Hedwig Elisabeth Charlotta xứ Holstein-Gottorp
| Hedwig Elisabeth Charlotta xứ Holstein-Gottorp Hedwig Elisabeth Charlotta von Holstein-Gottorf | |
|---|---|
Chân dung được vẽ bởi Carl Frederik von Breda, 1809 | |
| Vương hậu Thụy Điển | |
| Tại vị | 5 tháng 6 năm 1809 – 5 tháng 2 năm 1818 |
| Đăng quang | 29 tháng 6 năm 1809 |
| Tiền nhiệm | Friederike xứ Baden |
| Kế nhiệm | Désirée Clary |
| Vương hậu Na Uy | |
| Tại vị | 4 tháng 11 năm 1814 – 5 tháng 2 năm 1818 |
| Tiền nhiệm | Marie xứ Heesen-Kassel |
| Kế nhiệm | Désirée Clary |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 22 tháng 3 năm 1759 Eutin, Giáo phận vương quyền xứ Lübeck (nay là Đức) |
| Mất | 20 tháng 6 năm 1818 (59 tuổi) Stockholm, Thụy Điển |
| An táng | Nhà thờ Riddarholmen |
| Phối ngẫu | |
| Hậu duệ | Vương nữ Lovisa Hedvig Vương tử Karl Adolf, Công tước xứ Värmland |
| Hoàng tộc | Holstein-Gottorp |
| Thân phụ | Friedrich August I, Công tước xứ Oldenburg |
| Thân mẫu | Ulrike Friederike Wilhelmine xứ Hessen-Kassel |
| Tôn giáo | Giáo hội Luther |
| Chữ ký | |
Hedwig Elisabeth Charlotta xứ Holstein-Gottorp (tiếng Thụy Điển: Hedvig Elisabet Charlotta; 22 tháng 3 năm 1759 – 20 tháng 6 năm 1818) là Vương hậu Thụy Điển và Na Uy với tư cách là phối ngẫu của Karl XIII của Thụy Điển. Bà còn là người viết nhật ký, hồi ký nổi tiếng, và được biết đến với cái tên Hedwig Elisabeth Charlotta, mặc dù cái tên chính thức của bà với tư cách là Vương hậu là Charlotta.
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]Hedwig Elisabeth Charlotta sinh ra và lớn lên tại Eutin, là con gái của Công tước Friedrich August I xứ Holstein-Gottorp và Ulrike Friederike Wilhelmine xứ Hessen-Kassel. Bà kết hôn với anh họ mình là Karl, Công tước xứ Södermanland tại Stockholm vào ngày 7 tháng 7 năm 1774 khi mười lăm tuổi. Cuộc hôn nhân được sắp đặt bởi Vua Gustav III để cung cấp cho ngai vàng Thụy Điển một người thừa kế. Tuy nhiên, Nhà vua đã không hoàn thành cuộc hôn nhân của mình và quyết định giao nhiệm vụ cung cấp người thừa kế ngai vàng cho em trai.
Công tước phu nhân xứ Södermanland
[sửa | sửa mã nguồn]
Vương tử Karl nhìn thấy Charlotta lần đầu tiên tại Eutin vào năm 1770, và nhận xét rằng công nữ rất xinh đẹp. Cuộc hôn nhân được đề xuất vào năm 1772, và buổi lễ đầu tiên được diễn ra tại Wismar vào ngày 21 tháng 6 năm 1774. Charlotta đặt chân đến Thụy Điển vào ngày 3 tháng 6 và tiến vào Stockholm bằng sà lan hoàng gia Vasaorden vào ngày 7 tháng 6. Lễ cưới diễn ra vào cùng đêm, theo sau đó là buổi dạ hội hóa trang tại Kungsträdgården. Charlotta nổi tiếng vì vẻ đẹp, khi vòng eo của bà chỉ có 48 cm (19") và cỡ giày 31 (cỡ giày nữ 13), và vì cuộc hôn nhân của Quốc vương vẫn chưa trọn ven sau chín năm, nên Charlotta được hy vọng là sẽ sinh ra được người thừa kế ngai vàng.



Vào tháng 1 năm 1775, có những dấu hiệu cho thấy Charlotta đã mang thai. Mọi người hy vọng rằng vấn đề kế vị đã được giải quyết, và những buổi cầu nguyện liền được tổ chức tại các nhà thờ. Tuy nhiên, các dấu hiệu sớm được chứng minh là sai. Tin tức về việc mang thai giả cũng khiến Nhà vua quyết định hoàn tất cuộc hôn nhân và đích thân cung cấp một người thừa kế ngai vàng.
