Khang Từ Hoàng thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu)
Jump to navigation Jump to search
Khang Từ Hoàng thái hậu
康慈皇太后
Đạo Quang Đế Hoàng hậu
《孝静成皇后朝服像》.jpg
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 13 tháng 8 năm 1855
- 21 tháng 8 năm 1855
(0 năm, 8 ngày)
Tiền nhiệm Cung Từ hoàng thái hậu
Kế nhiệm Từ An Thái hậu (1861-1881)
Từ Hy Thái hậu (1861-1908)
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Tuyên Tông
Đạo Quang hoàng đế
Hậu duệ Thuận Hòa quận vương Dịch Cương
Tuệ Chất quận vương Dịch Kế
Cung Trung thân vương Dịch Hân
Cố Luân Thọ Ân công chúa
Thụy hiệu Hiếu Tĩnh Khang Từ Bật Thiên Phụ Thánh hoàng hậu
(孝靜康慈弼天輔聖皇后)
Hiếu Tĩnh Khang Từ Ý Chiêu Đoan Huệ Trang Nhân Hòa Thận Bật Thiên Phủ Thánh Thành hoàng hậu
(孝靜康慈懿昭端惠庄仁和慎弼天撫聖成皇后)
Thân phụ Hoa Lương A
Thân mẫu Ái Tân Giác La thị
Sinh 19 tháng 6, 1812(1812-06-19)
Đại Thanh
Mất 21 tháng 8, 1855 (43 tuổi)
Thọ Khang cung, Bắc Kinh
An táng 20 tháng 4, 1857
Mộ Đông lăng (慕东陵)

Hiếu Tĩnh Thành hoàng hậu (chữ Hán: 孝静成皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᠴᡳᠪᠰᡝᠨ
ᡧᠠᠩᡤᠠᠨ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga cibsen šanggan hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga qibsen xanggan hvwangheu; 19 tháng 6, năm 1812 - 21 tháng 8, năm 1855), còn gọi Khang Từ Hoàng thái hậu (康慈皇太后), là Hoàng quý phi của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang hoàng đế, và là Hoàng thái hậu trong 8 ngày trước khi qua đời dưới triều đại Thanh Văn Tông Hàm Phong hoàng đế.

Bà là dưỡng mẫu của Hàm Phong Đế, mẹ ruột của Cung thân vương Dịch Hân, người rất có ảnh hưởng chính sự dưới thời Từ Hi thái hậu nhiếp chính. Bà chưa từng là Hoàng hậu và cũng như không có người con trai nào đăng cơ để tôn phong. Thụy hiệu Hoàng hậu của bà được truy phong bởi Hàm Phong Đế, khi ông đã tôn phong bà làm Hoàng thái hậu. Thời Mãn Thanh, bà cùng Đổng Ngạc Phi của Thuận Trị Đế là hai trường hợp duy nhất không phải Hoàng hậu hay Chính thất khi còn sống, cũng không sinh ra Hoàng đế nhưng vẫn có thụy hiệu Hoàng hậu.

Trong lịch sử Trung Quốc, bà và Dương thục phi của Tống Chân Tông là hai phi tần duy nhất được Tân đế phong Hoàng thái hậu nhờ công nuôi dưỡng dù không phải mẹ ruột.

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Tĩnh hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị

Khang Từ Thái hậu sinh ngày 17 tháng 5 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 17, sinh trưởng trong dòng tộc Mãn Châu Chính Hoàng kỳ Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, nhưng thực tế nguyên là Mãn Châu Chính Lam kỳ xuất thân, có nguồn gốc từ Mông Cổ, theo tông tịch của bà thì gia tộc của bà nhìn chung không có quan hệ huyết thống trực tiếp với Hiếu Trang Văn Hoàng hậu. Đối với gia thế của bà, có nguồn nói là Mông Cổ Bát kỳ, có gia thế khá thấp, nhưng trên thực tế gia thế của bà không tồi, thậm chí nếu so với Hiếu Toàn Thành hoàng hậu thì khá hơn hẳn một bậc.

