Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Thục Duệ Hoàng Hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiếu Thục Duệ hoàng hậu
孝淑睿皇后
Gia Khánh Đế Hoàng hậu
Empress XiaoShu.PNG
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 9 tháng 2 năm 17965 tháng 3 năm 1797
(1 năm, 34 ngày)
Tiền nhiệm Kế Hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Hòa Duệ hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Nhân Tông
Gia Khánh hoàng đế
Hậu duệ Thanh Tuyên Tông
Đạo Quang hoàng đế
Thụy hiệu Hiếu Thục Đoan Hòa Nhân Trang Từ Ý Đôn Dụ Quang Thiên Hựu Thánh Duệ hoàng hậu
(孝淑端和仁庄慈懿敦裕昭肅光天佑聖睿皇后)
Thân phụ Hòa Nhĩ Kinh Ngạc
Thân mẫu Vương Giai thị
Sinh 2 tháng 10, 1760(1760-10-02)
Mất 5 tháng 3, 1797 (36 tuổi)
An táng Xương lăng (昌陵)

Hiếu Thục Duệ hoàng hậu (tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᠨᡝᠮᡤᡳᠶᠠᠨ
ᠰᡠᠩᡤᡳᠶᡝᠨ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga nemgiyan sunggiyen hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga nemgiyan sunggiyen hvwangheu, chữ Hán: 孝淑睿皇后; 2 tháng 10 năm 1760 - 5 tháng 3 năm 1797), là hoàng hậu thứ nhất của Thanh Nhân Tông Gia Khánh hoàng đế, mẹ đẻ của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang hoàng đế.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Thục hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị.

Hoàng hậu là người thuộc bộ tộc Hỉ Tháp Lạp thị (喜塔腊氏), thuộc Mãn quân Chính Bạch kỳ hệ Thượng tam kỳ Mãn Châu. Tuy nhiên xuất xứ nguyên lai không hề như vậy.

Hiếu Thục hoàng hậu xuất thân từ một tộc khai thủy bởi Ngang Quả Đô Lý Ba Nhan (昂果都理巴顏), một nhân sĩ thời nhà Minh. Con trai cả của Ngang Quả Đô Lý Ba Nhan là Đô Lý Kim Đô Đốc (都理金都督) có vị thế rất cao trong xã hội Nữ Chân thời Minh, cũng sản sinh ra nhiều nữ quyến cho nhà Thanh, như vợ của Thanh Hưng Tổ Phúc Mãn, tằng tổ mẫu của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích là huyền tôn nữ của Đô Lý Kim Đô Đốc. Mẹ đẻ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng là trong dòng tộc này.

Vì tính đặc thù quan hệ, gia tộc này được gọi là Cữu gia (舅家), được trọng dụng thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích và Hoàng Thái Cực, chủ yếu coi sóc Vĩnh Lăng là một phần tổ tiên. Khi Thanh nhập quan, vì thân phận của họ mà không thể “Tòng long nhập quan”, do đó về sau khi Mãn Thanh nhập quan, họ chỉ là một gia tộc vùng Đông Bắc, không thể tiến thân quan trường.

Tổ tiên của Hiếu Thục hoàng hậu thuộc chi của con trai thứ 5 của Ngang Quả Đô Lý Ba Nhan là Tát Bích Đồ (薩璧圖). Trong Hỉ Tháp Lạp thị ban hệ, cũng chỉ được xem là thứ hệ mà thôi. Vào thời Thanh sơ, huyền tôn của Tát Bích Đồ là A Tháp (阿塔) không dự việc coi Vĩnh Lăng, mà tham dự Chính Bạch kỳ Bao y Tá lĩnh, có thể “Tòng long nhập quan”, từ đó mới danh chính ngôn thuận vào triều làm quan. Con trai A Tháp là Tráp Cách (扎格), là Bao y Tá lĩnh, con Tráp Cách là An Thái (安泰) cũng là Nội Vụ phủ Nhàn tán Bao y. Con của An Thái là Ái Tinh A (愛星阿), làm Nội Vụ phủ Viên ngoại lang Chính ngũ phẩm, đến con của Ái Tinh A là Thường An (常安) làm Nội Vụ phủ Bái đường a, vị Thường An này chính là tổ phụ của Hiếu Thục hoàng hậu. Đến đây gia tộc bà vẫn không đủ trọng vọng. Nhưng, có một người trong họ là Lai Bảo (來保), tính ra là đường huynh đệ không cùng chi với Thường An, trong năm Khang Hi từ Khố sử xuất sĩ, làm Nội Vụ phủ Tổng quản thời Ung Chính, đến thời Càn Long lại làm đến Thượng thư, Võ Anh điện đại học sĩ, là một thời danh thần. Từ đó, một chi A Tháp thoát khỏi Bao y xuất thân, đường hoàng trở thành một gia tộc thuộc Chính bạch kỳ, một trong Thượng tam kỳ lúc bấy giờ.