Charlotta thành công nhờ tính khí vui vẻ và trở thành trung tâm của triều đình, nơi bà từng được gọi một cách không chính thức là "Nữ công tước nhỏ", và được chú ý bởi vẻ đẹp, sự hoạt bát, hóm hỉnh và khả năng ăn nói lưu loát. Với những phẩm chất này, Charlotta đã đáp ứng được hình mẫu lý tưởng đương thời. Trái ngược với Vương hậu Sophie Magdalene nhút nhát, "Nữ công tước Lotta" hoạt bát, hóm hỉnh và quyến rũ, và theo nhiều cách, bà trở thành trung tâm nữ trong triều đình. Charlotta được nhận xét rằng: "Không thể tưởng tượng được điều gì hoạt bát và vui vẻ hơn thế. Cô ấy là hiện thân của niềm vui. Niềm vui lớn nhất của cô ta là pha trò và làm những điều ngớ ngẩn. Sẽ thật tốt nếu cô ta tiếp thu phong tục đó, vì quốc gia có phần u sầu của chúng ta cần được vui vẻ hơn."[1]

Charlotta tham gia vào nhà hát nghiệp dư, một phần quan trọng tại triều đình dưới thời trị vì của Gustav III, với tư cách là diễn viên và vũ công. Một số người coi điệu nhảy của Charlotta là phản cảm, vì trong thời đại này các vũ công ba lê bị coi là gái điếm.[2] Sau khi bị chỉ trích rằng bà và Vương nữ Sofia Albertina đã khiến Nhà vua sao nhãng khỏi việc triều chính bằng việc theo đuổi thú vui, Charlotta đã rút lui khỏi sân khấu vào năm 1783.[3]
Cuộc hôn nhân của Charlotta lạnh nhạt, và cả bà và chồng đều có mối quan hệ ngoài luồng. Karl quan tâm đến những người tình hơn vợ của mình, vào thời điểm họ kết hôn, ông đang trong mối quan hệ với Augusta von Fersen. Tình bạn thân thiết của Charlotta với Bá tước phu nhân Sophie von Fersen gây ra những tin đồn rằng bà là người song tính. Dù đúng hay sai, nhưng tin đồn vẫn được lặp lại trong suốt thời gian Charlotta trở thành Công tước phu nhân, bởi cả Francisco de Miranda vào năm 1786 và sau đó là Friederike xứ Baden. Từ năm 1783, Charlotta có mối quan hệ lâu dài với Bá tước Carl Piper, người mà chính bà gọi là người tình của mình trong thư từ bí mật gửi cho Sophie von Fersen.[4]
Trong số những người tình được cho là của Charlotta có Bá tước Axel von Fersen, người cũng được cho là tình nhân của Vương hậu Maria Antonia. Không rõ từ khi nào mối tình của Charlotta với Axel von Fersen xảy ra, nhưng chỉ biết rằng bà muốn nối lại mối quan hệ khi Fersen trở về Thụy Điển sau cái chết của Maria Antonia và Fersen đã từ chối.[1] Người ta cho rằng đây chỉ là một mối tình tạm thời xảy ra trong thời gian triều đình ở lại Lâu đài Gripsholm vào mùa hè năm 1784.[5] Charlotta cũng có mối quan hệ với em trai của Axel von Fersen là Bá tước Fabian von Fersen[6] Mối quan hệ của bà với Fabian von Fersen được cho là bắt đầu vào cuối những năm 1780[5] bị ngừng lại với cuộc hôn nhân của von Fersen vào năm 1797.[7] Vào thời điểm đó, mọi người đồn rằng việc mang thai, kết thúc bằng lần sảy thai vào năm 1792 (và được Hedvig Elisabeth Charlotta gọi là lần mang thai thực sự đầu tiên) là do Fabian von Fersen gây ra.[5] Những tin đồn về mối quan hệ ngoài hôn nhân của Charlotta được rất nhiều sự chú ý trong lần mang thai thứ hai vào năm 1797,[8] khi bà sinh ra một con gái chết lưu. Vào năm sau đó, Charlotta hạ sinh một con trai nhưng chỉ thọ sáu ngày tuổi.
Charlotta thờ ơ với chuyện của chồng vì nó cho bà cơ hội được sống tự do hơn, và bày tỏ sự thất vọng khi việc chồng thiếu đi tình nhân làm ông quay sang chú ý đến mình nhiều hơn. Điều này khiến Charlotta phải chịu sự nghi ngờ và buộc tội của ông: "Miễn là ngài có tình nhân, mọi thứ đều tốt hơn, nhưng kể từ khi người cuối cùng bị lưu đày vì bà cho phép mình hỗn xược với Nhà vua, và ông không tìm được người tình mới, tính khí của ông trở nên tệ hơn, và ta phải chịu đựng những cơn bùng nổ hàng ngày vì điều này, thậm chí còn xảy ra trước mặt các người hầu cận. Sự thù địch này tăng lên rất nhiều trong mùa đông đến nỗi ta đã đạt đến giới hạn của sự kiên nhẫn."[9] Charlotta bày tỏ quan điểm của mình về tình yêu và tình dục. Gustav III đã nghiên cứu một số lá thư của người mẹ quá cố cùng với những người khác, vì chúng chứa thông tin liên quan đến mối tình được cho là giữa Vương hậu Luise Ulrike và Bá tước Carl Gustaf Tessin, và những lời phàn nàn từ Vua Adolf Frederik về sự quan tâm mà Tessin dành cho vợ của mình:
"Không còn nghi ngờ gì nữa, những tờ giấy này có thể đưa ra lý do để suy ngẫm; nó khiến tôi phải cân nhắc đến việc một người phụ nữ đáng thương dễ bị phán xét như thế nào và thật bất hạnh khi có một trái tim tràn đầy cảm xúc, vì bản chất dịu dàng vừa là bất hạnh vừa là phước lành, và không con người nào có thể cưỡng lại sức mạnh của tình yêu, mặc dù đôi khi tình bạn phải là niềm an ủi cho người khôn ngoan, đúng vậy, không gì đúng hơn dòng chữ khắc trên hình ảnh của Chúa Tình yêu: 'Này bạn, đây mới là chủ nhân thực sự của bạn, ông ấy đã, đang và sẽ mãi mãi là như vậy.' Bạn phải thừa nhận, bạn thân mến của tôi, rằng phụ nữ thực sự là một tạo hóa bất hạnh: trong khi đàn ông có được sự tự do hoàn toàn, thì họ luôn bị gánh nặng bởi định kiến và hoàn cảnh; bạn có thể nói rằng đàn ông cũng có sự cản trở đó, nhưng không ở mức độ ngang nhau. Tôi tin rằng hầu hết phụ nữ sẽ không yêu cầu gì hơn là được biến đổi thành đàn ông để thoát khỏi sự ràng buộc bất hạnh và tận hưởng sự tự do trọn vẹn của họ."[10]
Năm 1782, Charlotta tham gia với tư cách là người hòa giải trong quá trình giảng hòa giữa Gustav III và mẹ ông khi bà hấp hối sau khi họ xung đột từ năm 1778, khi Thái hậu ủng hộ tin đồn rằng Thái tử là con ngoài giá thú và là con trai của Bá tước Adolf Fredrik Munck af Fulkila.[11]
Trong Chiến tranh Nga-Thụy Điển (1788–90), Hedvig Elisabeth Charlotta tham gia chính trường. Đồng minh của Thụy Điển là Pháp không hài lòng về cuộc chiến, và Gustav III đã giao cho bà nhiệm vụ làm trung gian trong các cuộc đàm phán của ông với đại sứ Pháp.[12] Hợp tác với con gái của đại sứ, người bạn của bà là Camille du Bois de la Motte, bà xử lý thư từ giữa quốc vương và đại sứ, sắp xếp các cuộc họp bí mật giữa họ và làm chứng cho cả hai theo yêu cầu của Nhà vua.[12] Điều này gây ra rạn nứt giữa Charlotta và Nhà vua khi bà nhận ra rằng thực tế bà đã bị lợi dụng để đánh lạc hướng đại sứ. Adolf Fredrik Munck sau đó đã bôi nhọ Charlotta trong mắt Nhà vua bằng cách tuyên bố rằng Pháp đã được thông báo về các kế hoạch chiến tranh của Thụy Điển thông qua tình bạn của bà với Camille du Bois de la Motte.[12] Biết rằng thư của mình đã bị đọc, Charlotta giữ bí mật thư từ thông qua mạng lưới người đưa tin của riêng mình.[13]
Trong kỳ họp Riksdag năm 1789, Charlotta có mặt cùng chị dâu Sofia Albertina trong các phiên họp qua một cửa sổ bí mật hướng ra hội trường.[14] Đạo luật Liên minh và An ninh đặt Nhà vua vào thế đối lập với giới quý tộc. Các thành viên nữ của giới quý tộc, do Jeanna von Lantingshausen lãnh đạo, đã phát động một cuộc biểu tình chính trị trong một cuộc tẩy chay toàn xã hội đối với quốc vương bằng cách từ chối tham gia vào cuộc sống triều đình của ông trong khi vẫn tiếp tục đến thăm Hedvig Elisabeth Charlotta và chị dâu Sofia Albertina, những người được biết là phản đối Đạo luật An ninh, và đã thể hiện bản thân bằng cách từ chối tham gia vào việc đại diện.[15] Điều này có hiệu quả, vì Vương hậu Sophie Magdalene là người sống ẩn dật còn Hedvig Elisabeth Charlotta và Sofia Albertina luôn thực hiện hầu hết các đại diện tại triều đình, và Nhà vua đã cáo buộc bà lãnh đạo: "Một đội cận vệ đặt mình lên trên mọi quyền lực. Họ quyến rũ các giác quan bằng vẻ đẹp và tài năng của mình và thống trị các quan điểm và sở thích".[16] Cuộc biểu tình thực sự đã dừng lại khi Nhà vua trục xuất Jeanna von Lantingshausen khỏi triều đình và từ chối mọi liên lạc với em gái và em dâu.
