Harry B. Harris Jr.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Harry B. Harris, Jr.
Harris Jr PACOM 2015.jpg
Admiral Harry B. Harris, Jr., USN
Tư lệnh 24, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ
Tiểu sử
Quốc tịch Hoa Kỳ
Sinh4 tháng 8, 1956 (64 tuổi)
Yokosuka, Kanagawa, Nhật Bản Nhật Bản
Binh nghiệp
Phục vụ Hoa Kỳ
ThuộcHải quân Hoa Kỳ
Năm tại ngũ1978 – đến nay
Cấp bậcĐại tướng
Đô đốc
Chỉ huyBộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ
Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ
Hạm đội Sáu
Naval Striking and Support Forces NATO
JTF Guantanamo
Patrol & Reconnaissance Wing 1
VP-46
Tham chiếnOperation Attain Document III
Operation Desert Shield
Operation Desert Storm
Operation Earnest Will
Operation Southern Watch
Operation Enduring Freedom
Operation Iraqi Freedom
Chiến dịch Odyssey Dawn
Khen thưởngDefense Distinguished Service Medal
Navy Distinguished Service Medal (3)
Defense Superior Service Medal (3)
Legion of Merit (3)
Bronze Star (2)
Air Medal
Department of State Distinguished Honor Award
Vợ/chồngBruni Bradley

Harry Binkley Harris, Jr. sinh ngày 4 tháng 8 năm 1956, là một chính trị gia, nhà ngoại giao, sĩ quan chỉ huy cao cấp người Mỹ gốc Nhật trực thuộc quân đội Hoa Kỳ kiêm Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Hoa Kỳ tại Hàn Quốc từ năm 2018. Ông là một Đô đốc của Hải quân Hoa Kỳ và hiện đang giữ chức Tư lệnh của các Hạm đội 24 thuộc Bộ Tư lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương Hoa Kỳ (USINDOPACOM)[1][2]. Ông là người Mỹ gốc Á đầu tiên được bổ nhiệm làm Đô đốc Hải quân, quân nhân người Mỹ gốc Nhật cao cấp nhất và là sĩ quan đầu tiên của Cộng đồng hàng hải tuần tra P-3 Orion thuộc Hải quân Hoa Kỳ được phong "Tướng cấp bậc 4 sao"[3][4]. Ông cũng là Tư lệnh của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ tại Hawaii từ năm 2013 đến 2015. Trong thời gian giữ chức Phó Đô Đốc, ông tham gia làm trợ lý cho Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Lần chỉ huy tác chiến gần đây nhất của Harris là vào năm 2011, khi ông chỉ huy các lực lượng vũ trang và lực lượng bảo vệ cho Hạm đội pháo binh số 6. Ông tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 1978 tại Annapolis. Harris được coi là "Old Goat" của Học viện - tức học viên tốt nghiệp loại xuất sắc nhất. Ông cũng mang biệt danh "Grey Owl" của Hải quân - tức người sĩ quan xuất sắc nhất. Harris nhậm chức chỉ huy USPACOM (tên gọi cũ của USINDOPACOM) vào ngày 27 tháng 5 năm 2015[3][5][6].

Tiểu sử và học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ra ở Yokosuka, Nhật Bản vào năm 1956. Cha ông là sĩ quan chỉ huy của Hải quân Hoa Kỳ đã kết hôn với mẹ ông là một người Nhật.[7] Sau khi gia đình quay trở lại Mỹ định cư, Harris sinh sống và lớn lên tại các tiểu bang TennesseeFlorida, ông theo học các trường công lập ở địa phương.[8]

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Harris tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ vào năm 1978. Ông là một chuyên gia về kỹ thuật quân sự.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 29 tháng 6 năm 2018, ông đã được Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump chính thức bổ nhiệm làm Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Hoa Kỳ tại Hàn Quốc[9].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ “Bản sao đã lưu trữ” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2017.
  3. ^ a ă “Command Biography”. U.S. Pacific Command. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  4. ^ Steele, Jeanette (ngày 12 tháng 7 năm 2014). “In Pacific, 1st Asian-American fleet leader”. San Diego Union-Tribune. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015.
  5. ^ Carter, Ash. “U.S. Pacific Command Change of Command”. U.S. Department of Defense. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016.
  6. ^ “Hoa Kỳ đổi tên Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương”. www.bbc.com.
  7. ^ Spitzer, Kirk (ngày 25 tháng 5 năm 2015). “The New Head of the U.S. Pacific Command Talks to TIME About the Pivot to Asia and His Asian Roots”. TIME. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015.
  8. ^ “Official biography: Harry Harris”. US Department of Defense. Không cho phép mã đánh dấu trong: |nhà xuất bản= (trợ giúp)
  9. ^ Lee Yong-soo (6 tháng 7 năm 2018). “New U.S. Ambassador Says Hello to S.Koreans”. english.chosun.com.