Ha Ngạch Luân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bản dịch sang tiếng Hán của Mông Cổ bí sử bố cục lại năm 1908: Dã Tốc Cai bắt cóc (cướp) Ha Ngạch Luân, vợ của Xích Liệt Đô.

Ha Ngạch Luân (chữ Hán: 訶額侖; bính âm: Hē é lún, tiếng Mông Cổ: Өэлүн; phiên âm: Öülen; tiếng Anh: Hoelun; 1142—1221), còn được gọi là Nguyệt Luân Thái hậu (月伦太后), Oát Lặc Hốt Nột thị (斡勒忽讷氏; Olkhonud), là chính thất của Dã Tốc Cai — khả hãn Mông Ngột Quốc, — mẹ đẻ của Thành Cát Tư Hãn. Phần lớn những hiểu biết hiện tại về cuộc sống của bà được biết đến dựa vào Mông Cổ bí sử.

Cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Ha Ngạch Luân sinh ra trong bộ tộc Olkhunut (Oát Lặc Hốt Nột thị), và được đính hôn với Xích Liệt Đô (赤列都; Чилэдү) của liên minh Miệt Nhi Khất (蔑兒乞; Мэргид, Merkit), nhưng bị Dã Tốc Cai bắt cóc khi đang trên đường trở về trại Miệt Nhi Khất sau hôn lễ năm 1159.[cần dẫn nguồn] Luân sau đó liền trở thành chính thất của Dã Tốc Cai. Bà hạ sinh năm người con, gồm bốn con trai là Thiết Mộc Chân (sau là Thành Cát Tư Hãn), Chuyết Xích Cáp Tát Nhi (Jo'chi Qasar), Hợp Xích Ôn (Hachiun Alchi), Thiết Mộc Ca Oát Xích Cân (Temüge Otchigin) và một con gái là Thiếp Mộc Luân. Thứ thất phu nhân của Dã Tốc Cai, Tốc Xích Cát Lặc (速赤吉勒), hạ sinh hai người con trai là Biệt Khắc Thiếp Nhi (Behter) và Biệt Lặc Cổ Đài (Belgutei).

Góa bụa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của Dã Tốc Cai năm 1171, bộ tộc Bột Nhi Chỉ Cân của ông đã từ bỏ hai người vợ Ha Ngạch Luân, Tốc Xích Cát Lặc, và toàn bộ những đứa con của ông để theo một thủ lĩnh kình địch. Ha Ngạch Luân sau đó lập tức cùng những thành viên khác trong gia đình chuyển đến sống ở vùng thung lũng sông Ngạc Nộn. Sau này sự kình địch giữa hai anh em cùng cha khác mẹ Thiết Mộc Chân và Biệt Khắc Thiếp Nhi cuối cùng dẫn đến việc Biệt Khắc Thiếp Nhi bị giết, Ha Ngạch Luân vì việc này đã trừng phạt Thiết Mộc Chân nghiêm khắc. Mặc dù con trai mình bị giết bởi con trai của vợ cả nhưng Tốc Xích Cát Lặc vẫn không tỏ thái độ bực tức hay oán hận với Ha Ngạch Luân cùng Thiết Mộc Chân và họ vẫn tiếp tục sống chung với nhau.

Cuối đời và tử hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1206 Thiết Mộc Chân con trai bà xưng Đại hãn, lấy hãn hiệu là Thành Cát Tư Hãn.

Bà mất năm 1221, thọ 79 tuổi. Chí Nguyên năm thứ 3 (1266), sau khi xây dựng xong thái miếu, chế tôn thụy miếu hiệu hoàn thành, chắt nội là Hốt Tất Liệt truy tôn tằng tổ mẫu làm Tuyên Ý Hoàng hậu (宣懿皇后), phủ liệt tổ là thái miếu đệ nhất thất (太庙第一室).

Gia phả[sửa | sửa mã nguồn]

 
 
 
 
Dã Tốc Cai
 
 
 
 
 
Nguyệt Luân thái hậu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Biệt Lặc Cổ Đài
 
Biệt Khắc Thiếp Nhi
 
Thiết Mộc Ca Oát Xích Cân
 
Hợp Xích Ôn
 
Chuyết Xích Cáp Tát Nhi
 
Thiết Mộc Chân (Thành Cát Tư Hãn)
 
Bột Nhi Thiếp
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Truật Xích
 
 
Sát Hợp Đài
 
 
 
Oa Khoát Đài
 
 
Đà Lôi

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]