Phụ thân của hoàng hậu là Hòa Nhĩ Kinh Ngạch (和尔经额), từ Nội Vụ phủ xuất thân, do có năng lực nên dần lên Phó đô thống, thuộc hàng Tam phẩm, đây mới là lúc gia tộc của bà mới chân chính khai quang. Về sau, ông được tặng Thừa Ân công (承恩公). Hòa Nhĩ Kinh Ngạch có 3 vợ cả: nguyên phối Qua Nhĩ Giai thị, kế thất Lý Giai thị còn Vương Giai thị, Hiếu Thục hoàng hậu là Vương Giai thị sinh ra. Trong nhà bà có 4 người anh em khác, trưởng huynh Thịnh Trụ (盛住), thứ huynh Long Trụ (隆住) qua đời sớm, tam huynh Mạnh Trụ (孟住) và tứ đệ Linh Trụ (齡住).

Tiền trình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 39 (1774), Hỉ Tháp Lạp thị thành thân với Gia Thân vương Vĩnh Diễm, hoàng tử thứ 15 của Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế, bà được phong vị Đích phúc tấn.

Càn Long Đế cũng như Khang Hi Đế, khi chọn hôn phối hoàng tử hoàng tôn, đều dùng thức Phê thứ (批次). Cái gọi là Phê thứ, chính là so tuổi tác, dung mạo của hoàng tử hoàng tôn với tuyển tú nữ xem tương xứng không, rồi mới quyết định. Theo cách Càn Long Đế tự nhận, năm Càn Long thứ 38 (1773) thì ông đã bí mật lập Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm làm Trữ quân, như vậy vào năm sau (1774) chỉ định Vĩnh Diễm kết hôn cùng con gái của Hòa Nhĩ Kinh Ngạch là Hỉ Tháp Lạp thị, chính là đã cân nhắc sau khi chọn Vĩnh Diễm làm Trữ quân. Cái đáng nói là trong cả dàn xếp hôn nhân, chỉ có được định kế vị Vĩnh Diễm là lấy một cô gái xuất thân tầm trung, lại là Bao y xuất thân[1]. Có thể là vì muốn che giấu ý định lập Vĩnh Diễm làm trữ quân, nên Càn Long Đế mới như vậy lựa chọn chăng.

Nếu so ra, Càn Long Đế chỉ hôn tương đối chọn lựa xuất thân. Hoàng thập nhất tử Vĩnh Tinh được ban con gái của Đại học sĩ Phó Hằng, là bào đệ của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu; ngoài ra còn Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ, được chỉ hôn cho con gái Mông Cổ vương công, dù rằng Vĩnh Cơ không được Càn Long Đế sủng ái. Hơn nữa, sau khi chỉ hôn cho Vĩnh Diễm, Càn Long Đế còn đem Vĩnh Lân, em ruột cùng mẹ của Vĩnh Diễm, chỉ hôn cho Hoằng Nghị công phủ Ngạch Diệc Đô Nữu Hỗ Lộc thế gia nữ quyến, là con gái út của Quả Nghị công, Hình bộ Thượng thư, Lưỡng Quảng Tổng đốc A Lý Cổn. Như vậy việc chọn cho Trữ quân Vĩnh Diễm một nữ tử Bao y xuất thân, nếu không vì che giấu ý định bí mật lập trữ, chỉ có thể là do Vĩnh Diễm trực tiếp yêu cầu.

