Hassiba Boulmerka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hassiba Boulmerka
Thành tích huy chương
Women's athletics
Đại diện cho  Algérie
Olympic Games
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 1992 Barcelona 1500 m
World Championships
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 1991 Tokyo 1500 m
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 1995 Gothenburg 1500 m
Huy chương đồng – vị trí thứ ba 1993 Stuttgart 1500 m
Mediterranean Games
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 1991 Athens 800 m
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 1991 Athens 1500 m
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 1993 Narbonne 800 m
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1993 Narbonne 1500 m

Hassiba Boulmerka (tiếng Ả Rập: حسيبة بولمرقة‎, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1968) là một cựu vận động viên cự ly trung bình người Algeria.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra ở Constantine, Boulmerka bắt đầu chạy nghiêm túc từ năm mười tuổi,[1] chuyên về 800 và 1500 mét. Cô đã thành công trong các cuộc đua quốc gia và khu vực, mặc dù không có nhiều sự cạnh tranh. Giải đấu quốc tế lớn đầu tiên của bà là Thế vận hội Mùa hè 1988 tại Seoul, nơi bà đã bị loại trong sức nóng sơ bộ của cả 800 và 1500   m.

Boulmerka's performances slowly became better, and her big breakthrough came in 1991. The first major race she won was the 800 m. at the Golden Gala race in Rome, Italy. A month later, she competed at the World Championships. On the last straight of the 1500 m final, she sprinted to victory, becoming the first African woman to win an athletics world title.

Màn trình diễn đáng chú ý của bà không chỉ khiến bà chú ý tích cực. Cô thường xuyên bị chỉ trích bởi các nhóm Hồi giáo ở Algeria, người nghĩ rằng bà khoe quá nhiều cơ thể khi đua xe. Boulmerka nhận được những lời đe dọa tử vong [1] và buộc phải chuyển đến châu Âu để huấn luyện. Mặc dù vậy, bà là một trong những mục yêu thích của 1500   m huy chương vàng tại Thế vận hội Barcelona 1992. Trong trận chung kết, bà đã chiến đấu với Lyudmila Rogachova và Qu Yunxia (người giữ kỷ lục thế giới cho đến năm 2015) để giành huy chương vàng. Đó là huy chương vàng đầu tiên của Algeria tại Thế vận hội Olympic.

Hai mùa giải tiếp theo của Boulmerka không thành công như vậy, mặc dù bà đã giành được huy chương đồng tại Giải vô địch thế giới năm 1993 tại Stuttgart. Vào năm 1995, bà đã không giành chiến thắng trong một cuộc đua duy nhất tham dự Giải vô địch thế giới tại Gothenburg, nhưng điều này không ngăn bà giành được danh hiệu thế giới thứ hai. Đó là chiến thắng duy nhất của bà trong mùa giải đó, và là chiến thắng quan trọng cuối cùng của cô. Cô từng thi đấu tại Thế vận hội trăm nămAtlanta, nhưng bị bong gân mắt cá chân trong trận bán kết. Sau mùa giải 1997, trong đó bà không bảo vệ danh hiệu thế giới của mình, bà đã nghỉ hưu từ thể thao.

Boulmerka sau đó đã được bầu vào Ủy ban vận động viên của Ủy ban Olympic quốc tế.[2]

Trước đây bà từng giữ kỷ lục 1500 mét châu Phi với thời gian 3: 55.30 chạy vào ngày 8 tháng 8 năm 1992 tại Barcelona. Cô cũng giữ kỷ lục một dặm châu Phi 4: 20,79, được thiết lập vào năm 1991 tại Oslo, trong 17 năm cho đến khi nó bị đánh bại bởi Gelete Burika ở Ethiopia, người đã hẹn giờ 4: 18,23 vào năm 2008 [3]

Sự nghiệp hậu điền kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Boulmerka đã trở lại Algeria và hiện là một nữ doanh nhân.[1]

  • vận động viên người Algeria tốt nhất trong 50 năm qua 2013

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Hassiba Boulmerka: Defying death threats to win gold, BBC, 2012-02-11. Retrieved 2012-02-11.
  2. ^ “Hassiba Boulmerka: Algerian Role Model”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  3. ^ IAAF, September 7, 2008: Powell cruises to 9.77 and 9.82 in Rieti – IAAF World Athletics Tour

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hassiba Boulmerka at the International Olympic Committee