Khang Từ Hoàng thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khang Từ Hoàng thái hậu
康慈皇太后
Đạo Quang Đế Hoàng hậu
《孝静成皇后朝服像》.jpg
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 13 tháng 8 năm 1855 - 21 tháng 8 năm 1855
(0 năm, 8 ngày)
Tiền nhiệm Cung Từ hoàng thái hậu
Kế nhiệm Từ An Thái hậu (1861-1881)
Từ Hy Thái hậu (1861-1908)
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Tuyên Tông
Đạo Quang hoàng đế
Hậu duệ
Thụy hiệu Hiếu Tĩnh Khang Từ Ý Chiêu Đoan Huệ Trang Nhân Hòa Thận Bật Thiên Phủ Thánh Thành hoàng hậu
(孝靜康慈懿昭端惠庄仁和慎弼天撫聖成皇后)
Thân phụ Hoa Lương A (花良阿)
Sinh 19 tháng 6, 1812(1812-06-19)
Khoa Nhĩ Thẩm, Nội Mông
Mất 21 tháng 8, 1855 (43 tuổi)
Thọ Khang cung, Bắc Kinh
An táng Mộ Đông lăng (慕东陵)

Khang Từ hoàng thái hậu (chữ Hán: 康慈皇太后, 19 tháng 6 năm 1812 - 21 tháng 8 năm 1855), là Hoàng quý phi của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang hoàng đế, và là Hoàng thái hậu trong 8 ngày trước khi qua đời dưới triều đại Thanh Văn Tông Hàm Phong hoàng đế. Sau khi qua đời, bà được truy tôn thụy hiệuHiếu Tĩnh Thành hoàng hậu (孝静成皇后).

Bà là dưỡng mẫu của Hàm Phong Đế, mẹ ruột của Cung thân vương Dịch Hân (奕訢), người rất có ảnh hưởng chính sự dưới thời Từ Hi thái hậu nhiếp chính. Bà chưa từng là Hoàng hậu và cũng như không có người con trai nào đăng cơ để tôn phong. Thụy hiệu Hoàng hậu của bà được truy phong bởi Hàm Phong Đế, khi ông đã tôn phong bà làm Hoàng thái hậu dưới thời trị vì của ông. Đây là trường hợp độc nhất vô nhị của triều đại Mãn Thanh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khang Từ Thái hậu sinh trưởng trong dòng tộc Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博尔济吉特氏), thuộc bộ tộc Khoa Nhĩ Thẩm (科尔沁) của Mông Cổ và có quan hệ huyết thống với Hiếu Trang Văn Hoàng hậu. Cha là Hoa Lương A (花良阿), làm đến chức Viên ngoại lang Bộ Hình. Tên thật của bà không được sử sách ghi lại.

Bà nhập cung dưới thời Đạo Quang Đế và trở thành cung phi của ông, phong tước hiệu Tĩnh quý nhân (静贵人). Năm Đạo Quang thứ 6 (1826), ngày 22 tháng 11, bà sinh con trai thứ hai của Đạo Quang, Dịch Cương (奕綱) và sau đó được phong thành Tĩnh tần (静嫔). Năm thứ 7 (1827), hoàng tử qua đời sớm, bà được Đạo Quang Đế an ủi mà phong làm Tĩnh phi (静妃). Năm thứ 9 (1829), bà hạ sinh thêm một hoàng tử, Dịch Kế (奕繼) nhưng rồi cũng chết yểu vào năm sau. Năm thứ 10 (1831), bà hạ sinh hoàng lục nữ, tức Cố Luân Thọ Ân công chúa.

Năm Đạo Quang thứ 12 (1833), ngày 11 tháng 1 (tức ngày 21 tháng 11 âm lịch), bà sinh ra con trai thứ sáu của Đạo Quang là Dịch Hân, người sau này trở thành Cung thân vương. Trong tháng 12, năm thứ 14 (1835), bà lại được nâng lên thành Tĩnh Quý phi (静贵妃).

Năm Đạo Quang thứ 20 (1841), sau khi Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị đột ngột qua đời ở tuổi 31, Tĩnh Quý phi được ban quyền quản lý hậu cung và được sắc phong thành Hoàng quý phi. Đạo Quang Đế đau buồn quá độ vì cái chết của Hoàng hậu, kiên quyết không lập Hoàng hậu kế nhiệm nữa.

Nữu Hỗ Lộc hoàng hậu chỉ sinh hạ duy nhất 1 người con trai, Tứ hoàng tử Dịch Trữ (奕詝), Hoàng quý phi được giao phó nuôi dạy và bảo ban hoàng tử. Hoàng tử Dịch Hân và Dịch Trữ được cùng nuôi dạy bởi Hoàng quý phi, sáng đêm cùng ăn cùng ngủ mà gắng bó như anh em ruột thịt.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ 30 (1850), Đạo Quang hoàng đế băng hà, Tứ hoàng tử Dịch Trữ lên nối ngôi, tức Thanh Văn Tông Hàm Phong hoàng đế. Bà được sắc phong Hoàng khảo Khang Từ Hoàng Quý Thái phi (康慈皇贵太妃).

