh hướng; giai đoạn cuối dẫn bằng lệnh vô tuyến kết hợp dữ liệu về mục tiêu do cơ cấu bám qua tên lửa (radar của đạn tên lửa bắt bám mục tiêu ở giai đoạn cuối bằng cách thu tín hiệu phản xạ từ mục tiêu bị đài radar mặt đất chiếu xạ, rồi truyền phần tử bắn về đài điều khiển mặt đất, đài điều khiển mặt đất tính toán và hiệu chỉnh các tham số mục tiêu và truyền lệnh vô tuyến đến tên lửa).

Ra đa[sửa | sửa mã nguồn]

Để giảm thiểu giá thành, hệ thống HQ-9 được thiết kế để có thể kết hợp linh hoạt với nhiều loại ra đa, bao gồm cả tìm kiếm/giám sát/tương tác/Ra đa kiểm soát hỏa lực(FCR).

Ra đa kiểm soát hỏa lực[sửa | sửa mã nguồn]

Rất nhiều FCR của hệ thống tên lửa đất đối không khác của Trung Quốc có thể sử dụng cho HQ-9, ví dụ như FCR sử dụng cho KS-1 SAM, SJ-212, bản thân nó đã là phiên bản cải tiến của hệ thống ra đa kiểm soát hỏa lực (FCR) của SJ-202 sử dụng trong HQ-2J. Các FCR của H-200 và SJ-231 của mẫu KS-1 SAM cũng tương thích với HQ-9.

Ra đa HT-233[sửa | sửa mã nguồn]

Để tối đa hóa hiệu quả chiến đấu của HQ-9, một hệ thống ra đa điều khiển hỏa lực (FCR) chuyên dụng cho HQ-9 đã được phát triển, và nó thường xuyên được nhìn thấy đi kèm với HQ-9. Được chỉ định là HT-233, mẫu ra đa này là loại FCR tiên tiến nhất HQ-9 được kết hợp, và nó có điểm tương đồng lớn với  mẫu MPQ-53 của MIM-104 Patriot hơn là mẫu 30N6(Flap-lid) của S-300.

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

·        FD-2000 – Xuất hiện lần đầu tiên tại Triển lãm hàng không Châu Hải lần thứ 8, là phiên bản xuất khẩu của HQ-9, có thêm lựa chọn là cung cấp khả năng chống tàng hình với việc kết hợp cùng với ra đa cảm biến bị động YLC-20. FD-2000 tạo danh tiếng trong 1 bản hợp đồng bảo đảm tên lửa đất đối không của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng sau đó đã bị từ chối vì lý do chính trị. Thời gian phản ứng của FD2000 từ khi ra đa phát hiện mục tiêu đến tên lửa được phóng nằm trong khoảng 12-15 giây. Nó bao phủ 1 phạm vi rộng 49000 ki lô mét vuông. FD-2000 được trưng bày tại Triển lãm hàng không Châu Hải 2014.

·        FT-2000 – Phiên bản chống bức xạ là phiên bản đầu tiên của gia đình HQ-9 được hoàn thiện.

·         HQ-9 - TVM phiên bản SAM.

·        HHQ-9 — Phiên bản dành cho hải quân.

·         HQ-9A — Phiên bản nâng cấp, được thử nghiệm lần đầu vào năm 1999 và được đưa vào sử dụng năm 2001. Các nguồn tin Trung Quốc tuyên bố rằng các hệ thống mà các mẫu HQ-9 sử dụng được trang bị nhiều công nghệ máy tính tiên tiến hơn so với hệ thống S-300PMU/PMU1/PMU2 nhập khẩu từ Nga. Bởi vì HQ-9 được phát triển sau hơn một thập kỷ. nên điều này cho phép nó áp dụng tiến bộ trong vi điện tử. Do khả năng tính toán cao cho xử lý tín hiệu, dữ liệu và hỗ trợ định hướng, loại tên lửa nafyt có thể tích hợp SARH, bởi vì nhiều thông tin tên lửa có thể tự mình tính toán.

·        HHQ-9A — Phiên bản trên tàu hải quân của HQ-9A. Có 8 ống phóng dọc 6-cell, hình trụ và sử dụng phương pháp phóng lạnh, được gắn trên tàu khu trục lớp Type 052C (với tổng cộng 48 tên lửa).

·        HQ-9B — được ghi nhận là thử nghiệm vào tháng 02 năm 2006. Theo Jane's Information Group, tên lửa này sử dụng hệ thống dò tìm kép được kết hợp giữa chế độ SARH và dẫn đường hồng ngoại.

·        HQ-9C – Đến hiện tại vẫn đang trong giai đoạn phát triển, tích hợp chế độ ra đa dẫn đường chủ động.

·        HQ-19 – Một phiên bản nâng cấp lớn của HQ-9 dùng để chống lại tên lửa, bao gồm cả phiên bản cải tiến của  HQ-9 để chống lại tên lửa đạn đạo và vệ tinh từ tầng khí quyển, đây là bản tương đương với THAAD mà Trung Quốc sản xuất. HQ-19 được trang bị đầu đạn với 2 mục đích là tác động lực bên ngoài tiêu diệt phương tiện (kkv), được thiết kế với đội nghiên cứu dẫn đầu bởi Giáo sư Zhou Jun (周军), loại có thể được sử dụng để chống lại tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hoặc vệ tinh. Lần phóng thử đầu tiên của HQ-19 là vào năm 2003;kể từ đó, nó được tiến hành một số thử nghiệm khác,  cụ thể là 1 lần vào ngày 01 tháng 11 năm 2015.