Truy ra tổ tiên, gia tộc bà là hậu duệ của Nguyên Chiêu Tông, tổ tiên xa là Đạt Diên hãn (达延汗) thời nhà Minh. Đạt Diên hãn có 11 con trai, con thứ 9 là Cách Lặc Bác Đa Lặc (格勒博罗特), Bá Đa Lặc sinh ra Ô Ban Tát Nặc Âm (乌班萨诺音), có nhiều tôn tử. Trong con cháu Ô Ban Tát Nặc Âm, có Tỏa Nặc Mộc (琐诺木) thời đầu nhà Thanh đã nhập vào Mãn Châu Chính Lam kỳ, thuộc Hạ ngũ kỳ, đây chính là thủy tổ dòng dõi của bà.

Sau khi nhập kì, Tỏa Nặc Mộc đại tông hậu duệ kề thừa tập tước Nhị đẳng Tử (二等子), chi thuộc của Khang Từ Thái hậu là dòng tiểu tông, ở đầu thời Thanh nhậm qua Kỳ nội Tham lĩnh (旗内参领), một chức quan võ khá cao cấp. Ở thời Thanh trung kì, có Hưng Đức (兴德) ở Càn Long năm thứ 21 thi đậu Cử nhân, sau lại làm đến Đạo viên (道员), vị này Hưng Đức chính là tằng tổ phụ của Khang Từ Thái hậu.

Trong nhà Hưng Đức có 7 con trai, trong đó con trai thứ 4 Ngạc Sơn (鄂山) và thứ 7 Thành Sơn (成山) đều là Tiến sĩ xuất thân, Ngạc Sơn làm đến Thượng thư bộ Hình cao quan, hình thành khoa cử thế gia dòng dõi. Con trai ông Bảo Khiêm (葆谦) cũng là Tiến sĩ xuất thân, Bảo Hanh (葆亨) làm đến Tuần phủ. Tổ phụ Côn Sơn (崑山) của Khang Từ Thái hậu là con trai thứ 2, làm đến Viên ngoại lang, sinh ra 2 con trai, con trưởng là Hoa Lương A (花良阿) làm đến Viên ngoại lang bộ Hình, con thứ Ngạc Hưng A (岳兴阿) làm đến Bố chính sứ Hồ Bắc.

Cha bà là Hoa Lương A, tuy chỉ là Viên ngoại lang, song cưới con gái của Thiết mạo tử vương, Huyện chúa Ái Tân Giác La thị, con gái của Túc Cung thân vương Vĩnh Tích (永錫). Hoa Lương A sinh con gái cả, tức Khang Từ Thái hậu, một con gái nữa tắc chỉ hôn cho Thành vương phủ tôn thất Tái Linh (载龄). Tái Linh, là cháu 5 đời của Thành Ẩn quận vương Dận Chỉ, Đạo Quang năm thứ 21 xuất sĩ, làm đến Thượng thư bộ Binh, sau lại kế tục Bất nhập bát phân Phụ quốc công đại tông tước vị, ở năm Quang Tự còn leo lên được Thể Nhân các Đại học sĩ.

Nơi này có thể thấy được gia đình dòng dõi của Khang Từ Thái hậu không giống người thường.

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Tĩnh Quý phi và Hàm Phong Đế.

Theo cứ liệu trước mắt, bà nhập cung dưới thời Đạo Quang năm thứ 5 (1825), cũng chính là Bát Kỳ tuyển tú lần thứ 2 dưới thời Đạo Quang Đế, với thân phận Chính Lam kỳ Mãn Châu tú nữ, bà trở thành Tĩnh quý nhân (静贵人). Thuận tiện nhắc tới, từ trước mắt tư liệu, trong đợt tuyển tú năm đó có vẻ chỉ có Tĩnh Quý nhân là được xét tuyển nhập cung. Phong hiệu Tĩnh, căn cứ Hồng xưng thông dụng (鸿称通用) có Mãn văn là 「cibsen」, nghĩa là "An tĩnh", "Yên lặng".

Năm Đạo Quang thứ 6 (1826), ngày 7 tháng 4, chiếu tấn phong Tĩnh tần (静嫔). Ngày 23 tháng 10 (tức 22 tháng 11 dương lịch), giờ Hợi, sinh Hoàng nhị tử Dịch Cương (奕綱). Ngày 1 tháng 12, lấy Lễ bộ Thượng thư Tùng Quân (松筠) làm Chính sứ, Lễ bộ Tả thị lang Thư Anh (舒英) làm Phó sứ, hành Tĩnh tần sách phong lễ. Năm thứ 7 (1827), tháng giêng, Hoàng nhị tử Dịch Cương qua đời sớm, bà được Đạo Quang Đế an ủi mà phong làm Tĩnh phi (静妃). Ngày 20 tháng 4, lấy Lễ bộ Thượng thư Tùng Quân làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Chung Xương (钟昌) làm Phó sứ, hành Tĩnh phi sách phong lễ.