Với tư cách là trưởng bối trong hậu cung, bà nắm cương vị như một Hoàng thái hậu và việc tuyển chọn tú nữ cho Hàm Phong đế, trong đó có Từ An thái hậuTừ Hi thái hậu sau này. Tuy không phải là mẹ ruột nhưng Hàm Phong vẫn kính trọng và quý mến bà. Từ An và Từ Hi đối với bà cũng hết mực cung kính.

Năm Hàm Phong thứ 5 (1855), ngày 13 tháng 8, Hoàng quý thái phi bị bệnh rất nặng, Hàm Phong Đế đích thân di giá đến cung của bà để thăm, đúng lúc đó Cung Thân vương Dịch Hân ở đó. Thấy bà cầu khẩn luôn miệng muốn tôn làm Hoàng thái hậu, Hàm Phong Đế thương cảm bèn hạ khẩu dụ và Cung thân vương đã truyền cho Nội vụ phủ thảo chiếu sách tôn Thái phi thành Khang Từ Hoàng thái hậu (康慈皇太后).

Ngày 21 tháng 8, tức 8 ngày sau khi sắc phong thì bà qua đời, hưởng thọ 43 tuổi. Ngày 20 tháng 9 năm đó, Hàm Phong Đế truy tặng thụy hiệuHiếu Tĩnh Khang Từ Bật Thiên Phụ Thánh hoàng hậu (孝静康慈弼天辅圣皇后), không theo chữ thụy Thành của Thanh Tuyên Tông, không thờ Thái miếu.

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Hai năm sau (1857), bà được an táng tại Mộ lăng Phi viên tẩm (sau xưng Mộ Đông lăng; 慕东陵). Như vậy, tuy có thụy Hoàng hậu nhưng dẫu sao vẫn là danh không chính ngôn không thuận, bà cũng chỉ có thể ở trong Phi lăng của các phi tần.

Sau đó, dưới thời Đồng Trị, con trai út của bà là Cung thân vương Dịch Hân đã cầu khẩn lên từ An Thái hậuTừ Hi Thái hậu. Do Lưỡng cung Thái hậu được nhiếp chính có công lao của Cung thân vương, nên cuối cùng 2 vị Thái hậu dùng danh nghĩa Đồng Trị Đế, đổi thụy hiệu của bà thành Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu (孝静成皇后) để hợp thức hóa địa vị Hoàng hậu của bà. Dưới thời Quang Tự, thụy hiệu của bà đầy đủ là Hiếu Tĩnh Khang Từ Ý Chiêu Đoan Huệ Trang Nhân Hòa Thận Bật Thiên Phủ Thánh Thành hoàng hậu (孝静康慈懿昭端惠莊仁和慎弼天抚圣成皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Tĩnh hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị có bốn người con, 3 hoàng tử và 1 công chúa:

  1. Hoàng nhị tử Dịch Cương [奕綱; 22 tháng 11 năm 1826 - 5 tháng 3 năm 1827], con trai thứ hai của Thanh Tuyên Tông. Truy thụy làm Thuận Hòa quận vương (顺和郡王).
  2. Hoàng tam tử Dịch Kế [奕繼; 2 tháng 12 năm 1829 - 22 tháng 1 năm 1830], con trai thứ ba của Thanh Tuyên Tông. Truy thụy làm Tuệ Chất quận vương (慧质郡王).
  3. Cố Luân Thọ Ân công chúa [固倫壽恩公主; 7 tháng 12 năm 1830 - 13 tháng 4 năm 1859], con gái thứ sáu của Thanh Tuyên Tông, sơ phong Hòa Thạc công chúa (和碩公主). Năm 1844, hạ giá Cảnh Thọ (景寿) của tộc Phú Sát, tấn phong Cố Luân công chúa (固倫公主).
  4. Hoàng lục tử Dịch Hân [奕訢; 11 tháng 1 năm 1833 - 29 tháng 5 năm 1898], con trai thứ sáu của Thanh Tuyên Tông. Một hoàng thân có vai trò quan trọng dưới thời Từ Hi thái hậu. Sau khi mất, truy thụy là Cung Trung thân vương (恭忠亲王).

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình Diễn viên Nhân vật
Mãn Thanh thập tam hoàng triều chi Đạo Quang Ôn Tuyết Kì Tĩnh phi
Mãn Thanh thập tam hoàng triều chi Huyết nhiễm Tử Cấm thành Phùng Tố Ba Hiếu Tĩnh hoàng quý thái phi
Nhất liêm u mộng Mã Linh Khang Từ hoàng thái hậu
Đại Thanh hậu cung Trần Vĩ Bác Nhĩ Tế Cát Đặc Cảnh Trân
Vạn phụng chi vương Hồ Định Hân Bác Nhĩ Tế Cát Đặc Tĩnh Du(cung nữ Thái Lam/Tĩnh quý nhân)
Nữ nhân hoa Mã Huệ Trân Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]