Helen Hayes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Helen Hayes
Helenhayes32767v.jpg
Helen Hayes
Sinh Helen Hayes Brown
10 tháng 10, 1900(1900-10-10)
Washington, D.C., Hoa Kỳ
Mất 17 tháng 3, 1993 (92 tuổi)
Nyack, New York, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp Nữ diễn viên
Năm hoạt động 1905-1985
Vợ/chồng Charles MacArthur (1928–1956)
Con cái Mary MacArthur (1930-1949)
James MacArthur (1937-2010) (con nuôi)
Giải thưởng Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (1931)
Giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất(1970)
Primetime Emmy Awards|Outstanding Lead Actress (1953)
Tony Award for Best Actress in a Play (1947)
Special Tony Award|Lawrence Langner Memorial Tony Award (1980)

Helen Hayes Brown (10.10.1900 – 17.3.1993) là nữ diễn viên người Mỹ có sự nghiệp kéo dài tới gần 80 năm. Bà từng được mệnh danh là "Đệ nhất phu nhân của Kịch nghệ Hoa Kỳ" và là một trong số 12 diễn viên đã đoạt 4 giải quan trọng là Giải Oscar, Giải Emmy, Giải GrammyGiải Tony. Bà cũng được tổng thống Ronald Reagan trao tặng Huân chương Tự do Tổng thống - một huy chương cao quý nhất dành cho một thường dân (civilian) - trong năm 1986.[1] Năm 1988, bà được trao Huy chương quốc gia về Nghệ thuật (National Medal of Arts). Tên bà được đặt cho Giải Helen Hayes, một giải thưởng hàng năm dành cho những diễn viên kịch nghệ chuyên nghiệp xuất sắc ở vùng Washington, D.C. từ năm 1984. Năm 1955 tên của "Nhà hát Fulton" trên đường 46 thành phố New York thuộc khu Broadway được đặt lại là "Nhà hát Helen Hayes" theo tên bà. Khi nhà hát này bị phá bỏ 1982, thì "Little Theatre" gần bên đã được đặt lại theo tên bà.

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Helen Hayes sinh tại Washington D.C. ngày 10.10.1900. Mẹ của Hayes - Catherine Estelle (nhũ danh Hayes), hoặc Essie – là một nữ diễn viên có triển vọng, làm việc trong các công ty du lịch [2][3], còn cha là Francis van Arnum Brown, làm một số công việc khác nhau, trong đó có chân thư ký tại Cơ quan môn bài Washington, người quản lý và làm nhân viên bán hàng cho một cửa hàng bán buôn thịt[3][4]. Ông bà ngoại của Hayes là người Công giáo Ireland nhập cư vào Hoa Kỳ trong thời kỳ Ireland bị "Nạn đói lớn" (1845-1852)[5].

Hayes học ở Trường Thánh Tâm ở Washington và tốt nghiệp năm 1917[6].

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hayes trong phim What Every Woman Knows (1934)

Hayes bắt đầu sự nghiệp kịch nghệ từ khi mới 5 tuổi khi làm ca sĩ ở Nhà hát Belasco của Washington D.C.(trên quảng trường Lafayette, đối diện với Nhà Trắng)[7] Khi 10 tuổi, bà đã làm một phim ngắn tên là Jean and the Calico Doll.

Phim nói đầu tiên của Hayes là phim The Sin of Madelon Claudet và bà đã đoạt Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Sau đó Hayes diễn xuất trong các phim Arrowsmith (cùng với Myrna Loy), A Farewell to Arms (cùng với Gary Cooper), The White Sister (đóng cặp với Clark Gable), What Every Woman KnowsVanessa: Her Love Story.

Năm 1935 Hayes trở lại Sân khấu Broadway trong 3 năm, thủ vai chính trong vở Victoria Regina của Gilbert Miller cùng với Vincent Price (vai hoàng tử Albert), ban đầu diễn ở Nhà hát Broadhurst rồi sau đó ở Nhà hát Martin Beck.