Năm Đạo Quang thứ 9 (1829), ngày 7 tháng 11, buổi trưa, hạ sinh Hoàng tam tử Dịch Kế (奕繼), nhưng rồi cũng chết yểu vào năm sau. Năm thứ 10 (1831), ngày 7 tháng 12, giờ Dần, hạ sinh Hoàng lục nữ Cố Luân Thọ Ân công chúa.

Năm Đạo Quang thứ 12 (1833), ngày 21 tháng 11 (tức ngày 11 tháng 1 năm 1834 dương lịch), hạ sinh Hoàng lục tử Dịch Hân. Năm thứ 13 (1834), ngày 15 tháng 8, chỉ dụ tấn phong Tĩnh Quý phi (静贵妃). Năm thứ 14 (1835), ngày 3 tháng 11, lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Lại bộ Thượng thư Văn Phu (文孚) làm Chính sứ, Lễ bộ Hữu thị lang Văn Khánh (文庆) làm Phó sứ, hành Quý phi sách phong lễ.

Năm Đạo Quang thứ 20 (1841), sau khi Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị đột ngột qua đời ở tuổi 31. Sang ngày 25 tháng 4, Tĩnh Quý phi được được Đạo Quang Đế chiếu tấn sắc phong thành Hoàng quý phi, thống lĩnh chúng phi tần Hậu cung Đại Thanh bấy giờ. Ngày 17 tháng 12 cùng năm, lấy Đại học sĩ Vương Đỉnh (王鼎) làm Chính sứ, Lễ bộ Tả thị lang Quan Thánh Bảo (关圣保) làm Phó sứ, hành Hoàng quý phi sách phong lễ.

Nữu Hỗ Lộc hoàng hậu chỉ sinh hạ duy nhất 1 người con trai là Tứ hoàng tử Dịch Trữ, Hoàng quý phi được giao phó nuôi dạy và bảo ban hoàng tử. Hoàng tử Dịch Hân và Dịch Trữ cùng được nuôi dạy bởi Hoàng quý phi, sáng đêm cùng ăn cùng ngủ mà gắn bó như anh em ruột thịt. Hoàng tử Dịch Trữ còn gọi Hoàng quý phi là Ngạch nương theo cách gọi mẹ ruột của người Mãn. Tuy nhiên, cả hai lớn lên dần từ từ nhận ra vị thế của mình và từ đó ngấm ngầm ganh đua nhau hòng có được Hoàng vị.

Hoàng tử Dịch Hân vốn có tài thao lược, hay tiếp xúc với người Tây (lúc đó người Mãn gọi họ là Dương quỷ tử; 洋鬼子) nên có biệt danh là Quỷ tử lục (鬼子六). Đạo Quang Đế không ưa người Tây, cho rằng Dịch Hân quá giỏi và giao du với họ sẽ thiếu đức nên trong lòng không thích Dịch Hân, còn Tứ hoàng tử Dịch Trữ lại thể hiện mình là người có hiếu đạo, nhân hậu, dần khiến Đạo Quang Đế ưa thích. Bên cạnh đó, sau chuyện Hiếu Toàn hoàng hậu bạo băng nên Đạo Quang Đế rất thương Dịch Trữ, cuối cùng lấy thân phận đích tử mà truyền ngôi lại cho Dịch Trữ vào năm thứ 26 (1846). Tĩnh Hoàng quý phi từ lâu trông ngóng ngôi vị Hoàng hậu, sau mãi không được lập làm Nhất Quốc Chi Mẫu nên dồn hết tâm huyết vào Dịch Hân, mong trở thành Hoàng thái hậu nhưng quyết định này của Đạo Quang Đế đã khiến bà rất thất vọng.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khang Từ Thái phi mặc Long bào theo quy chế cho hậu phi nhà Thanh.

