Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Thục Duệ Hoàng Hậu)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
孝淑睿皇后
Gia Khánh Đế Hoàng hậu
Empress XiaoShu.PNG
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 4 tháng 1, 1796
7 tháng 2, 1797
Đăng quang 4 tháng 1, 1796
Tiền vị Kế Hoàng hậu
Kế vị Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Nhân Tông
Gia Khánh Hoàng đế
Hậu duệ Thanh Tuyên Tông
Đạo Quang Hoàng đế
Cố Luân Trang Tĩnh Công chúa
Thụy hiệu Hiếu Thục Đoan Hòa Nhân Trang Từ Ý Đôn Dụ Quang Thiên Hựu Thánh Duệ Hoàng hậu
(孝淑端和仁庄慈懿敦裕昭肅光天佑聖睿皇后)
Thân phụ Hòa Nhĩ Kinh Ngạc
Thân mẫu Vương Giai thị
Sinh (1760-10-02)2 tháng 10, 1760
Mất 5 tháng 3, 1797(1797-03-05) (36 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Đại Thanh
An táng 22 tháng 10, 1803
Xương lăng (昌陵), Thanh Tây lăng

Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu (tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᠨᡝᠮᡤᡳᠶᠠᠨ
ᠰᡠᠩᡤᡳᠶᡝᠨ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga nemgiyan sunggiyen hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga nemgiyan sunggiyen hvwangheu, chữ Hán: 孝淑睿皇后; 2 tháng 10, năm 1760 - 5 tháng 3, năm 1797), là Hoàng hậu thứ nhất của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Hoàng đế, mẹ đẻ của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Hoàng đế.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Thục Hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị.

Hoàng hậu sinh ngày 24 tháng 8 (âm lịch) năm Càn Long thứ 25 (1760), là người thuộc bộ tộc Hỉ Tháp Lạp thị (喜塔腊氏), thuộc Mãn Châu Chính Bạch kỳ. Tuy nhiên xuất xứ nguyên lai không hề như vậy.

Hiếu Thục Hoàng hậu xuất thân từ một tộc khai thủy bởi Ngang Quả Đô Lý Ba Nhan (昂果都理巴顏), một nhân sĩ thời nhà Minh. Con trai cả của Ngang Quả Đô Lý Ba Nhan là Đô Lý Kim Đô Đốc (都理金都督) có vị thế rất cao trong xã hội Nữ Chân thời Minh, cũng sản sinh ra nhiều nữ quyến cho nhà Thanh, như vợ của Thanh Hưng Tổ Phúc Mãn, tằng tổ mẫu của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích là huyền tôn nữ của Đô Lý Kim Đô Đốc. Mẹ đẻ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng là trong dòng tộc này.

Vì tính đặc thù quan hệ, gia tộc này được gọi là Cữu gia (舅家), được trọng dụng thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích và Hoàng Thái Cực, chủ yếu coi sóc Vĩnh Lăng là mộ phần tổ tiên. Khi Thanh nhập quan, vì thân phận của họ mà không thể “Tòng long nhập quan”, do đó về sau khi Mãn Thanh nhập quan, họ chỉ là một gia tộc vùng Đông Bắc, không thể tiến thân quan trường.