Hedvig Elisabeth Charlotta có một mạng lưới những người có ảnh hưởng mà bà đã giúp đỡ, và những người này ngược lại giúp đỡ bà: trong số đó có Erik Ruuth, Rutger Macklier, Jacob De la Gardie, Gustaf Mauritz Armfelt và Gustaf Adolf Reuterholm, người mà Charlotta duy trì mối quan hệ thông qua hoạt động là một thành viên Hội Tam Điểm. Bà hỗ trợ Reuterholm trên con đường trở thành nhiếp chính trên thực tế, trong thời kỳ nhiếp chính ngắn ngủi của Gustav IV Adolf.[16] Trong Riksdag năm 1789, Charlotta ủng hộ Adolf Ludvig Stierneld làm lãnh đạo phe đối lập, và khi ông bị cầm tù, bà đã nhờ Gustaf Mauritz Armfelt yêu cầu Gustav III thả tự do cho Stierneld.[17]
Vào mùa thu năm 1789, Hedvig Elisabeth Charlotta đóng vai trò trung tâm trong âm mưu phế truất Gustav III và đưa chồng bà là Công tước Karl lên ngôi.[12] Lý tưởng của bà là Hiến pháp Thụy Điển năm 1772, mà bà coi là một công cụ tốt cho một tầng lớp quý tộc khai sáng, và cuộc chiến tranh cùng Đạo luật Liên minh và An ninh đưa bà trở thành một phần lãnh đạo của phe đối lập. Bà đã hợp tác với Vương tử Fredrik Adolf của Thụy Điển và Gustaf Adolf Reuterholm.[12] Kế hoạch là buộc Karl phải hành động như một biểu tượng của phe đối lập khi thời điểm thích hợp. Tuy nhiên, khi thời điểm đến để Karl hành động, ông đã từ chối và điều này thực sự chấm dứt cuộc đảo chính.[12]
Năm 1792, chồng bà trở thành nhiếp chính khi cháu trai ông là Gustav IV Adolf còn nhỏ. Quyền lực thực sự nằm trong tay người được ông sủng ái, Bá tước Gustaf Adolf Reuterholm, và bà không có ảnh hưởng gì đến nhiếp chính.[18] Vào năm 1798–99, hai vợ chồng có chuyến đi tới Đức và Áo và ghé thăm Carlsbad, Berlin, Vienna và Hamburg.[19] Năm 1800, cặp đôi Công tước thành lập một nhà hát nghiệp dư tại cung điện Dramatiska akademien, nhưng đã bị quốc vương cho đóng cửa.[20]
Vương hậu Thụy Điển
[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1809, cặp đôi công tước được đưa lên ngai vàng sau cuộc đảo chính năm 1809, khiến Gustaf IV Adolf bị phế truất. Trong cuộc đảo chính, Charles de Suremain đã nghe thấy Charlotta thốt lên: "Ta không muốn trở thành Vương hậu!",[21] và sau đó nói rằng bà cảm thấy xấu hổ khi đã thế chỗ.[22]
Khi Karl được thông báo rằng mình đã lên ngôi vua, Charlotta nói với chồng rằng bà sẽ trở thành cố vấn và người bạn tâm giao đáng tin cậy, nhưng tránh xa các vấn đề của nhà nước.[23] Trong thời gian trị vì của Karl, Charlotta đã đến thăm chồng mình trong phòng ngủ mỗi sáng để nói chuyện.[24] Bà được Nhà vua trao vương miện vào ngày 29 tháng 6 năm 1809. Tại lễ đăng quang, Charlotta được miêu tả là duyên dáng và trang nghiêm, nhưng vẫn giữ được sự hoạt bát và vui vẻ thường thấy.
Mặc dù tự mình phủ nhận, Vương hậu vẫn được những người đương thời tin rằng bà có ảnh hưởng chính trị lớn.[25] Vương hậu Hedwig Elisabeth Charlotta đã tổ chức một buổi tiệc, được gọi là "Bàn xanh" (màu của khăn trải bàn), nơi phụ nữ thảo luận về chính trị trong khi may vá.[26]
Charlotta cảm thấy thương cảm cho cựu Vương hậu Friederike xứ Baden và đã đến thăm cháu dâu khi đang bị quản thúc tại gia.[27] Bà đã làm việc để giúp cựu gia đình hoàng gia được thả tự do.[28] Nhờ nỗ lực của Charlotta, cựu vương Gustav IV đã được đoàn tụ với gia đình sau khi bị quản thúc riêng biệt.[29]
Trong các cuộc đàm phán về việc kế vị ngai vàng, Charlotta ủng hộ Đảng Gustav, những người mong muốn con trai của Nhà vua bị phế truất, cựu Thái tử Gustav, được công nhận là người thừa kế ngai vàng.[30] Trong một bữa tối, Tướng Nam tước Georg Adlersparre nói với Vương hậu rằng Jean Baptiste Bernadotte đã hỏi ông rằng liệu Nhà vua (Karl XIII) có con cái nào không, và tỏ ra quan tâm khi thấy rằng Nhà vua không có. Khi Charlotta nhận xét rằng ngai vàng có người thừa kế là con trai của Nhà vua bị phế truất, Adlersparre tuyên bố rằng không ai trong số những kẻ chủ mưu đảo chính sẽ chấp nhận điều này, vì họ sợ rằng cậu bé sẽ trả thù cho cha mình khi ông lên ngôi, và để ngăn chặn điều này, họ sẽ đi xa hơn nữa bằng cách đưa ra tin đồn cũ rằng Gustaf IV Adolf thực tế là con trai ngoài giá thú của Vương hậu Sophie Magdalene và Bá tước Adolf Fredrik Munck af Fulkila.[31]
Những ứng cử viên khác cho vị trí người thừa kế ngai vàng là Tướng Pháp Jean Baptiste Bernadotte, Thân vương Peter xứ Holstein-Gottorp và Thân vương Đan Mạch Karl August xứ Augustenburg. Charlotta tỏ ra hoài nghi trong mọi trường hợp vì lợi ích của nền độc lập Thụy Điển, vì bà lo sợ rằng Thụy Điển sẽ trở thành một phần của Đế quốc Pháp dưới thời Bernadotte, hoặc Đế quốc Nga (vì Peter xứ Holstein kết hôn với một người Nga), hoặc một phần phụ thuộc của Đan Mạch. Tại một cuộc gặp gỡ trong vườn với Adlersparre, Charlotta tuyên bố: "Ta rất vui khi là người Thụy Điển và ta không muốn trở thành người Pháp, người Nga hay người Đan Mạch."[32] Cuối cùng Augustenburg đã được chọn. Ông được kỳ vọng sẽ mang Na Uy đến với Thụy Điển để thay thế cho Phần Lan, vốn được nhượng lại cho Đế quốc Nga theo Hiệp ước Fredrikshamn năm 1809 và trở thành Đại công quốc Phần Lan tự trị.