Năm thứ 30 (1850), ngày 14 tháng 1, Đạo Quang hoàng đế băng hà, Tứ hoàng tử Dịch Trữ lên nối ngôi, tức Thanh Văn Tông Hàm Phong hoàng đế. Ngày 21 tháng 1, bà được tôn phong Hoàng khảo Khang Từ Hoàng Quý Thái phi (皇考康慈皇贵太妃), ngụ Thọ Khang cung (壽康宮). Con trai bà là Dịch Hân được phong làm Cung Thân vương, ban hồng nhung kết đỉnh quan.

Hàm Phong nguyên niên (1851), ngày 15 tháng 3, lấy Đại học sĩ Tái thượng A (赛尚阿) làm Chính sứ, Đại học sĩ Kỳ Tuấn Bảo (祁寯藻) làm Phó sứ, tiến hành sách phong Khang Từ Hoàng Quý Thái phi.

Tuy không phải là mẹ ruột nhưng Hàm Phong vẫn kính trọng và yêu mến bà, dâng bà Kỉ Xuân viên (绮春园) trong Viên Minh Viên phụng dưỡng, theo sử ký ghi lại thì đây chính là khi xưa Đạo Quang Đế dùng lễ này để đối đãi Hiếu Hòa Duệ hoàng hậu, ngầm ý rõ Hàm Phong Đế đã lấy lễ đãi Thái hậu đối với bà. Tuy nhiên Khang Từ Thái phi vẫn chưa thỏa mãn. Bà nhiếp quản hậu cung, thống lĩnh phi tần hơn 15 năm mà không có được thân phận Chính cung Hoàng hậu, lệnh chúng phi tần thần phục thực hết sức gian nan vất vả. Hơn nữa, Hoàng tứ tử Dịch Trữ không phải bản thân bà sở sinh, chăm sóc nếu có vô ý sẽ bị người ngờ vực dẫn lửa thiêu thân, bởi vậy so với nuôi nấng thân sinh tử Dịch Hân càng thêm hao phí tinh lực. Vậy mà vẫn không chiếm được vị trí chính thất, đến phút cuối chính là nỗi hận lớn nhất của bà.

Do vậy, Hoàng quý thái phi hy vọng Hàm Phong Đế lấy hiếu vị danh, tôn dưỡng mẫu làm Hoàng thái hậu. Nhưng Hàm Phong Đế cho rằng sinh mẫu Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu vừa là tiên đế chính cung, vừa có thân phận cao quý mà còn chưa có phúc hưởng đãi ngộ Thái hậu một ngày. Khang Từ Thái phi vừa không phải hoàng hậu của tiên đế, vừa không phải mẹ đẻ của mình, thân phận so với nhị vị tiên Hoàng hậu cũng không bằng, sao lại có thể lấy thân phận mẹ nuôi mà lên làm Thái hậu Đại Thanh. Việc này Thanh triều từ xưa đến nay chưa có tiền lệ.

Tác phẩm Kỳ Tường cố sự (祺祥故事) của Vương Tương Ỷ (王闿运) có nói đến một chuyện rằng. Có một ngày, Cung thân vương Dịch Hân sau khi đến Thọ Khang cung vấn an thì rời cung, Hàm Phong Đế sau đó cũng đến. Thái giám muốn báo Thái phi biết, nhưng Hàm Phong gạt tay không cần, từ từ đến bên giường của bà ngồi. Thái phi đương lờ mờ tỉnh lại, thấy bóng người ở đầu giường, tưởng là Cung thân vương bèn uể oải nói đại ý: "Sao còn ở lại? Ta sẽ thay ngươi làm, không cần lo! Tính tình hắn không an định, chớ dại dột mà sinh nghi hiềm". Trong lời nói có ý oán hận Hàm Phong Đế tính tình cổ quái, Hàm Phong thấy Thái phi hiểu lầm, khẽ gọi: "Ngạch nương". Thái phi biết là Hoàng đế, chỉ nhìn lại thoáng qua rồi ngủ tiếp, không nói lời nào. Từ đây mẫu tử Hàm Phong Đế có rạn nứt và sinh nghi hiềm, bởi vậy Hàm Phong đế đối Cung thân vương nghi kỵ càng thêm trọng[1].