Năm 1953, Hayes là người đầu tiên đoạt Giải thưởng Sarah Siddons về các vai diễn ở Nhà hát Chicago, đến năm 1969 bà lại đoạt giải này một lần nữa.

Hayes trở lại Hollywood trong thập niên 1950, tham gia các phim My Son John (1952) và phim Anastasia (1956). Việc diễn xuất của bà ở phim Anastasia được coi là sự trở lại với điện ảnh—Bà đã ngưng đóng phim nhiều năm do cái chết của cô con gái Mary, và sức khỏe sa sút của ông chồng bà.

Năm 1970 bà đoạt Giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất cho vai diễn người hành khách lậu vé trong phim Airport (1970), một phim về thảm họa. Sau đó bà đóng nhiều vai khác nhau trong các phim của Công ty Walt Disney như Herbie Rides Again, One of Our Dinosaurs is MissingCandleshoe.

Năm 1955 Nhà hát Fulton được đặt theo tên bà. Tuy nhiên, vì lợi ích kinh doanh, trong thập niên 1980 người ta muốn phá nhà hát này cùng 4 nhà hát khác để xây một khách sạn lớn với Nhà hát Marquis. Để thực hiện ý muốn phá nhà hát này cùng 3 nhà hát khác, cũng như khách sạn Astor, gìới kinh doanh đã được sự đồng ý của Hayes trong việc phá nhà hát mang tên bà, tuy bà không làm chủ nhà hát này. Phần đất của nhà hát Helen Hayes ở Broadway đã được sử dụng để xây Trung tâm Shakespeare ở Khu đất cao phía tây của Manhattan. Trung tâm này được hiến tặng cho Hayes và Joseph Papp năm 1982.[8] Năm 1983 Little Theater ở phía tây đường phố 45 được đặt tên lại là Nhà hát Helen Hayes để vinh danh bà, cũng như nhà hát ở Nyack, từ đó được đặt tên lại là Riverspace-Arts Center.

Không biết rõ từ lúc nào và ai đã gọi Hayes là "Đệ nhất phu nhân của sân khấu" (First Lady of the Theatre). Người bạn của bà, nữ diễn viên Katharine Cornell cũng mang danh hiệu này, và người ta cho rằng cả hai người đều xứng đáng với danh hiệu đó[9][10] Một nhà phê bình đã nói rằng Cornell đóng vai mỗi nữ hoàng như thể bà là một phụ nữ, còn Hayes đóng vai mỗi phụ nữ như thể bà là một nữ hoàng[9].

Năm 1982, cùng với bà bạn Đệ nhất phu nhân Bird Johnson, Hayes đã lập ra Trung tâm nghiên cứu Hoa dại quốc gia (National Wildflower Research Center), nay là Lady Bird Johnson Wildflower CenterAustin, Texas. Trung tâm này bảo vệ và bảo tồn thực vật bản địa của Bắc Mỹ và cảnh quan thiên nhiên[11].

Giải Helen Hayes cho sân khấu ở khu vực Washington D.C. được đặt theo tên bà. Bà có một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood ở 6220 Đại lộ Hollywood. Helen Hayes cũng là một thành viên của American Theatre Hall of Fame (Phòng danh vọng Sân khấu Mỹ).[12]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Hayes là tín đồ Công giáo[13][14], là đảng viên Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ) và từng tham dự nhiều Đại hội đảng Cộng hòa Mỹ (trong đó có một kỳ tổ chức ở New Orleans năm 1988), nhưng bà không có thiên hướng chính trị như những nghệ sĩ khác (như Adolphe Menjou, Ginger Rogers, John Wayne, Ronald Reagan vv…) trong cộng đồng Hollywood thời đó.

