Hiếu Đức Hiển Hòang hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hiếu Đức Hiển Hoàng hậu
孝德顯皇后
Hàm Phong Đế Hoàng hậu
《孝德显皇后朝服像》.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Văn Tông
Hàm Phong hoàng đế
Thụy hiệu Hiếu Đức Ôn Huệ Thành Thuận Từ Trang Khác Thận Huy Ý Cung Thiên Tán Thánh Hiển Hoàng Hậu
(孝德溫惠誠順慈莊恪慎徽懿恭天贊聖顯皇后)
Thân phụ Phú Thái
Thân mẫu Ái Tân Giác La thị
Sinh 12 tháng 4, 1831(1831-04-12)
Mất 24 tháng 1, 1850 (18 tuổi)
An táng Định lăng (定陵)

Hiếu Đức Hiển Hoàng hậu (chữ Hán: 孝德顯皇后; tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡝᡵᡩᡝᠮᡠ
ᡳᠯᡝᡨᡠ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga erdemu iletu hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga erdemu iletu hvwangheu; 12 tháng 4 năm 1831 - 24 tháng 1 năm 1850) là phúc tấn nguyên phối của Thanh Văn Tông Hàm Phong hoàng đế khi ông chưa lên ngôi.

Bà chưa bao giờ được làm Hoàng hậu khi còn sống, chỉ được truy phong ngôi Hoàng hậu khi đã qua đời.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Đức hoàng hậu Tát Khắc Đạt thị.

Hiếu Đức hoàng hậu xuất thân từ gia tộc Tát Khắc Đạt thị (薩克達氏) thuộc Mãn quân Tương Lam kỳ, một gia tộc tầm trung có ở toàn bộ Bát kỳ, song phân bố chủ yếu tại Tương Lam kỳ.

Tằng tổ phụ Minh Sơn (明山), giám sinh xuất thân, những năm cuối Càn Long làm Bút thiếp nhập sĩ, đời Gia Khánh từ Án sát, Bố chính phủ đến Tuần phủ Quý Châu, Văn Quý Tổng đốc, nhậm bộ Hình Thượng thư thời Đạo Quang năm đầu. Tổ phụ Kỳ Xương (祺昌), làm đến Viên ngoại lang bộ Binh. Phụ thân Phú Thái (富泰), làm Thái Thường tự Khanh. Tằng tổ mẫu Khố Nhĩ thị (庫爾氏), tổ mẫu Na Lạp thị (納喇氏), gia thế không rõ, nhưng mẹ bà là con gái thứ 3 của Trịnh thân vương Ô Nhĩ Cung A (烏爾恭阿), có thể thấy dòng dõi bà sớm đã tiến vào hôn nhân với nhà các thế gia Mãn Châu.

Trong nhà bà không thấy ghi nhận có nam duệ, chỉ biết bà có một em gái về sau gả cho Phụng Quốc tướng quân Phổ Thiện (溥善) thuộc Hòa thân vương phủ hệ. Do không có con trai, người trong họ đưa cháu Đức Mậu (德懋) làm kế tự.

Căn cứ Đại Thanh hoàng tử thành hôn lệ thường, Tát Khắc Đạt thị hẳn được chọn vào tầm năm Đạo Quang thứ 27 (1847) mùa xuân hoặc mùa hạ, do chính Đạo Quang Đế tuyển chọn, khi đó bà 16 tuổi, phù hợp lứa tuổi thành hôn. Ngày 25 tháng 10, mùa đông, Tát Khắc Đạt thị cùng Hoàng tứ tử Dịch Trữ, con trai thứ tư của Đạo Quang Đế làm lễ đính hôn. Sang năm sau (1848), ngày 27 tháng 2, Tát Khắc Đạt thị chính thức được gả cho Dịch Trữ, nghiễm nhiên trở thành Đích phúc tấn.

Năm thứ 29 (1850), ngày 12 tháng 12 (tức ngày 24 tháng 1 dương lịch), giờ Tỵ, Tứ hoàng tử Phúc tấn Tát Khắc Đạt thị đột ngột qua đời khi chỉ mới 19 tuổi và không có người con nào với Dịch Trữ. Có thể nói bà vào cung sau sinh hoạt là tương đương ngắn ngủi, nhưng dựa theo thụy hiệu Đức về sau, có thể phỏng đoán bà khá được lòng mọi người.

Căn cứ Thanh cung y án ghi lại, Tát Khắc Đạt thị vào cung vừa tháng 2, thì ở tháng 8 liền mắc phong hàn mạo cảm. Sang năm tháng 4, lại thấy chứng phong thấp xuất hiện nhiều. Tời tháng 8 thì thân thể đã rất hư nhược. Vào đầu tháng 12 thì bệnh tình chuyển biến tốt hơn, ghi lại:“Từ viên đến sở nội, thần khí đều hảo, tứ chi cũng có thể di động chuyển, duy khí huyết thượng nhược, có khi ho khan.”. Thế nhưng đột nhiên vào ngày 10 tháng đó, suy yếu chịu phong, lại lần nữa không khoẻ, sang ngày 11 lại cảm thấy khá tốt rồi cuối cùng vào ngày 12 bệnh chuyển nặng và bạo vong. Có chuyên môn học giả phân tích này y án, cho rằng là trường kỳ bệnh gan, cứ thế với khí huyết suy yếu, “Huyết khô gan phong chi chứng ngọn nguồn đã lâu, liên luỵ tâm tì cũng hư”.

Một tháng sau khi bà mất, Dịch Trữ nối ngôi, lấy niên hiệu Hàm Phong. Tiếc thương người vợ yểu mệnh, Hàm Phong Đế lập tức ra chỉ truy phong bà làm Hoàng hậu với thụy hiệuHiếu Đức hoàng hậu (孝德皇后). Cả dòng tộc bà đều được nâng thành Tương hoàng kỳ, người cháu kế tự Đức Mậu và con cháu thế tập tước vị Thừa Ân công (承恩公), gia tộc bình dị hưởng phú quý.

Qua các đời Đồng Trị, Quang TựTuyên Thống, thụy hiệu đầy đủ của bà là Hiếu Đức Ôn Huệ Thành Thuận Từ Trang Khác Thận Huy Ý Cung Thiên Tán Thánh Hiển Hoàng hậu (孝德溫惠誠順慈莊恪慎徽懿恭天贊聖顯皇后). Hoàng hậu được cải táng ở Định lăng (定陵), Thanh Đông lăng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]