Harpoon (tên lửa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Harpoon
Harpoon asm bowfin museum.jpg
Một tên lửa Harpoon được trưng bày tại bảo tàng USS Bowfin tại Trân Châu Cảng.
LoạiTên lửa chống tàu
Nơi chế tạoHoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1977–hiện tại
Sử dụng bởiXem #Quốc gia vận hành
Cuộc chiến tranhChiến tranh Iran – Iraq
Chiến tranh Nga-Ukraine
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuấtMcDonnell Douglas
Boeing Defense, Space & Security
Giá thànhUS$1,406,812 với phiên bản Harpoon Block II (2020)[1]
Số lượng chế tạo7,500[2]
Thông số
Khối lượng691 kg (đã bao gồm tầng đẩy phụ)
Chiều dài3.8 m đối với phiên bản phóng từ trên không; 4.6 m đối với phiên bản phóng từ mặt đất và từ tàu ngầm
Đường kính34 cm
Đầu nổ221 kg
Cơ cấu nổ
mechanism
Ngòi nổ va chạm

Động cơĐộng cơ tuốc bin phản lực luồng Teledyne CAE J402/tầng đầy phụ sử dụng nhiên liệu rắn cho phiên bản phóng từ mặt đất và tàu ngầm, có lực đẩy bổ sung là 2700 N
Sải cánh0.91 M
Tầm hoạt động
  • 75 nmi (139 km) với phiên bản Harpoon Block I & Block IC phóng từ tàu chiến;[cần dẫn nguồn]
  • 67 nmi (124 km) với phiên bản Harpoon Block II phóng từ tàu chiến;[3]
  • 120 nmi (220 km) với phiên bản Block IC phóng từ trên không
Độ cao bayBay bám biển
Tốc độ
  • 864 km/h (Mach 0.71) đối với phiên bản Block I phóng từ tàu chiến & phiên bản Block IC phóng từ trên không;
  • hơn 864 km/h (Mach 0.71) đối với phiên bản Block IC & Block II phóng từ tàu chiến
Hệ thống chỉ đạoBay hành trình bám biển giám sát bởi Radar độ cao, dẫn đường bằng radar chủ động trong pha tiếp cận
Nền phóng
  • RGM-84A phóng từ mặt đất
  • AGM-84A phóng từ trên không
  • UGM-84A phóng từ tàu ngầm

Harpoon (ngọn lao) là một loại tên lửa chống hạm hoạt động trong mọi thời tiết, tầm bắn vượt đường chân trời được phát triển và sản xuất bởi McDonnell Douglas (hiện nay được phát triển bởi Boeing Defense, Space & Security). Các tên lửa AGM-84E SLAMAGM-84H/K SLAM-ER là phiên bản tên lửa hành trình được phát triển dựa trên nguyên mẫu tên lửa Harpoon.

Phiên bản tiêu chuẩn của Harpoon sử dụng một radar tìm kiếm chủ động và bay ở độ cao sát với mặt nước để tránh bị bắn hạ. Tên lửa có thể được phóng từ:

  • Máy bay cánh cố định (AGM-84, phiên bản này không được trang bị tầng đẩy phụ)
  • Tàu chiến (RGM-84, trang bị một tầng đẩy phụ nhiên liệu rắn và sẽ được tách ra khỏi tên lửa sau khi động cơ chính hoạt động)
  • Tàu ngầm (UGM-84, trang bị một tầng đẩy phụ nhiên liệu rắn và được bọc kín trong một khoang để có thể được phóng thông qua ống phóng lôi)
  • Các hệ thống phòng thủ bờ biển

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2004, Boeing đã sản xuất tổng cộng 7000 tên lửa Harpoon kể từ khi vũ khí này được phát triển vào năm 1977. Công nghệ tên lửa đã phát triển nâng cao thành một loại tên lửa Standoff Land Attack Missile (SLAM) và SLAM-ER (Standoff Land Attack Missile expanded response). Hiện nay, phiên bản nâng cấp của GM-84 Harpoon là tên lửa AGM-84 H/K SLAM-ER được xem là loại tên lửa chống hạm hiệu quả và đáng sợ nhất của Hải quân Hoa Kỳ, lý do cho điều này đến từ các tính năng của SLAM-ER. SLAM-ER có thể tấn công các mục tiêu di chuyển trong mọi thời tiết, cả ngày lẫn đêm. Được dẫn hướng và điều khiển bằng Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) và hình ảnh hồng ngoại, SLAM-ER có thể được lái từ xa trong khi đang bay, có thể chuyển hướng đến một mục tiêu khác sau khi phóng. Nếu mục tiêu ban đầu đã bị phá hủy, hoặc không còn được coi là nguy hiểm (hướng dẫn chỉ huy - command guidance), tên lửa này có thể tự phát nổ. Thông tin mục tiêu cũng có thể gửi lại từ SLAM-ER chia sẻ cho các máy bay khác hoặc UAV giúp tăng khả năng gây thiệt hại cho lực lượng đối phương.