Hayes đã viết 3 quyển hồi ký: A Gift of Joy, On ReflectionMy Life in Three Acts. Một số đề tài trong các hồi ký này là sự trở lại đạo Công giáo (bà đã bị Giáo hội khước từ sự thông công khi kết hôn với MacArthur, một tín đồ Tin Lành đã ly dị vợ); và về cái chết vì bệnh bại liệt của người con gái duy nhất của bà là Mary - một nữ diễn viên có triển vọng - ở tuổi 19. Người con nuôi của Hayes -James MacArthur – cũng theo nghề diễn viên, đã diễn xuất trong phim Hawaii Five-O trên truyền hình. (bản thân Hayes cũng là diễn viên khách trong tập Hawaii Five-0 năm 1975, đóng vai người cô/dì của nhân vật MacArthur).

Hayes đã phải vào bệnh viện nhiều lần do bị suyễn, bệnh càng trầm trọng hơn do nhiễm bụi ở sân khấu, buộc bà phải rút lui khỏi sân khấu vào năm 1971, ở tuổi 71[15][16].

Lần trình diễn cuối cùng của bà trên sân khấu Broadway là trong năm 1970 trong vở Harvey, đóng cặp với James Stewart. Những năm cuối đời bà đã dành thời giờ để viết hồi ký và gom góp tiền cho các tổ chức đấu tranh chống bệnh hen suyễn.

Từ trần[sửa | sửa mã nguồn]

Hayes qua đời ngày 17.3.1993 – ngày lễ kính thánh Patrick - ở Nyack, New York do bị suy tim. Bà được an táng tại Nghĩa trang Oak Hill, Nyack, New York.[17]