Tổ tiên của Hiếu Thục Hoàng hậu thuộc chi của con trai thứ 5 của Ngang Quả Đô Lý Ba Nhan là Tát Bích Đồ (薩璧圖). Trong Hỉ Tháp Lạp thị ban hệ, cũng chỉ được xem là thứ hệ mà thôi. Vào thời Thanh sơ, huyền tôn của Tát Bích Đồ là A Tháp (阿塔) không dự việc coi Vĩnh Lăng, mà tham dự Chính Bạch kỳ Bao y Tá lĩnh, có thể “Tòng long nhập quan”, từ đó mới danh chính ngôn thuận vào triều làm quan. Con trai A Tháp là Tráp Cách (扎格), là Bao y Tá lĩnh, con Tráp Cách là An Thái (安泰) cũng là Nội Vụ phủ Nhàn tán Bao y. Con của An Thái là Ái Tinh A (愛星阿), làm Nội Vụ phủ Viên ngoại lang Chính ngũ phẩm, đến con của Ái Tinh A là Thường An (常安) làm Nội Vụ phủ Bái đường a, vị Thường An này chính là tổ phụ của Hiếu Thục Hoàng hậu. Đến đây gia tộc bà vẫn không đủ trọng vọng. Nhưng, có một người trong họ là Lai Bảo (來保), tính ra là đường huynh đệ không cùng chi với Thường An, trong năm Khang Hi từ Khố sử xuất sĩ, làm Nội Vụ phủ Tổng quản thời Ung Chính, đến thời Càn Long lại làm đến Thượng thư, Võ Anh điện Đại học sĩ, là một thời danh thần. Căn cứ 《Bát Kỳ thông chí - 八旗通志》, Đệ nhất Tham lĩnh Đệ thập bát Tá lĩnh, từ năm Càn Long thứ 6 (1741), ra chỉ thoát khỏi Bao y thân phận, chuyển thành Mãn Châu Chính Hoàng kỳ Thế quản Tá lĩnh, lấy Đại học sĩ Lai Bảo quản tiếp. Từ đó, một chi A Tháp thoát khỏi Bao y xuất thân, đường hoàng trở thành một gia tộc thuộc Chính Bạch kỳ, một trong Thượng Tam kỳ lúc bấy giờ[1].

Phụ thân của Hoàng hậu là Hòa Nhĩ Kinh Ngạch (和尔经额), từ Nội Vụ phủ xuất thân, do có năng lực nên dần lên Phó Đô thống, thuộc hàng Tam phẩm, đây mới là lúc gia tộc của bà mới chân chính khai quang. Về sau, ông được tặng Thừa Ân công (承恩公). Hòa Nhĩ Kinh Ngạch có 3 vợ cả: nguyên phối Qua Nhĩ Giai thị, kế thất Lý Giai thị rồi Vương Giai thị, Hiếu Thục Hoàng hậu là Vương Giai thị sinh ra. Trong nhà bà có 4 người anh em khác, trưởng huynh Thịnh Trụ (盛住), thứ huynh Long Trụ (隆住) qua đời sớm, tam huynh Mạnh Trụ (孟住) và tứ đệ Linh Trụ (齡住).

Tiền trình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 39 (1774), ngày 27 tháng 4, Hỉ Tháp Lạp thị thành thân với Hoàng tử Vĩnh Diễm, Hoàng tử thứ 15 của Thanh Cao Tông Càn Long Hoàng đế, bà được phong vị Phúc tấn của Hoàng thập ngũ tử.

Càn Long Đế cũng như Khang Hi Đế, khi chọn hôn phối Hoàng tử Hoàng tôn, đều dùng thức Phê thứ (批次). Cái gọi là Phê thứ, chính là so tuổi tác, dung mạo của Hoàng tử Hoàng tôn với tuyển tú nữ xem tương xứng không, rồi mới quyết định. Theo cách Càn Long Đế tự nhận, năm Càn Long thứ 38 (1773) thì ông đã bí mật lập Hoàng thập ngũ tử Vĩnh Diễm làm Trữ quân, như vậy vào năm sau (1774) chỉ định Vĩnh Diễm kết hôn cùng con gái của Hòa Nhĩ Kinh Ngạch là Hỉ Tháp Lạp thị, chính là đã cân nhắc sau khi chọn Vĩnh Diễm làm Trữ quân. Cái đáng nói là trong cả dàn xếp hôn nhân, chỉ có được định kế vị Vĩnh Diễm là lấy một cô gái xuất thân tầm trung, lại là Bao y xuất thân[2]. Có thể là vì muốn che giấu ý định lập Vĩnh Diễm làm Trữ quân, nên Càn Long Đế mới như vậy lựa chọn chăng.

Nếu so ra, Càn Long Đế chỉ hôn tương đối chọn lựa xuất thân. Hoàng thập nhất tử Vĩnh Tinh được ban con gái của Đại học sĩ Phó Hằng, là bào đệ của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu; ngoài ra còn Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ, được chỉ hôn cho con gái Mông Cổ Vương công, dù rằng Vĩnh Cơ không được Càn Long Đế sủng ái. Hơn nữa, sau khi chỉ hôn cho Vĩnh Diễm, Càn Long Đế còn đem Vĩnh Lân, em ruột cùng mẹ của Vĩnh Diễm, chỉ hôn cho Hoằng Nghị công phủ Ngạch Diệc Đô Nữu Hỗ Lộc thế gia nữ quyến, là con gái út của Quả Nghị công, Hình bộ Thượng thư, Lưỡng Quảng Tổng đốc A Lý Cổn. Như vậy việc chọn cho Trữ quân Vĩnh Diễm một nữ tử Bao y xuất thân, nếu không vì che giấu ý định bí mật lập trữ, chỉ có thể là do Hoàng đế không coi trọng cuộc hôn nhân này của Vĩnh Diễm.