Người ta không biết Charlotta có ảnh hưởng gì đến cải cách hiến pháp năm 1809 hay không, mặc dù bà được biết là đã thảo luận về vấn đề này với một số chính khách. Charlotta tuyên bố rằng bà không thích sự chia rẽ đảng phái nhưng cũng không thích chế độ quân chủ chuyên chế, và mong muốn công chúng quyết định về các vấn đề liên quan đến họ thông qua "những đại diện được bầu".[33]
Trước khi Augustenburg đến, Nhà vua bị đột quỵ và không thể trị vì, sau đó Charlotta đã chủ trì hội đồng thay mặt Nhà vua một cách không chính thức.[34] Đảng Gustav yêu cầu bà chấp nhận chức nhiếp chính, loại trừ Augustenburg mới được bổ nhiệm và nhận cựu Thái tử Gustav làm người thừa kế.[35]
Người ta lo sợ một cuộc đảo chính của Charlotta và những người theo phái Gustav. Adlersparre, người đã đến sau khi chuẩn bị cho sự xuất hiện của Augustenburg, gặp bà bên ngoài phòng ngủ của Nhà vua. Adlersparre hỏi:
- - "Có lẽ thần không dám đến gần Bệ hạ nữa?"
- - "Tại sao vậy?" "Ta sợ rằng Bệ hạ đang giận ta?" Bà cười và trả lời:
- - "Sao người lại hỏi thần câu hỏi như vậy? Tại sao người lại ở đây?" Adlersparre trả lời rằng ông đến để nhận chỉ thị của Nhà vua về người thừa kế và để Augustenburg được hỏi ý kiến chung về ông. Charlotta yêu cầu ông nói với Augustenburg rằng không được có thành kiến với bất kỳ ai. Sau khi nhận được sự cho phép của Nhà vua để đưa Augustenburg đến Thụy Điển, Adlersparre đã hỏi ý kiến của Vương hậu. Bà nhận xét rằng ông vẫn chưa đến, cũng không trả lời trực tiếp rằng ông có muốn ngai vàng hay không. Adlersparre trả lời:
- - "Có lẽ ngài ấy sẽ không đến, và khi đó Bệ hạ có thể đóng vai trò giống như Nữ hoàng Nga", ám chỉ Yekaterina Đại đế, người đã cướp ngôi từ chồng mình. Charlotta trả lời:
- - "Ta chưa bao giờ muốn có quyền lực, ta không như bà ta, người đã giết chồng mình hay bất kỳ Hoàng tử Ivan nào, ta cũng không thể làm điều như vậy. Ta không muốn bị nói chuyện bằng giọng điệu như vậy." Adlersparre trả lời:
- - "Bệ hạ nói đúng, làm quốc vương quả thực không phải là một điều may mắn."
- [36]
Charlotta từ chối lời đề nghị làm nhiếp chính, và cuộc đảo chính không bao giờ diễn ra. Chính khách Carl Johan Adlercreutz tuyên bố rằng, nếu Nhà vua qua đời, vấn đề sẽ khác: "Nếu Vua Karl XIII qua đời, trước khi hòa bình với Đan Mạch được thực hiện và Kristian August vẫn còn ở Na Uy, Vương hậu Charlotta, người nhiệt tình ủng hộ các kế hoạch của Đảng Gustav, sẽ đóng một vai trò đáng kể."[35]
Bà coi Augustenburg là người tốt bụng nhưng thô lỗ. Ông tuyên bố sẵn sàng nhận cựu Thái tử Gustav làm người thừa kế.[37] Augustenburg, người được công chúng yêu mến, qua đời vào năm 1810. Những người chống lại phe Gustav tung tin đồn rằng ông đã bị đảng Gustav ám sát.
Những tờ rơi được lưu hành trong thủ đô tuyên bố rằng Thái tử đã bị người thuộc phe Gustav sát hại và Vương hậu đáng bị treo cổ.[38] Bá tước theo phái Gustav Axel von Fersen Trẻ bị hành hình, bị nghi ngờ có liên quan đến vụ giết người bị cáo buộc. Đám đông sau đó tìm kiếm em gái của Fersen, Nữ bá tước Sophie Piper, người là bạn thân của Vương hậu và được cho là có ảnh hưởng đến bà.[39] Đám đông được thông báo rằng Piper đang ở cùng Vương hậu tại Cung điện Haga.