Các đóng góp trong sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Kịch và Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kịch[18] Vai diễn[18][19] Ghi chú
1905 Miss Hawke's May Ball Irish Dancer
A Midsummer Night's Dream Peaseblossom
1908 Babe in the Woods Boy babe
1909 Jack the Giant Killer Gibson Girl, Nell Brinkley, Girl impersonators
A Royal Family Prince Charles Ferdinand
Children's Dancing Kermess Impersonation of "The Nell Brinkley Girl"
The Prince Chap Claudia, Age 5
A Poor Relation Patch
1910 Old Dutch Little Mime
The Summer Widowers Pacyche Finnegan, Pinkie's playmate
1911 The Barrier Molly, an Alaskan Child
Little Lord Fauntleroy Cedric Errol
The Never Homes Fannie Hicks, Another Near Orphan
The Seven Sisters Klara, the Youngest Daughter
Mary Jane's Pa
1912 The June Bride The Holder's Child
1913 Flood Victim's Benefit
The Girl with Green Eyes Susie, the Flower Girl
His House in Order Derek Jesson, his son
A Royal Family Prince Charles Ferdinand
The Prince Chap
The Prince and the Pauper Tom Canty and Edward, Prince of Wales
1914 The Prodigal Husband Young Simone
1916 The Dummy Beryl Meredith, the Kidnapper's Hostage
On Trial His Daughter, Doris Strickland
1917 It Pays to Advertise Marie, Maid at the Martins
Romance Suzette
Just a Woman Hired girl
Mile-a-Minute Kendall Beth
Rich Man, Poor Man Linda Hurst
Alma, Where Do You Live? Germain
Mrs. Wiggs of the Cabbage Patch Asia
Within the Law
Pollyanna Pollyanna Whittier, The Glad Girl
1918 Penrod
Dear Brutus Margaret, his daughter
1919 On the Hiring Line Dorothy Fessenden, his daughter
Clarence Cora Wheeler
The Golden Age
1920 Bab Bab
1921 The Wren Seeby Olds
The Golden Days Mary Ann
1922 To the Ladies Elsie Beebe
No Siree!: An Anonymous Entertainment by the
Vicious Circus of the Hotel Algonquin
1923 Loney Lee Loney Lee
1924 We Moderns Mary Sundale, their Daughter
The Dragon
She Stoops to Conquer Constance Neville
Dancing Mothers Catherine (Kittens) Westcourt
Quarantine Dinah Partlett
1925 Caesar and Cleopatra Cleopatra
The Last of Mrs. Cheyney Maria
Young Blood Georgia Bissell
1926 What Every Woman Knows Maggie Wylie
1927 Coquette Norma Besant
1928 Coquette Norma Besant phiên bản London
1930 Mr. Gilhooley A girl
Petticoat Influence Peggy Chalfont
1931 The Good Fairy Lu
1933 Mary of Scotland Mary Stuart
1935 Caesar and Cleopatra Cleopatra
Victoria Regina Victoria
1936 Victoria Regina Victoria Revival
1938 The Merchant of Venice Portia
Victoria Regina Victoria Revival
1939 Ladies and Gentlemen Miss Terry Scott
1940 Twelfth Night Viola
1941 Candle in the Wind Madeline Guest
1943 Harriet Harriet Beecher Stowe
1944 Harriet Harriet Beecher Stowe Revival
1947 Alice-Sit-By-The-Fire Mrs. Alice Grey
Happy Birthday Addie Tony Award for Best Performance by a Leading Actress in a Play
1948 The Glass Menagerie Amanda Wingfield
1949 Good Housekeeping
1950 The Wisteria Trees Lucy Andree Ransdell
1952 Mrs. McThing Mrs. Howard V. Larue III
1955 Gentleman, The Queens Catherine, Lady Macbeth, Mary and Queen Victoria
The Skin of Our Teeth Mrs. Antrobus
1956 Lovers, Villains and Fools Narrator, Puck and the Chorus from Henry V
The Glass Menagerie The Mother
1958 Time Remembered The Duchess of Pont-Au-Bronc Tony Award for Best Performance by a Leading Actress in a Play
1958 A Adventure Lulu Specer
Mid-Summer Rose, the Maid
A Touch of the Poet Nora Melody
1960 The Cherry Orchard Lyuboff Ranevskaya
The Chalk Garden Mrs. Maugham
1962 Shakespeare Revisited: A Program for Two Players
1964 Good Morning Miss Dove Miss Lucerna Dove
The White House Abigail Adams, Dolley Madison, Edith Wilson, Julia Grant, Leonora Clayton, Mary Todd Lincoln, Mrs. Benjamin Harrison, Mrs. Franklin Pierce, Mrs. Grover Cleveland, Mrs. James G. Blaine, Mrs. Theodore Roosevelt, Rachel Jackson
1965 Helen Hayes' Tour of the Far East
1966 The Circle
The School for Scandal Mrs. Candour
Right You Are If You Think You Are Signora Frola
We Comrades Three Mother
You Can't Take It With You Olga
1967 The Show-Off Mrs. Fisher Tony Award's Vernon Rice-Drama Desk Award
1968 The Show-Off Mrs. Fisher return engagement
1969 The Front Page Mrs. Grant
1970 Harvey Veta Louise Simmons Đề cử - Tony Award for Best Performance by a Leading Actress in a Play
1971 Long Day's Journey Into Night Mary Cavan Tyrone
1980 Tony Award's Lawrence Langner Memorial Award