Năm Càn Long thứ 45 (1780), ngày 3 tháng 4, bà sinh hạ Hoàng nhị nữ, lên 3 tuổi thì chết yểu. Năm thứ 47 (1782), ngày 10 tháng 8, giờ Dần, sinh hạ Hoàng nhị tử Miên Ninh (綿寧), tức Thanh Tuyên Tông. Và vào năm thứ 49 (1784), ngày 7 tháng 9, giờ Thân, sinh hạ Hoàng tứ nữ, tức Cố Luân Trang Tĩnh Công chúa (莊静固倫公主), con gái thứ tư của Vĩnh Diễm. Căn cứ Thanh Cung y án ghi lại, Hỉ Tháp Lạp thị vào cung thì thân thể tương đối khỏe mạnh. Chỉ là về sau khi sinh hạ Hoàng nhị nữ, liên tiếp thân thể chưa kịp điều phối lại sinh thêm Hoàng nhị tử rồi Hoàng tứ nữ, thân thể từ đó liên tục không tốt. Đây có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến về sau bà qua đời rất sớm.

Năm Càn Long thứ 54 (1790), Vĩnh Diễm chính thức sắc phong làm Gia Thân vương, Hỉ Tháp Lạp thị do đó trở thành Thân vương Phúc tấn.

Năm Càn Long thứ 60 (1796), ngày 13 tháng 10, Hoàng thái tử Vĩnh Diễm nối ngôi, sử gọi là Gia Khánh Đế. Thanh Cao Tông thoái vị, trở thành Thái Thượng hoàng.

Năm Gia Khánh nguyên niên (1797), ngày 4 tháng 1, lấy Đông các Đại học sĩ Vương Kiệt làm Chính sứ, Lễ bộ Hữu Thị lang Đa Vĩnh Vũ (多永武) làm Phó sứ, cẩm tiết, kim sách bảo, tấn phong Thái tử phi Hỉ Tháp Lạp thị thành Hoàng hậu[3]. Sách văn rằng:

Lúc này thân thể Hỉ Tháp Lạp thị Hoàng hậu đã suy yếu trầm trọng. Điểm đặc biệt là Thái Thượng hoàng Càn Long quyết định bỏ nghi thức chiếu cáo thiên hạ đối với danh vị Hoàng hậu của bà, cũng nói các quan viên không cần dâng biểu chúc mừng.

Tang sự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ Gia Khánh thứ 2 (1797), ngày 7 tháng 2 (âm lịch), Hỉ Tháp Lạp Hoàng hậu băng hà vì bạo bệnh, hưởng thọ 36 tuổi. Tạm quàn ở Cát An sở (吉安所). Sau khi Hoàng hậu qua đời, theo ý chỉ của Càn Long Thái Thượng hoàng đế, ra chỉ dụ:

Điều này có nghĩa là tang nghi của Hoàng hậu phải giản lược, vì không muốn mang đến kỳ tang tóc quá sớm khi Tân đế chỉ mới đăng cơ. Đây có thể xem là tang nghi cho Hoàng hậu tồi tệ nhất trong lịch sử nhà Thanh. Vào ngày cử tang tháng thứ nhất, Gia Khánh Đế còn đích thân tế rượu, nhưng sau đó 100 ngày, nhất - nhị - tam mãn nguyệt lễ, rồi một - hai - ba năm đầy lễ cũng chỉ phái con trai của bà là Miên Ninh đến túc trực.

Tháng 5, sách thụy hiệu là Hiếu Thục Hoàng hậu (孝淑皇后), chữ "Thục" có âm Mãn là 「Nemgiyen」, có nghĩa là "dịu dàng", "uyển thuận". Tạm an ở Tĩnh An trang (静安庄). Năm Gia Khánh thứ 8 (1803), ngày 11 tháng 10, phụng kim quan đến Tây lăng. Ngày 22 tháng 10, Kim quan của Hiếu Thục Hoàng hậu được táng ở Xương lăng (昌陵), thuộc Thanh Tây lăng.