Năm Hàm Phong thứ 5 (1855), ngày 1 tháng 7 (tức ngày 13 tháng 8 dương lịch), Hoàng quý thái phi bị bệnh rất nặng, Hàm Phong Đế đích thân di giá đến cung của bà để thăm, đúng lúc đó Cung Thân vương Dịch Hân ở đó. Hàm Phong liền hỏi bệnh tình của bà thế nào. Cung Thân vương đáp: "Ngạch nương đã sớm không ổn rồi, còn giữ lấy một hơi tàn này chờ hoàng huynh phong làm Thái hậu thì mới nhắm mắt". Hoàng đế hiếu tâm nghe vậy thì chua xót, chỉ thốt lên "Ôi ôi!". Cung Thân vương liền nhân cơ hội đến Quân Cơ Xứ truyền hoàng đế "Khẩu dụ", lệnh Nội vụ phủ thảo chiếu sách tôn Thái phi thành Khang Từ Hoàng thái hậu (康慈皇太后), lại cho Lễ bộ chuẩn bị điển lễ sắc phong. "Ôi ôi" chỉ là hai từ cảm thán, Cung Thân vương lại lợi dụng thân phận Quân Cơ Đại thần chiếm lấy tiện nghi, giả mạo chỉ dụ vua. Việc này khiến Hàm Phong Đế vô cùng phẫn nộ, nhưng sự đã rồi cũng không tiện tước bỏ Hoàng thái hậu phong hào.

Ngày 9 tháng 7 (tức ngày 21 tháng 8 dương lịch), tức 8 ngày sau khi sắc phong thì Khang Từ Thái hậu qua đời tại Thọ Khang cung, hưởng thọ 43 tuổi, tạm quàn tại Từ Ninh cung. Ngày 21 tháng 7, tạm an ở Nghênh Huy điện (迎晖殿) của Kỉ Xuân viên.

Ngày 23 tháng 9 năm đó, Hàm Phong Đế truy tặng thụy hiệuHiếu Tĩnh Khang Từ Bật Thiên Phụ Thánh hoàng hậu (孝靜康慈弼天輔聖皇后), không theo chữ thụy Thành của Thanh Tuyên Tông, không thờ Thái miếu mà chỉ thăng phụ Phụng Tiên điện. Do lệ đời Khang Hi Đế trở về sau, mẫu gia của Hoàng hậu (kể cả truy phong) đều được nâng, nên mẫu tộc của bà từ Hạ ngũ kỳ chính thức trở thành Mãn châu Chính hoàng kỳ (满洲正黄旗).

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hàm Phong thứ 7 (1857), ngày 20 tháng 4, bà được an táng tại Mộ lăng Phi viên tẩm (sau xưng Mộ Đông lăng; 慕东陵).

Như vậy, tuy có thụy Hoàng hậu nhưng dẫu sao vẫn là danh không chính ngôn không thuận, bà cũng chỉ có thể ở trong Phi lăng của các phi tần. Đạo Quang Đế sinh thời cương quyết không lập bà làm Hoàng hậu, lại ở Mộ lăng Phi viên tẩm an bài vị trí huyệt mộ cho bà ở song song với Lâm Quý phi. Về sau tuy Hàm Phong tôn bà làm Thái hậu, nhưng không thể trái ý tiên đế, hạ táng với danh nghĩa Hoàng hậu nhưng vẫn phải nằm cạnh người có địa vị thấp kém hơn mình. Hàm Phong Đế tôn kính dưỡng mẫu, muốn làm tròn một cái hiếu đạo nên dụ cho quân cơ đại thần chỉnh sửa bố cục Phi viên tẩm, xây bảo thành bọc lấy lăng mộ Hiếu Tĩnh Hoàng hậu, vòng ngoài táng 16 phi tần còn lại. Lại thay ngói lưu ly xanh bằng lưu ly vàng, tương đương với chính thống hoàng lăng. Như vậy vừa không trái ý chỉ của Đạo Quang Đế, vừa tôn được địa vị của Hoàng hậu.

Sau đó, năm Hàm Phong thứ 11 (1861), tháng 9, dưới thời Đồng Trị Đế, con trai út của bà là Cung thân vương Dịch Hân đã cầu khẩn lên Từ An Thái hậuTừ Hi Thái hậu, xin gia thụy hiệu và thăng phụ Thái miếu theo đúng quy tắc, Lưỡng cung Thái hậu nghị bàn với triều đình. Ngày 1 tháng 10, y lệ cho Hiếu Tĩnh hoàng hậu thăng phụ Thái miếu, đổi thụy hiệu của bà thành Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu (孝静成皇后), lại thêm hai chữ Đoan Huệ (端惠), để hợp thức hóa địa vị Hoàng hậu của bà, đồng thời đem bài vị thăng phụ Thái miếu. Đến đây Bát Nhĩ Tế Cát Đặc Thị mới chính thức đạt được Hoàng hậu địa vị, có thể hưởng thụ hậu đại hương khói.