Vương hậu Charlotta và các nữ quan ở Haga mà không có lính canh, và có nỗi lo sợ rằng bà sẽ bị tấn công. Bà được khuyên không nên vào thị trấn, và thuyền được gửi đến để giúp họ di tản nếu đám đông tiến đến Haga. Charlotta quyết định rời đi mà không có người hộ tống. Nữ bá tước Wilhelmina Taube, nữ quan của Charlotta đã bảo bà không làm vậy, và bà đã trả lời: "Cô là một kẻ hèn nhát, Mina! Cô sợ; ta sẽ đi một mình! Ta không sợ cái chết. Ta có thể thách thức nó, và ta sẽ chết như Marie Antoinette. Chúng ta hãy rời đi!"[40] Những người phụ nữ thuyết phục Charlotta ở lại, và khi bà yêu cầu họ rời đi, họ cũng yêu cầu được ở lại. Cuối cùng, không có chuyện gì xảy ra. Bất chấp sự phản đối, Charlotta ủng hộ việc minh oan cho Sophie Piper, và điều này không được ủng hộ.[41]
Cuộc bầu cử người thừa kế ngai vàng mới được tổ chức tại Örebro. Charlotta ủng hộ cựu Thái tử Gustav đầu tiên và sau đó là Peter xứ Holstein. Người ta quyết định rằng Vương hậu sẽ bị giới hạn trong Cung điện Strömsholm trong suốt cuộc bầu cử vì niềm tin chung rằng bà sẽ can thiệp.[42]
Khi Jean Baptiste Bernadotte được bầu cử, chính phủ cử Fredrik August Adelswärd làm đại diện để thông báo cho Charlotta. Ông nói rằng ông hiểu được sự thất vọng của Vương hậu, vì Bernadotte không phải là người thuộc dòng dõi hoàng gia, nhưng yêu cầu bà giả vờ vui mừng vì sức khỏe của Nhà vua, người sợ rằng bà sẽ làm phật lòng.[43] Charlotta trả lời rằng bà thấy hạnh phúc với bất kỳ ai có thể mang lại sự ổn định: "Đó sẽ là người phù hợp, và anh ta sẽ tìm thấy một người bạn trung thành ở ta. Nếu anh cũng có tài năng và tấm lòng tốt, thì dòng dõi của anh chẳng có ý nghĩa gì với ta."[43] Charlotta xin phép đi đến Örebro và tuyên bố: "Ta không can thiệp vào chính trị, mặc dù mọi người có thể nói khác."[43]
Bernadotte đã tạo ấn tượng rất tốt với Charlotta, và mối quan hệ của họ cũng rất tốt đẹp. Trong lần gặp đầu tiên, Bernadotte nói với Charlotta: "Thưa người, thần hiểu rõ hơn ai hết cảm xúc mà sự xuất hiện của thần mang lại cho người, nhưng xin hãy nhớ rằng, vị Quốc vương đầu tiên là một người lính, người đã được hưởng lợi từ thành công!" Charlotta trả lời rằng: "Chúng ta đừng nói về điều đó bây giờ, ngài đã đạt được thành công của mình, điều đó đáng giá hơn là được sinh ra trong nhung lụa."[44] Bernadotte đã hỏi Charlotta lời khuyên và thảo luận các vấn đề quốc sự với bà.[45] Ông còn hỗ trợ bà trong việc sắp xếp tang lễ cấp nhà nước cho Axel von Fersen.[46] Năm 1811, Charlotta được hội đồng yêu cầu thuyết phục Nhà vua bổ nhiệm Bernadotte làm nhiếp chính và thuyết phục ông chấp nhận chức vụ này, và bà đã làm như vậy.[47]
Vương hậu Charlotta mô tả Désirée Clary là người tốt bụng, hào phóng và dễ chịu và không phải là người hay toan tính, nhưng cũng chưa trưởng thành và là "đứa trẻ hư hỏng",[48] người ghét tất cả các yêu cầu và không thể đảm nhận bất kỳ hình thức đại diện nào.[49]

Charlotta mô tả Désirée là "một phụ nữ rất kiểu Pháp", người không thích và phàn nàn về mọi thứ không theo kiểu Pháp, và "do đó, cô ấy không được yêu mến."[50]
Bernadotte ra lệnh dỡ bỏ mọi thứ gợi nhớ đến người dân Thụy Điển về vương thất đã bị phế truất.[51] Quan điểm theo phái Gustav của Charlotta đã khiến những người chống Gustav hướng sự nghi ngờ của Bernadotte sang bà, và bà buộc phải ngừng trao đổi thư từ với cựu Vương hậu Friederike,[52] nhưng vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với Bernadotte. Bà ủng hộ kế hoạch chinh phục Na Uy của Bernadotte, và trở thành Vương hậu Na Uy vào năm 1814. Vào năm 1816–1817, thống đốc Nam tước Olof Rudolf Cederström đã cố liên lụy bà vào một âm mưu đầu độc được cho là nhằm vào Trữ quân và con trai.[53] Charlotta đã thẩm vấn Nam tước về tội vu khống, nhưng việc này dẫn đến rạn nứt trong mối quan hệ với Trữ quân, mặc dù nó làm sâu sắc thêm mối quan hệ của bà với Vương tử Oscar, người đã đứng về phía bà trong vụ việc.[54]
Sau cái chết của Karl XII, Charlotta được cho là đã nói rằng bà không thể sống nổi sau khi chồng qua đời. Sau đám tang của Karl, một xung đột lớn được cho là đã diễn ra giữa Thái hậu và vị Tân vương. Sau bữa tối riêng với Nhà vua, Charlotta lui về phòng để viết, và ngay đêm hôm đó bà ngã quỵ và qua đời.[55]
Di sản
[sửa | sửa mã nguồn]
Hedwig Elisabeth Charlotta được biết đến với cuốn nhật ký nổi tiếng của bà, một nguồn tư liệu lịch sử có giá trị miêu tả triều đình Hoàng gia Thụy Điển từ tháng 8 năm 1775 đến tháng 10 năm 1817.