Niềm an ủi của bà có lẽ là con trai bà về sau trở thành Đạo Quang Đế, 3 người anh em bà tuy không xuất sắc nhưng cũng được Gia Khánh Đế trọng dụng, bổ làm Nội Vụ phủ Đại thần, Thượng thư, Trấn giữ Tướng quân. Các cháu bà kế thừa tước Thừa Ân công, Khánh Lâm cháu trai bà làm Phụng Thiên phủ Doãn, Sùng Luân làm đến Tuần phủ Hồ Bắc, đến Vãn Thanh có diễn viên Hề Khiếu Bá (奚啸伯) là hậu duệ trong tộc của bà.

Các thời Đạo Quang, Hàm Phong, Đồng Trị về sau truy phong bà thụy hiệu là Hiếu Thục Đoan Hòa Nhân Trang Từ Ý Đôn Dụ Quang Thiên Hựu Thánh Duệ Hoàng hậu (孝淑端和仁庄慈懿敦裕昭肅光天佑聖睿皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Phim ảnh truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim truyền hình Diễn viên Nhân vật
2008 Mẹ chồng khó tính
(我的野蛮奶奶)
Hoàng Kỉ Oánh
黃𨥈瑩
Hỉ Tháp Lạp·Hiếu Thục
(喜塔臘·淑睿)
2010 Vạn phụng chi vương
(萬凰之王)
Tống Hi Niên
宋熙年
Hiếu Thục Hoàng hậu
2015 Trương Bảo Tử
(張保仔)
Tạ Tuyết Tâm
谢雪心
Thuần Quý phi
(淳貴妃)
2018 Thiên mệnh
(天命)
Thẩm Trác Doanh
沈卓盈
Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《八旗通志》中的记载:第一参领第十八佐领,系乾隆六年由正白旗内务府抬入正白旗满洲世管佐领,以大学士来保管理。来保故,以其子员外郎诚伦管理。诚伦故,以其子云麾使灵椿管理,续以护军参领瑚尔太管理。瑚尔太故,以副都统哈清阿管理。哈清阿升任西安府副都统,以副都统阿必达管理。阿必达告退,以一等男兼二等侍卫穆克登额管理。(谨案:新增第十八佐领,乾隆六年五月因原任大学士来保宣力有年,奉旨由正白旗内务府抬入正白旗满洲,赏给世管佐领,令来保管理,续以其子诚伦、孙灵椿承袭。乾隆三十七年七月奉旨作为公中佐领)
  2. ^ Bao y (包衣): một giai cấp thuộc hàng gia nô thấp kém trong Bát Kỳ Mãn Châu.
  3. ^ 《清仁宗实录》上奉太上皇帝命。遣东阁大学士王杰、为正使。礼部右侍郎多永武、为副使。持节、赍册、宝、册立嫡妃喜塔腊氏为皇后。敕曰。抚临万国。先占家吉之贞。表率六宫。宜正坤元之。位遵睢麟之王化。仪辅孚邦。布穜稑于天官。职崇修壸。尔皇太子妃喜塔腊氏。祥传渭涘。淑著河洲。珩璜习虞汭之容。褕翟谨周门之则分荣少海。方宠命之司承。佐治内朝。尚徽音之克嗣。庆际十全之岁。肃肃鸡鸣。欢承五福之堂。诜诜螽羽。兹以皇帝嗣位初元是用立尔为皇后。锡以金册金宝。于戏。绎三朝之宝训敏德兰闱。树九室之芳型。扬辉桂殿钦此兹朕谨遵奉太上皇帝敕旨。举行册立典礼。尚其祗承无斁。
  4. ^ 仁宗当天下达上谕,说“王公大臣官员等虽有素服之例,但皇后册立甫及一年,母仪未久,且昕夕承欢,诸取吉祥。此七日内,圆明园值日奏事之王大臣等及引见人员俱著常服,惟不挂珠。此礼以义起,天下臣民等自当共喻朕崇奉皇父孝思,敬谨遵行,副朕专隆尊养至意。”即是为了照顾太上皇高宗,而减轻了孝淑睿皇后丧仪的规格。