Phim và Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn Ghi chú
1910 Jean and the Calico Doll mặc dù 'chưa được xác nhận' và cuộn phim đã không còn, nhưng có thể khi đóng phim này cùng với con chó Jean thì Hayes mới 9 tuổi
1917 The Weavers of Life Peggy
1928 The Dancing Town phim ngắn
1931 Arrowsmith Leora Arrowsmith
The Sin of Madelon Claudet Madelon Claudet Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
1932 A Farewell to Arms Catherine Barkley
The Son-Daughter Lian Wha 'Star Blossom'
1933 The White Sister Angela Chiaromonte
Another Language Stella 'Stell' Hallam
Night Flight Madame Fabian
1934 Crime Without Passion Extra in hotel lobby Uncredited
What Every Woman Knows Maggie Wylie
1935 Vanessa: Her Love Story Vanessa Paris
1938 Hollywood Goes to Town bản thân phim ngắn
1943 Stage Door Canteen bản thân
1952 My Son John Lucille Jefferson
1953 Main Street to Broadway bản thân
1956 Anastasia Dowager Empress Maria Feodorovna Đề cử — Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất
1959 Third Man on the Mountain khách du lịch Uncredited
1961 The Challenge of Ideas Người kể truyện phim ngắn
1970 Airport Ada Quonsett Giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
1974 Herbie Rides Again Mrs. Steinmetz Đề cử — Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất
1975 One of Our Dinosaurs is Missing Hettie
1977 Candleshoe Lady St. Edmund

Truyền hình và Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai diễn Ghi chú
1950 Showtime, U.S.A. Episode #1.1
The Prudential Family Playhouse The Barretts of Wimpole Street
Pulitzer Prize Playhouse Mary, Queen of Scots The Late Christopher Bean
1951 Pulitzer Prize Playhouse Mary, Queen of Scots Mary of Scotland
Schlitz Playhouse of Stars Dark Fleece
Schlitz Playhouse of Stars The Lucky Touch
Schlitz Playhouse of Stars Not a Chance
Robert Montgomery Presents Queen Victoria Victoria Regina
Đề cử — Emmy Award for Best Actress (nonspecific role)
1952 Omnibus The Twelve Pound Look
Đề cử — Emmy Award for Best Actress (nonspecific role)
1953 Omnibus The Happy Journey
Omnibus Mom and Leo
Christmas with the Stars
Medallion Theatre Harriet Beecher Stowe "Battle Hymn"
Emmy Award for Best Actress (nonspecific role)
1954 The United States Steel Hour Mrs. Austin Welcome Home
The Best of Broadway Fanny Cavendish The Royal Family
The Motorola Television Hour Frances Parry Side by Side
1955 Producers' Showcase Mrs. Antrobus The Skin of Our Teeth
The Best of Broadway Abby Brewster Arsenic and Old Lace
1956 Omnibus Dear Brutus
Omnibus The Christmas Tie
1957 The Alcoa Hour Mrs. Gilling and the Skyscraper
Đề cử - Primetime Emmy Award for Outstanding Lead Actress – Miniseries or a Movie|Emmy Award for Outstanding Lead Actress – Miniseries or a Movie
Playhouse 9 Sister Theresa Four Women in Black
1958 Omnibus Mrs. McThing
The United States Steel Hour Mother Seraphim One Red Rose for Christmas
Đề cử - Primetime Emmy Award for Outstanding Lead Actress – Miniseries or a Movie
1959 Hallmark Hall of Fame Essie Ah, Wilderness!
Play of the Week Madame Ranevskaya The Cherry Orchard
1960 The Bell Telephone Hour Baroness Nadedja von Meck The Music of Romance
Play of the Week Madame Ranevskaya The Velvet Glove
Dow Hour of Great Mysteries The Bat
1961 Michael Shayne Murder Round My Wrist
1963 The Christophers What One Bootmaker Did
1967 Tarzan Mrs. Wilson The Pride of the Lioness
1969 Arsenic and Old Lace Abby Brewster
1970 The Front Page Narrator
1971 Do Not Fold, Spindle, or Mutilate Sophie Tate Curtis Đề cử - Primetime Emmy Award for Outstanding Lead Actress – Miniseries or a Movie
1972 Harvey Veta Louise Simmons
Here's Lucy Mrs. Kathleen Brady Lucy and the Little Old Lady
Ghost Story Miss Gilden Alter-Ego
1973–1974 The Snoop Sisters Ernesta Snoop Đề cử - Emmy Award for Best Lead Actress in a Limited Series
1975 Hawaii Five-O Aunt Clara Retire in Sunny Hawaii - Forever
Đề cử - Emmy Award for Outstanding Lead Actress for a Single Appearance in a Drama or Comedy Series
1976 Arthur Hailey's the Moneychangers Dr. McCartney miniseries
Victory at Entebbe Etta Grossman-Wise
1978 A Family Upside Down Emma Long Đề cử - Primetime Emmy Award for Outstanding Lead Actress – Miniseries or a Movie
1980 The Love Boat Agatha Winslow 1 episode
1982 Love, Sidney Mrs. Clovis Pro and Cons
Murder is Easy Lavinia Fullerton
1983 A Caribbean Mystery Miss Marple
1984 Highway to Heaven Estelle Wicks
1985 Murder with Mirrors Miss Marple