Ngoài ra, SLAM-ER còn sở hữu bộ phận nhận dạng mục tiêu tự động (ATRU) xử lý dữ liệu bằng cách so sánh video tốc độ cao trước và sau khi phóng cho phép SLAM-ER hoạt động theo chế độ "bắn và quên". Khi tiếp cận mục tiêu đã được đánh dấu, tên lửa SLAM-ER mới kích hoạt cảm biến ảnh nhiệt, sau đó chúng sử dụng thuật toán so sánh hình ảnh được cung cấp trước khi phóng với thực địa để xác định vị trí hợp lý chờ lệnh công kích. Nó cũng có thể bắn theo chế độ "điểm đã được khoanh tròn" ("man-in-the-loop"), khi phi công hoặc nhân viên hệ thống vũ khí có thể chỉ định chính xác điểm tác động, ngay cả trong trường hợp mục tiêu không có tín hiệu hồng ngoại khác biệt.[4]

Ngoài SLAM-ER ra, AGM-84 Harpoon vẫn không ngừng được nâng cấp, với biến thể mới nhất hiện tại là AGM-84 Harpoon Block II+Extended Range (SLAM-ER là Block IH) lần đầu được giới thiệu vào năm 2015, với tầm bắn vào 384 km.[5]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống phòng thủ bờ biển sử dụng tên lửa phiên bản Block I, phục vụ trong Hải quân Đan Mạch từ 1988-2003.
Một tên lửa Harpoon được phóng từ tàu tuần dương lớp Ticonderoga USS Shiloh trong một cuộc diễn tập bắn đạn thật vào năm 2014.
Một tên lửa Harpoon huấn luyện đang được nạp vào tàu ngầm USS Asheville.

Vào năm 1981 và 1982, đã có hai vụ phóng nhầm tên lửa Harpoon: một bởi Hải quân Hoa Kỳ và một bởi Hải quân Đan Mạch. Trong vụ việc của Đan Mạch, tên lửa đã gây ra một số thiệt hại cho các toà nhà tại Lumsås.

Vào tháng 11 năm 1980, trong Chiến dịch Morvarid, một tàu tên lửa của Iran đã tấn công và đánh chìm hai tàu tên lửa lớp Osa của Iraq; một trong những loại vũ khí được sử dụng trong cuộc tấn công này là tên lủa Harpoon.[6][7]

Năm 1986, Hải quân Hoa Kỳ đã đánh chìm ít nhất hai tàu tuần tra tại ịnh Sidra. Hai tên lửa Harpoon đã được phóng từ tàu USS Yorktown nhưng lại không có xác nhận kết quả tiêu diệt và một vài tên lửa phóng từ máy bay A-6 Intruder cũng được cho đã là đã đánh trúng mục tiêu.[8] Báo cáo ban đầu đã chỉ ra rằng tên lửa từ tàu USS Yorktown đã bắn trúng một tàu tuần tra, nhưng những báo cáo sau này lại chỉ ra rằng tên lửa có thể đã bắn trúng một mục tiêu giẳ và không có một tàu nào bị đánh chìm bởi những tên lửa đó.

Năm 1988, tên lửa Harpoon đã được sử dụng để tấn đánh chìm khinh hạm Sahand của Iran trong chiến dịch Praying Mantis. Một tên lửa khác cũng đã được sử dụng để tấn công một tàu tên lửa lớp Kaman của Iran, nhưng tên lửa đã không đánh trúng mục tiêu vì mục tiêu đã bị tiêu diệt bởi một tên lửa RIM-66 Standard trước đó. Một tên lửa Harpoon của Iran đã được dùng để tấn công một tàu tuần duơng tên lửa dẫn đường USS Wainwright. Tên lửa này đã bị đánh lừa bởi hệ thống gây nhiễu của tàu.[9]

Tháng 12 năm 1988, một tên lửa Harpoon phóng từ máy bay F/A-18 Hornet thuộc tàu sân bay USS Constellation đã đánh trúng một tàu buôn có tên Jahvivek của Ấn Độ và làm một thuỷ thủ thiệt mạng, trong một cuộc tập trận tại Trường bắn tên lửa Thái Bình Duơng gần Kauai, Hawaii. Một cảnh báo dành cho thuỷ thủ đoàn đã được đưa ra để cảnh báo về khu vực nguy hiểm, nhưng tàu đã rời cảng trước khi kịp nhận cảnh báo và đã tiếp tục di chuyển về hướng khu vực thử nghiệm tên lửa, và một tên lửa Harpoon, với đầu đạn giả, đã khoá mục tiêu vào tàu thay vì mục tiêu giả đã chuẩn bị từ trước.