Cuốn nhật ký được viết bằng tiếng Pháp và ban đầu (cho đến tháng 3 năm 1798) ở dưới dạng thư gửi cho người bạn thân thiết của bà, Bá tước phu nhân Sophie von Fersen, em gái của Axel von Fersen. Những lá thư chưa bao giờ được gửi đi, mà được viết dưới hình thức này như một lời tri ân dành cho Sophie von Fersen. Cuốn nhật ký được viết với ý định xuất bản, theo quy định của Vương hậu, năm mươi năm sau khi bà qua đời.[56] Nó được dịch sang tiếng Thụy Điển và xuất bản thành chín phần từ năm 1902 đến năm 1942: ba phần đầu được dịch bởi Carl Carlsson Bonde, các phần còn lại do Cecilia af Klercker dịch.
Nhật ký của Hedwig Elisabeth Charlotta đôi khi được sử dụng như nguồn tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu lịch sử Thụy Điển. Nó mô tả các sự kiện trong nước và quốc tế, đề cập đến nhiều chủ đề như tin đồn, âm mưu và các sự kiện xã hội diễn ra trong triều đình và tầng lớp quý tộc Thụy Điển cũng như các chủ đề chính trị, và cung cấp bức chân dung của những người đương thời. Cuốn nhật ký còn mô tả các sự kiện như Cách mạng Pháp năm 1789, Vụ ám sát Vua Gustav III năm 1792, Chiến tranh Napoléon và việc phế truất Gustav IV Adolf năm 1809. Bộ sưu tập của Hedwig Elisabeth Charlotta cũng bao gồm thư từ của bà cũng như nhiều tài liệu khác, một trong số đó được trích dẫn trong cuốn nhật ký được xuất bản bằng tiếng Thụy Điển.
Nhật ký của Hedwig Elisabeth Charlotta cũng được coi là không đáng tin cậy, một phần do thành kiến rõ ràng của bà đối với anh rể là Vua Gustav III.[57][58] Tuy nhiên cho đến nay, cuốn nhật ký đầy đủ mới chỉ được xuất bản bằng tiếng Thụy Điển.
Con cái
[sửa | sửa mã nguồn]- Lovisa Hedvig (Stockholm, 2 tháng 7 năm 1797). Chết lưu; được chôn cất tại Riddarholmskyrkan (Nhà thờ Riddarholm).
- Karl Adolf, Công tước xứ Värmland (Stockholm, 4 tháng 7 năm 1798 – 10 tháng 7 năm 1798). Thọ sáu ngày tuổi; được chôn cất tại Riddarholmskyrkan (Nhà thờ Riddarholm).
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 Alma Söderhjelm (1945). Gustav III:s syskon (Các em của Gustav III) Stockholm: Albert Bonniers Förlag, pp. 28-29. 23033 (tiếng Thụy Điển)
- ↑ Annie Mattson (2010). Komediant och riksförrädare. Handskriftcirkulerande smädeskrifter mot Gustav III (Diễn viên hài và kẻ phản bội. Những lời vu khống viết tay về Gustav III) (bằng tiếng Thụy Điển). Edita Västra Aros. tr. 103. ISBN 978-91-554-7780-6.
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1903) [1783–1788]. Bonde, Carl Carlson (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển II 1783–1788. Carl Carlson Bonde biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 15. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ My Hellsing (2013). Hovpolitik. Hedvig Elisabeth Charlotte som politisk aktör vid det Gustavska hovet (Chính trị triều đình. Hedvig Elisabeth Charlotte là một diễn viên chính trị tại triều đình Gustav) Örebro: Örebro universitet; ISBN 978-91-7668-964-6, tr. 145 (bằng tiếng Thụy Điển)
- 1 2 3 My Hellsing (2013). Hovpolitik. Hedvig Elisabeth Charlotte som politisk aktör vid det Gustavska hovet (Chính trị triều đình. Hedvig Elisabeth Charlotte là một diễn viên chính trị tại triều đình Gustav) Örebro: Örebro universitet; ISBN 978-91-7668-964-6, tr. 84 (bằng tiếng Thụy Điển)
- ↑ Alma Söderhjelm (1945). Gustav III:s syskon (Các em của Gustav III) Stockholm: Albert Bonniers Förlag. pp. 27-28. 23033 (tiếng Thụy Điển)
- ↑ Alma Söderhjelm (1945). Gustav III:s syskon (Các em của Gustav III) Stockholm: Albert Bonniers Förlag. tr. 45. 23033 (tiếng Thụy Điển)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1927) [1797–1799]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VI 1797–1799. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 20. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1902) [1775–1782]. Bonde, Carl Carlson (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển I 1775–1782. Carl Carlson Bonde biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 284. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1903) [1783–1788]. Bonde, Carl Carlson (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển II 1783–1788. Carl Carlson Bonde biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 73. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1902) [1775–1782]. Bonde, Carl Carlson (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển I 1775–1782. Carl Carlson Bonde biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 370. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- 1 2 3 4 5 6 My Hellsing (2013). Hovpolitik. Hedvig Elisabeth Charlotte som politisk aktör vid det Gustavska hovet (Chính trị triều đình. Hedvig Elisabeth Charlotte là một diễn viên chính trị tại triều đình Gustav) Örebro: Örebro universitet. ISBN 978-91-7668-964-6 (bằng tiếng Thụy Điển)
- ↑ My Hellsing (2013). Hovpolitik. Hedvig Elisabeth Charlotte som politisk aktör vid det Gustavska hovet (Chính trị triều đình. Hedvig Elisabeth Charlotte là một diễn viên chính trị tại triều đình Gustav) Örebro: Örebro universitet; ISBN 978-91-7668-964-6, tr. 10 (bằng tiếng Thụy Điển)
- ↑ My Hellsing (2013). Hovpolitik. Hedvig Elisabeth Charlotte som politisk aktör vid det Gustavska hovet (Chính trị triều đình. Hedvig Elisabeth Charlotte là một diễn viên chính trị tại triều đình Gustav) Örebro: Örebro universitet; ISBN 978-91-7668-964-6 (bằng tiếng Thụy Điển)
- ↑ My Hellsing (2013). Hovpolitik. Hedvig Elisabeth Charlotte som politisk aktör vid det Gustavska hovet (Chính trị triều đình. Hedvig Elisabeth Charlotte là một diễn viên chính trị tại triều đình Gustav) Örebro: Örebro universitet; ISBN 978-91-7668-964-6(bằng tiếng Thụy Điển)
