Hermann xứ Reichenau

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một hình vẽ nghệ thuật của "Herman Người què" như cách thỉnh thoảng ông được gọi
Di vật của Hermann tại Altshausen, Đức
Salve Regina của Herman xứ Reichenau hát bởi Les Petits Chanteurs de Passy

Hermann xứ Reichenau (18 tháng 7 năm 1013 - 24 tháng 9 năm 1054) hay còn được gọi là Hermannus Contractus, Hermannus Augiensis, Herman Người què là một nhà soạn nhạc, nhà lý thuyết âm nhạc, nhà toán họcnhà vật lý. Ông đã sáng tác khúc cầu nguyện Maria Alma Redemptoris Mater.[1][2] Ông được phong chân phước (được xác nhận về mặt tôn giáo) vào năm 1863.

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Hermann là con trai của Bá tước của Altshausen. Ông trở nên bị què bởi một tai nạn liệt từ đầu thời thơ ấu. Ông sinh vào ngày 18 tháng 7 năm 1013 với tình trạng sứt môi, bại nãogai cột sống.[3] Tuy nhiên, dựa trên các bằng chứng nhiều học giả hơn gần đây đã chỉ ra rằng có lẽ Hermann bị xơ cứng teo não một bên hoặc teo cơ cột sống.[4][5] Như là một kết quả, ông gặp khó khăn lớn trong việc di chuyển và nói chuyện. Khi 7 tuổi, ông được đưa vào tu viện Benedict bởi người cha của mình vì cha ông không thể chăm sóc ông thêm. Ông lớn lên trong tu viện, học từ các tu sĩ phát triển một mối quan tâm đối với lý thuyếtthế giới.

Thời trưởng thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã dành hầu hết cuộc đời cua mình cho Đảo Reichenau, một đảo nhỏ trên BodenseeĐức. Hermann đã cống hiến cho cả bốn lĩnh vực của quadrivium. Ông được nhắc đến như là một nhà soạn nhạc (dựa vào các tác phẩm còn tồn tại của ông là các bản officia của St. AfraSt. Wolfgang). Ông cũng viết một tiểu luận về khoa học của âm nhạc, một số công trình về hình học, số họcthiên văn học (bao gồm các kiến thức cho việc tạo nên một thước trắc tinh, vào thời điểm đó là một thời điểm rất mới ở Tây Âu). Như là một nhà sử học, ông viết một biên niên sử rất chi tiết từ ngày sinh của Christ cho đến thời đại của ông, sắp xếp chúng sau khi tính toán thời kỳ của Christ. Một trong những môn đệ của Hermann là Berthold xứ Reichenau tiếp tục công việc đó.

Ở tuổi 20, Hermann được xác nhận là một tu sĩ dòng Benedict. Ông dành phần còn lại của cuộc đời mình trong một tu viện.[6] Ông có thể đọc trong một vài ngôn ngữ , bao gồm tiếng Ả Rập, tiếng Hy Lạp, tiếng Latin. Ông viết về toán học, thiên văn họcThiên Chúa giáo.[7] Ông đã tạo ra các nhạc cụ và các công cụ thiên văn đồng thời cũng là nhà thơ tôn giáo có tiếng. Khi ông trở thành trong phần cuối đời, ông bắt đầu viết các bài ca, tiêu biểu nhất chính là bài Salve Regina (Kính chào Nữ Vương).

Hermann đã chết trong một tu viện vào ngày 24 tháng 9 năm 1054 ở tuổi 40. Giáo hội Công giáo Roma phong thánh cho ông vào năm 1863.

Di sản và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

3 hay 5 bản giao hưởng đã được viêt bởi nhà soạn nhạc người Nga Galina Ustvolskaya dựa trên các văn bản của Hermann.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các nhà khoa học tăng lữ Công giáo

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Tradition of Catholic Prayer by Christian Raab, Harry Hagan 2007 ISBN 0-8146-3184-3 page 234
  2. ^ Handbook of Prayers by James Socías 2006 ISBN 0-87973-579-1 page 472
  3. ^ Catholic Fire: Saint of the Day: Blessed Herman the Cripple, Monk (1013–1054)
  4. ^ O'Connor, J. J., Robertson, E. F., "Hermann of Reichenau", MacTutor History of Mathematics archive, University of St. Andrew's
  5. ^ C Brunhölzl, "Thoughts on the illness of Hermann von Reichenau (1019–1054)", Sudhoffs Arch. 83 (2) (1999), 239-243.
  6. ^ Bl. Herman the Cripple - Catholic Online
  7. ^ Schlager, Patricius, "Hermann Contractus," The Catholic Encyclopedia (New York: Robert Appleton, 1910), retrieved ngày 13 tháng 5 năm 2014, from New Advent.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • McCarthy, T. J. H. Music, scholasticism and reform: Salian Germany, 1024–1125 (Manchester, 2009), pp. 23–30, 62–71. ISBN 978-0719078897.
  • The Musica of Hermannus Contractus. Edited and translated by Leonard Ellinwood. Revised with a new introduction by John L. Snyder (Rochester, NY: University of Rochester Press, 2015), xviii + 221 pp.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]