·        SC-19 - HQ-19 sử dụng Kaituozhe-1 như động cơ chính thay cho động cơ nguyên bản sử dụng trên HQ-9/19. Vì sự khác biệt về động cơ, SC-19 cũng phải chấp nhận một hệ thống mang phóng mới được chỉ định là KT-409. Giống như HQ-19, SC-19 cũng có thể được sử dụng để chống lại tên lửa đạn đạo hoặc vệ tinh ở tầng khí quyển thấp.

·        HQ-26SM-3 phiên bản Trung Quốc được trang bị cho hải quân, cải tiến từ HQ-9/19 được trang bị xung động cơ tên lửa rắn kép cho giại đoạn cuối cùng giống như SM-3. Loại tên lửa này được dự kiến ra mắt vào đầu năm2015.

·        HQ-29 – MIM-104F (PAC-3) phiên bản Trung Quốc. HQ-29 được trang bị với hơn 100 động cơ tên lửa xung thể rắn gắn trên thân tên lửa, nhưng con số chính xác vẫn chưa được kiểm chứng do thông tin không được công khai. Lần phóng đầu tiên của HQ-29 là vào năm 2011 và dự kiến sẽ triển khai vào cuối kế hoạch 5 năm lần thứ 12. Có ít nhất 1 lần thử nghiệm bổ sung được tiến hành vào năm 2013.

Xuất khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống HQ-9 là một ứng cử viên trong chương trình T-LORAMIDS của Thổ Nhĩ Kỳ, và được báo cáo là đã đượch chọn lựa vào tháng 9 năm 2013.[4] Hoa Kỳ đã phản ứng bằng cách ngăn chặn các nguồn để tích hợp hệ thống của Trung Quốc vào hệ thống  phòng thủ của NATO.[5] Tuy nhiên, đến năm 2013 không có xác nhận nào rằng thỏa thuận đã được hoàn thành.[6][7][8] Vào tháng 2 năm 2015, Hội nghị Đại quốc dân Thổ Nhĩ Kỳ đã được Bộ Quốc phòng thông báo rằng việc đánh giá hồ sơ dự thầu đã hoàn tất và hệ thống được chọn sẽ được Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng mà không cần tích hợp với NATO; hệ thống này không được đặt tên rõ ràng. Tuy nhiên, các quan chức Thổ Nhĩ Kỳ khác báo cáo rằng không có hệ thống nào được chọn.[9] Cuối tháng này, các quan chức Thổ Nhĩ Kỳ tiết lộ rằng các cuộc đàm phán đang diễn ra với nhiều nhà thầu; Giá thầu Trung Quốc vẫn chưa thỏa mãn các yêu cầu liên quan đến việc chuyển giao công nghệ.[10] Vào tháng 3 năm 2015, một bài báo của China Daily đưa tin rằng "Hệ thống FD-2000 của Trung Quốc, một mẫu HQ-9 để xuất khẩu, đã được chọn cho hợp đồng với Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2013" dựa trên các bình luận ​​của đại diện CPMIEC tại Triển lãm Không gian và Hàng không Quốc tế Langkawi năm 2015; Bài viết đã gây hiểu nhầm là " Xác nhận việc bán tên lửa cho Thổ Nhĩ Kì." [11] Tuy nhiên, một người điều hành giấu tên của CPMIEC đã nói với Global Times rằng “phương tiện truyền thông đã đọc quá nhiều về điều này. Không có thông tin mới về việc đấu thầu. ”[12] Vào tháng 11 năm 2015, Thổ Nhĩ Kỳ xác nhận rằng họ sẽ không mua HQ-9, thay vào đó chọn một hệ thống phát triển bản địa.[13]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Spacewar.com - Analysis: China exports new SAM missile".”. 18 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ http://m.sohu.com/n/387354608/.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  3. ^ "Chinese Defence Today - Naval HQ-9 Ship-to-Air Missile". 30 tháng 12 năm 2006. 
  4. ^ “Toksabay, Ece (26 September 2013). "Chinese firm wins Turkey's missile defense system tender". reuters.com. reuters. Retrieved26 September 2013.”. 
  5. ^ “Wilson, Steve (14 December 2013). "Congress to block Turkey using US funds to buy missile system from blacklisted Chinese firm". telegraph.co.uk. AFP.”. 14 tháng 12 năm 2013. 
  6. ^ “Lague, David (2 October 2013). "For China, Turkey missile deal a victory even if it doesn't happen". Reuters.”. 
  7. ^ “Daloglu, Tulin (27 Sep 2013). "Turkey close to deal with China for anti-missile system". Al-Monitor.”. 
  8. ^ "Update: Turkey Remains Defiant About Co-Producing Missile Defense System with China". Defense Update. 25 October 2013.”. 
  9. ^ “Karadeniz, Tulay (19 February 2015). "Turkey eyes deal with China on missile defense despite NATO concern". Reuters. Retrieved12 May 2015.”. 
  10. ^ “Coskun, Orhan; Karadeniz, Tulay (26 February 2015). "Turkey goes back to other missile system bidders as China drags feet: officials".Reuters. Retrieved 12 May 2015.”. 
  11. ^ “Peng, Yining (19 March 2015). "Missile sale to Turkey confirmed". China Daily. Retrieved 12 May 2015.”. 
  12. ^ “Liu, Yang (19 March 2015). "Chinese firm denies winning FD-2000 air defense missile system bid in Turkey". Global Times. Retrieved12 May 2015.”. 
  13. ^ “Butler, Daren; Karadeniz, Tulay; Martina, Michael (18 November 2015). Mark, Heinrich, ed. "UPDATE 2-Turkey confirms cancellation of $3.4-bln missile defence project awarded to China". Reuters. Retrieved 25 November 2015.”.