Đích phúc tấn Hỉ Tháp Lạp thị nhập phủ, sau hơn 5 năm không thấy gì thì liền sinh dục. Năm Càn Long thứ 45 (1780), bà sinh hạ Hoàng nhị nữ, lên 3 tuổi thì chết yểu. Năm thứ 47 (1782), bà sinh hạ Nhị hoàng tử Mân Ninh (綿寧), tức Thanh Tuyên Tông. Và vào năm thứ 49 (1784), bà sinh hạ Cố Luân Trang Tĩnh công chúa (莊静固倫公主), con gái thứ tư của Gia Thân vương. Căn cứ Thanh Cung y án ghi lại, Hỉ Tháp Lạp thị vào cung thì thân thể tương đối khỏe mạnh. Chỉ là về sau khi sinh hạ Hoàng nhị nữ, liên tiếp thân thể chưa kịp điều phối lại sinh thêm Hoàng nhị tử rồi Hoàng tứ nữ, thân thể từ đó liên tục không tốt. Đây có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến về sau bà qua đời rất sớm.

Năm Càn Long thứ 60 (1796), ngày 9 tháng 2, Thanh Cao Tông thoái vị, trở thành Thái thượng hoàng, Vĩnh Diễm nối ngôi, sử gọi là Gia Khánh Đế. Cùng năm ấy, Hỉ Tháp Lạp thị được lập thành Hoàng hậu. Lúc này thân thể Hỉ Tháp Lạp thị Hoàng hậu đã suy yếu trầm trọng.

Tang sự[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 3, năm thứ Gia Khánh thứ 2 (1797), Hỷ Tháp Lạp hoàng hậu băng hà vì bạo bệnh, hưởng thọ 36 tuổi. Chỉ một năm sau khi chồng bà Gia Khánh Đế đăng cơ.

Sau khi qua đời, theo ý chỉ của Càn Long Thái thượng hoàng đế, tang nghi của bà phải giản lược, vì không muốn mang đến kỳ tang tóc quá sớm khi Tân đế chỉ mới đăng cơ. Đây có thể xem là tang nghi cho Hoàng hậu tồi tệ nhất trong lịch sử nhà Thanh. Vào ngày cử tang tháng thứ nhất, Gia Khánh Đế còn đích thân tế rượu, nhưng sau đó 100 ngày, nhất-nhị-tam mãn nguyệt lễ, rồi một-hai-ba năm đầy lễ cũng chỉ phái con trai của bà là Mân Ninh đến túc trực.

Niềm an ủi của bà có lẽ là con trai bà về sau trở thành Đạo Quang Đế, 3 người anh em bà tuy không xuất sắc nhưng cũng được Gia Khánh Đế trọng dụng, bổ làm Nội Vụ phủ Đại thần, Thượng thư, Trấn Giữ tướng quân. Các cháu bà kế thừa tước Thừa Ân công, Khánh Lâm cháu trai bà làm Phụng Thiên phủ Doãn, Sùng Luân làm đến Tuần phủ Hồ Bắc, đến Vãn Thanh có diễn viên Hề Khiếu Bá (奚啸伯) là hậu duệ trong tộc của bà.

Hoàng hậu được táng ở Xương lăng (昌陵), thuộc Thanh Đông lăng. Đạo Quang, Hàm Phong, Đồng Trị về sau truy phong bà thụy hiệu là Hiếu Thục Đoan Hòa Nhân Trang Từ Ý Đôn Dụ Quang Thiên Hựu Thánh Duệ hoàng hậu (孝淑端和仁庄慈懿敦裕昭肅光天佑聖睿皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Phim ảnh truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình Diễn viên Nhân vật
Mẹ chồng khó tính Hoàng Kỉ Oánh Hỉ Tháp Lạp hoàng hậu
Vạn phụng chi vương Tống Hi Niên Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
Trương Bảo Tử Tạ Tuyết Tâm Thuần quý phi(Hỉ Tháp Lạp thị)
Hậu cung Như Ý truyện ... Hỉ Tháp Lạp thị
Thiên mệnh Thẩm Trác Doanh Hỉ Tháp Lạp hoàng hậu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bao y (包衣): một giai cấp thuộc hàng gia nô thấp kém trong Bát Kỳ Mãn Châu.

Tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
Sinh: , 2 tháng 10 năm 1760 Mất: , 5 tháng 3 năm 1797
Tước hiệu Hoàng gia
Tiền nhiệm:
Kế hoàng hậu
Hoàng hậu nhà Thanh
9 tháng 2 năm 1796 – 5 tháng 3 năm 1797
Kế nhiệm:
Hiếu Hòa Duệ hoàng hậu