Phiên bản UGM-84A phóng từ tàu ngầm đã ngừng hoạt động trong biên chế Hải quân Hoa Kỳ từ năm 1997, dẫn đến việc lực lượng tàu ngầm của Hoa Kỳ thiếu đi một loại tên lửa chống hạm cho đến khi phiên bản Tomahawk Block IV được giới thiệu vào năm 2021 với khả năng tấn công mục tiêu di chuyển trên biển.[10] Trong cuộc tập trận RIMPAC 2018, một tên lửa UGM-84 Harpoon đã được phóng từ tàu USS Olympia vào tàu USS Racine đã bị loại biên.[11][12] Hải quân Hoa Kỳ đang có kế hoạch tái triển khai và tái kiểm tra tên lửa UGM-84 Harpoon để trang bị cho các tàu ngầm lớp Los Angeles.[13] Một hợp đồng 10 triệu đô la đã được dành cho Boeing vào năm 2021 nhằm sản xuất và chuyển giao các tên lửa trước cuối năm.[14]

Đặc điểm chung[sửa | sửa mã nguồn]

Một tên lửa Harpoon Block II phóng từ tàu USS Thorn.
Tên lửa UGM-84 phóng từ tàu ngầm
Tên lửa AGM-84D đang được trang bị trên một điểm treo của máy bay P-3C Orion .

[cần dẫn nguồn]

  • Chức năng chính: Tên lửa chống hạm (tấn công mặt đất) phóng từ mặt đất, trên không, hay tàu ngầm
  • Nhà thầu: McDonnell Douglas Astronautic Company
  • Động cơ: Động cơ tuốc bin phản lực luồng Teledyne CAE J402, cho lực đẩy 2.9 kN, và một tầng đẩy nhiên liệu rắn dành cho phiên bản phóng từ mặt đất và tàu ngầm
  • Chiều dài:
    • Phiên bản phóng từ trên không: 3.8 m
    • Phiên bản phóng từ mặt đất hoặc tàu ngầm: 4.6 m
  • Khối lượng:
    • Phiên bản phóng từ trên không: 519 kg
    • Phiên bản phóng từ mặt đất hoặc tàu ngầm: 628 kg
  • Đường kính: 340 mm
  • Sải cánh: 914 mm
  • Độ cao bay tối đa: 910 m với cánh và vây nâng hỗ trợ
  • Tầm bắn: Vượt đường chân trời
    • AGM-84D (Block 1C): 220 km (120 nmi)
    • RGM/UGM-84D (Block 1C): 140 km (75 nmi)
    • AGM-84E (Block 1E): 93 km (50 nmi)
    • AGM-84F (Block 1D): 315 km (170 nmi)[cần dẫn nguồn]
    • RGM-84F (Block 1D): 278 km (150 nmi)[15]
    • RGM/AGM-84L (Block 2): 124 km (77 mi)[16][17]
    • AGM-84H/K (Block 1G / Block 1J): 280 km (150 nmi)
  • Tốc độ: Cận âm, khoảng 850 km/h
  • Hệ thống dẫn đường: Bay hành trình bám biển giám sát bởi Radar độ cao, dẫn đường bằng radar chủ động trong pha tiếp cận
  • Đầu đạn: Xuyên giáp phá mảnh nặng 221 kg
  • Giá thành một tên lửa: 1,527,416 US$
  • Thời gian bắt đầu triển khai:
    • Phiên bản phóng từ tàu chiến (RGM-84A): 1977
    • Phiên bản phóng từ trên không (AGM-84A): 1979
    • Phiên bản phóng từ tàu ngầm (UGM-84A): 1981
    • SLAM (AGM-84E): 1990
    • SLAM-ER (AGM-84H): 1998 (chuyển giao); 2000 (đủ khả năng hoạt động; IOC)
    • SLAM-ER ATA (AGM-84K): 2002 (IOC)