Quang Tự nguyên niên (1875), thêm thuỵ Trang Nhân (莊仁). Năm Tuyên Thống nguyên niên (1909), thêm thuỵ Hoà Thận (和慎). Do vậy, thụy hiệu toàn xưng là Hiếu Tĩnh Khang Từ Ý Chiêu Đoan Huệ Trang Nhân Hòa Thận Bật Thiên Phụ Thánh Thành hoàng hậu (孝靜康慈懿昭耑惠莊仁和慎弼天撫聖成皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Tĩnh hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị có bốn người con, 3 hoàng tử và 1 công chúa:

  1. Hoàng nhị tử Dịch Cương [奕綱; 22 tháng 11 năm 1826 - 5 tháng 3 năm 1827], con trai thứ hai của Thanh Tuyên Tông. Truy thụy làm Thuận Hòa quận vương (顺和郡王).
  2. Hoàng tam tử Dịch Kế [奕繼; 2 tháng 12 năm 1829 - 22 tháng 1 năm 1830], con trai thứ ba của Thanh Tuyên Tông. Truy thụy làm Tuệ Chất quận vương (慧质郡王).
  3. Cố Luân Thọ Ân công chúa [固倫壽恩公主; 7 tháng 12 năm 1830 - 13 tháng 4 năm 1859], con gái thứ sáu của Thanh Tuyên Tông, sơ phong Hòa Thạc công chúa (和碩公主). Năm 1844, hạ giá Cảnh Thọ (景寿) của tộc Phú Sát, tấn phong Cố Luân công chúa (固倫公主).
  4. Hoàng lục tử Dịch Hân [奕訢; 11 tháng 1 năm 1833 - 29 tháng 5 năm 1898], con trai thứ sáu của Thanh Tuyên Tông. Một hoàng thân có vai trò quan trọng dưới thời Từ Hi thái hậu. Sau khi mất, truy thụy là Cung Trung thân vương (恭忠亲王).

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình Diễn viên Nhân vật
Mãn Thanh thập tam hoàng triều chi Đạo Quang Ôn Tuyết Kì Tĩnh phi
Mãn Thanh thập tam hoàng triều chi Huyết nhiễm Tử Cấm thành Phùng Tố Ba Hiếu Tĩnh hoàng quý thái phi
Nhất liêm u mộng Mã Linh Khang Từ hoàng thái hậu
Đại Thanh hậu cung Trần Vĩ Bác Nhĩ Tế Cát Đặc Cảnh Trân
Vạn phụng chi vương Hồ Định Hân Bác Nhĩ Tế Cát Đặc Tĩnh Du(cung nữ Thái Lam/Tĩnh quý nhân)
Nữ nhân hoa Mã Huệ Trân Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 兹就王湘绮所著《祺祥故事》中,有关此事的记载,“会太妃疾,王日省,帝亦省视。一日,太妃寝未觉,上问安至,宫监将告,上摇手令勿惊。妃见床前影,以为恭王,即问曰:“汝何尚在此?我所有尽与汝矣!他性情不易知,勿生嫌疑也。”帝知其误,即呼“额娘”。太妃觉焉,回面一视,仍向内卧不言。自此始有猜,而王不知也。”意思是:有一天,恭亲王请安完毕回去,太妃又入睡,还没醒,皇帝也来请安了,寿康宫中的太监想要通告太妃,皇帝摇手让他们不要惊动太妃。康慈太妃醒来见床前的影子,以为是恭亲王,就问道:“你怎么还在这里?我所有能为你做的都给你了!他的性情不定,不要生了嫌疑了。”话中显然在抱怨咸丰帝性情古怪。皇帝知道她误会了,就叫“额娘”。太妃觉察到原来是皇帝,回头看了一眼,就向里睡去,不发一言。自此母子间开始有了猜疑。这么一来,咸丰帝对恭亲王的猜忌更加重了。