Các giải thưởng và vinh dự khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo và Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Reagan, Ronald."Ronald Reagan: Remarks at the Presentation Ceremony for the Presidential Medal of Freedom - ngày 12 tháng 5 năm 1986" presidency.ucsb.edu, ngày 12 tháng 5 năm 1986, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  2. ^ "The Official Website of Helen Hayes: Biography" Helen Hayes.com, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  3. ^ a ă "Biography of Helen Hayes" Kennedy-Center.org, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  4. ^ "The Theatre:Helen Millennial" Time Magazine, ngày 30 tháng 12 năm 1935.
  5. ^ Rice, Jean."Helen Hayes (1900-1993),The First Lady [http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9F0CEFDF123DF93BA25750C0A965958260&sec=&spon=&pagewanted=2 "Helen Hayes, Flower of the Stage, Dies at 92"The New York Times (requires registration), ngày 18 tháng 3 năm 1993
  6. ^ "Helen Hayes" biography.yourdictionary.com, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  7. ^ Evely, Douglas E., Dickson, Paul, and Ackerman, S.J."The White House Neighborhood"On This Spot: Pinpointing the Past in Washington D.C. (2008), Capital Books, ISBN 1-933102-70-5, p.166
  8. ^ O'Haire, Patricia. "Dickens lends the Bard a Hand," The New York Daily News, ngày 13 tháng 9 năm 1982
  9. ^ a ă Mosel, p.unknown
  10. ^ "The Theatre: Great Katharine"Time Magazine, ngày 3 tháng 4 năm 1939
  11. ^ "About Us, History" Wildflower.org, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  12. ^ “Members of the American Theater Hall of Fame”. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ Hayes, Helen. My Life in Three Acts. Harcourt Brace Jovanovich: San Diego, CA, 1990, p.unknown
  14. ^ Hevesi, Dennis. "Helen Hayes Is Remembered in Church She Loved", The New York Times, ngày 21 tháng 3 năm 1993, p.45
  15. ^ Anderson, Ruth Nathan. "Helen Hayes Discovers She's Allergic to Dust," Boca Raton News, ngày 23 tháng 11 năm 1980
  16. ^ "Helen Hayes Biography" britannica.com, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  17. ^ Pace, Eric."Helen Hayes, Flower of the Stage, Dies at 92"The New York Times (requires registration), ngày 18 tháng 3 năm 1993
  18. ^ a ă "Helen Hayes Credits, Broadway" Internet Broadway Database, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  19. ^ "About Helen Hayes - Theater (Official site)" Helen Hayes.com, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  20. ^ http://www.jeffersonawards.org/pastwinners/national
  21. ^ "Helen Hayes Postage Stamp" beyondtheperf.com, ngày 25 tháng 4 năm 2011, accessed ngày 27 tháng 8 năm 2011
  • Mosel, Tad and Macy, Gertrude. Leading Lady: The World and Theatre of Katharine Cornell(1978), Little, Brown & Co, Boston, ISBN 0-316-58537-8
  • Murphy, Donn B. and Moore, Stephen. Helen Hayes; A Bio-Bibliography (1993)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]