Quốc gia vận hành[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia từng vận hành[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các quốc gia vận hành với Indonesia (màu đỏ) là quốc gia đã từng vận hành
Khinh hạm HMCS Regina của Hải quân Hoàng gia Canada phóng tên lửa Harpoon trong một cuộc tập trận đánh chìm tàu RIMPAC
 Úc
 Bỉ
 Brasil
 Canada
 Chile
Đan Mạch
 Ai Cập
 Đức
 Hy Lạp
 Ấn Độ
 Iran
Israel
 Nhật Bản
 Malaysia
 México
 Maroc
 Hà Lan
 Pakistan
 Ba Lan
 Bồ Đào Nha
 Qatar
 Hàn Quốc
 Ả Rập Xê Út
 Singapore
Tây Ban Nha
 Đài Loan
 Thái Lan
 Thổ Nhĩ Kỳ
 UAE
 Vương quốc Anh
 Ukraine
 Hoa Kỳ

Các quốc gia từng vận hành[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Contracts For May 13, 2020: Navy”. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2020.
  2. ^ Gady, Franz-Stefan (20 tháng 4 năm 2015). “Who Will Supply the US Navy's Next Anti-Ship Missile?”. The diplomat. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
  3. ^ “RGM-84 Harpoon Block II”. Royal Australian Navy. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2022.
  4. ^ “AGM-84 H/K SLAM-ER”.
  5. ^ “Harpoon Block II+ER”.
  6. ^ McConoly, Raymond (31 tháng 5 năm 2021). “Operation Morvarid: The Story of How Iran Damaged Iraq's Navy in 1 Day with Joint Operation - Naval Post- Naval News and Information” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
  7. ^ Roblin, Sebastien (23 tháng 9 năm 2019). “Operation Morvarid: How Iran Destroyed Iraq's Navy in 1 Day Using Lots of U.S. Made Jets”. The National Interest (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
  8. ^ “High-Tech Firepower - TIME”. web.archive.org. 24 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
  9. ^ Jr, John H. Cushman; Times, Special To the New York (19 tháng 4 năm 1988). “U.S. STRIKES 2 IRANIAN OIL RIGS AND HITS 6 WARSHIPS IN BATTLES OVER MINING SEA LANES IN GULF”. The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
  10. ^ “WEST: U.S. Navy Anti-Ship Tomahawk Set for Surface Ships, Subs Starting in 2021”. USNI News (bằng tiếng Anh). 18 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2022.
  11. ^ Rogoway, Tyler (11 tháng 7 năm 2018). “U.S. Navy Sub To Fire Harpoon Anti-Ship Missile Years After They Left The Force”. The Drive (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2022.
  12. ^ “USS Olympia (SSN 717) Participates in SINKEX”. DVIDS (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2022.
  13. ^ McLeary, Paul (18 tháng 12 năm 2018). “Navy To Begin Arming Subs With Ship-Killer Missile”. Breaking Defense (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2022.
  14. ^ McLeary, Paul (10 tháng 2 năm 2021). “They're Back: US Subs To Carry Harpoon Ship-Killer Missiles”. Breaking Defense (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2022.
  15. ^ “RGM-84 Harpoon”.
  16. ^ “RGM-84 Harpoon Block II Royal Australian Navy”. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2020.
  17. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BG
  18. ^ “Video: Belgian frigate Louise-Marie in slow-mo missile firing action”. Naval Today (bằng tiếng Anh). 5 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  19. ^ “India - UGM-84L Harpoon Missiles | Defense Security Cooperation Agency”. www.dsca.mil. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  20. ^ “POLA Sigma 10514 ARM Reformador Frigate Launched for Mexican Navy”. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2018.
  21. ^ “UNROCA (United Nations Register of Conventional Arms)”. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2019.
  22. ^ Jennings, Gareth (30 tháng 4 năm 2019). “Qatar to arm F-15QAs with Harpoon Block 2 anti-shipping missile”. Jane's 360. London. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019.
  23. ^ “RoKAF F-16C block 52 #01-515 from the 20th FW is flying alongside a P-3 'Orion' coastal patrol aircraft, both armed with AGM-84 Harpoon missiles. [RoKAF photo]”. F-16.net. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  24. ^ Newdick, Thomas (8 tháng 10 năm 2021). “Watch Saudi F-15 Strike Eagles Unleash Harpoon Missiles Against Ship Targets”. The Drive. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  25. ^ “Royal Saudi Navy Badr corvette launches Harpoon anti-ship missile”. Navy Recognition (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  26. ^ “Formidable Class Frigate”. Naval Technology (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2022.
  27. ^ Hunter, Jamie (6 tháng 8 năm 2020). “Taiwanese F-16s Begin Flying Patrols With Live Harpoon Anti-Ship Missiles To Deter China”. The Drive. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2022.
  28. ^ “Harpoon: The Old Anti-Ship Missile That Is Headed To Ukraine”. www.19fortyfive. 26 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2022.
  29. ^ “New 155-mm-calibre self-propelled artillery and Harpoon missiles arrive in Ukraine”. Ukrayinska Pravda. 28 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2022.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]