- 1 2 My Hellsing (2013). Hovpolitik. Hedvig Elisabeth Charlotte som politisk aktör vid det Gustavska hovet (Chính trị triều đình. Hedvig Elisabeth Charlotte là một diễn viên chính trị tại triều đình Gustav) Örebro: Örebro universitet; ISBN 978-91-7668-964-6, tr. 5 (bằng tiếng Thụy Điển)
- ↑ My Hellsing (2013). Hovpolitik. Hedvig Elisabeth Charlotte som politisk aktör vid det Gustavska hovet (Chính trị triều đình. Hedvig Elisabeth Charlotte là một diễn viên chính trị tại triều đình Gustav) Örebro: Örebro universitet; ISBN 978-91-7668-964-6, tr. 6 (bằng tiếng Thụy Điển)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1920) [1793–1794]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển IV 1793–1794. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 72. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1927) [1797–1799]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VI 1797–1799. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 115–145. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1936) [1800–1806]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VII 1800–1806. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 53. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 323. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 395. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 396. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 453. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 568. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1942) [1812–1817]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển IX 1812–1817. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 545. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 358. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 414. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 377. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 355. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 352–353. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 401. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 457. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- 1 2 Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 461. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 462–464. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 506–07. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 548. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 537. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 549. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 551. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 568–69. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- 1 2 3 Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 580-581. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 607. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 660. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 617. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 666–67. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 636–37. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 705. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 654–55. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1942) [1812–1817]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển IX 1812–1817. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 11, 124. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1942) [1812–1817]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển IX 1812–1817. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 143. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1942) [1812–1817]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển IX 1812–1817. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 568–573. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1942) [1812–1817]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển IX 1812–1817. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 576, 613. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1942) [1812–1817]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển IX 1812–1817. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 657. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Charlottas, Hedvig Elisabeth (1902) [1775–1782]. Bonde, Carl Carlson (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển I 1775–1782. Carl Carlson Bonde biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. tr. 1. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- ↑ Lönnroth, Erik (1986). Den stora rollen. tr. 266–267. ISBN 91-1-863652-7.
- ↑ Landen, Leif (2004). Gustaf III en biografi. tr. 417. ISBN 91-46-21000-8.
Các tác phẩm được trích dẫn
[sửa | sửa mã nguồn]- Charlotta Bellamy & My Hellsing, Ma chère amie, Billets de la duchesse Charlotta de Sudermanie à Sophie de Fersen, Paris, Mercure de France, 2018.
- Andersson, Ingvar. Gustavskt (The Gustav age) (bằng tiếng Thụy Điển).
- Ingvar Andersson (1979). Gustavskt (Thời đại Gustav) (bằng tiếng Thụy Điển). Fletcher & Son Ltd. ISBN 91-46-13373-9.
- Charlottas, Hedvig Elisabeth (1903) [1783–1788]. Bonde, Carl Carlson (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển II 1783–1788. Carl Carlson Bonde biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- Charlottas, Hedvig Elisabeth (1936) [1800–1806]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VII 1800–1806. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
- Charlottas, Hedvig Elisabeth (1939) [1807–1811]. af Klercker, Cecilia (biên tập). Hedvig Elisabeth Charlottas dagbok [Nhật ký của Hedvig Elizabeth Charlotte] (bằng tiếng Thụy Điển). Quyển VIII 1807–1811. Cecilia af Klercker biên dịch. Stockholm: P.A. Norstedt & Söners förlag. OCLC 14111333. (tìm kiếm tất cả các phiên bản trên WorldCat)
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Hedvig Elisabeth Charlotta xứ Holstein-Gottorp tại Svenskt kvinnobiografiskt lexikon