Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu
孝全成皇后
Đạo Quang Đế Hoàng hậu
《孝全成皇后朝服像》.jpg
Hoàng quý phi Đại Thanh
(Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi)
Tại vị 15 tháng 8, 1833
- 18 tháng 10, 1834
Tiền nhiệm Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 18 tháng 10, 1834
11 tháng 1, 1840
Đăng quang 18 tháng 10, 1834
Tiền nhiệm Hiếu Thận Thành Hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Tuyên Tông
Đạo Quang Hoàng đế
Hậu duệ
Thụy hiệu Hiếu Toàn Từ Kính Khoan Nhân Đoan Khác An Huệ Thành Mẫn Phù Thiên Đốc Thánh Thành Hoàng hậu
(孝全慈敬宽仁端悫安惠诚敏符天笃圣成皇后)
Thân phụ Nữu Hỗ Lộc Di Linh
Thân mẫu Ô Nhã thị
Sinh (1808-03-24)24 tháng 3, 1808
Tô Châu, Trung Quốc
Mất 13 tháng 2, 1840(1840-02-13) (31 tuổi)
Viên Minh Viên, Bắc Kinh
An táng 20 tháng 11
Mộ lăng (慕陵), Thanh Tây lăng

Hiếu Toàn Thành hoàng hậu (chữ Hán: 孝全成皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡤᡝᠮᡠᠩᡤᡝ
ᡧᠠᠩᡤᠠᠨ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga gemungge šangga hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga gemungge xangga hvwangheu; 24 tháng 3, năm 1808 - 13 tháng 2, năm 1840), là Hoàng hậu thứ hai của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Hoàng đế và là mẹ của Thanh Văn Tông Hàm Phong Hoàng đế.

Bà là vị thê tử rất được Đạo Quang Đế sủng ái, bằng chứng rằng chỉ vừa mang thai mà đã tấn phong vượt cấp, và bà cũng là một trong những hậu phi có tốc độ thăng cấp nhanh nhất trong lịch sử hậu cung nhà Thanh, nhanh chóng đoạt được địa vị Hoàng hậu tối cao trong hậu cung. Cái chết đột ngột và mờ ám của bà từng là một trong những bí ẩn lớn nhất trong hậu cung nhà Thanh.

Gia cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Toàn hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị.

Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu sinh ngày 28 tháng 2 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 13, xuất thân từ gia tộc Mãn Châu Tương Hoàng kỳ Nữu Hỗ Lộc thị. Cứ theo sự hiểu biết thời xưa, nhiều nhận định cho rằng bà là thân tộc của Hoằng Nghị công phủ Nữu Hỗ Lộc thế gia, hậu duệ của Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô. Nhưng thực tế lại không như vậy.

Dòng dõi Mãn Thanh cũng như ở Trung nguyên, trường hợp trùng họ rất nhiều, và để phân biệt thì phải lấy tên nơi phát tích, hoặc chỉ rõ là thuộc gia tộc của ai (như cách gọi Hoằng Nghị công phủ Nữu Hỗ lộc thế gia). Tỉ như Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Phú Sát thị, và Triết Mẫn Hoàng quý phi đều có họ Phú Sát thị, song gia tộc của Hiếu Hiền hoàng hậu là Sa Tế Phú Sát thị đại thế gia, còn dòng của Triết Mẫn Hoàng quý phi chỉ là một tiểu tộc thấp kém. Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô là thế hệ 4 đời của Tác Hòa Tế Ba Nhan (索和济巴颜), ngoài ra còn là cháu của Cát Cáp Sát Loan (噶哈察鸾), tức tổ tiên 8 đời của Hòa Thân nổi tiếng triều Thanh. Cứ theo "Thể phổ gia tộc" của Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu, gia tộc của bà không có liên quan đến hai đại gia tộc này của Nữu Hỗ Lộc.

Gia thế của bà ban đầu thuộc Mãn Châu Chính Hồng kỳ nhưng về sau đổi thành Tương Hoàng kỳ. Cứ liệu hiện có không thể truy nguyên tổ tiên nhiều đời của gia tộc Hiếu Toàn Hoàng hậu, nhưng nhìn chung là tương đối thấp kém. Tằng tổ phụ của bà là Càn Long triều Trú tàng tướng quân Thành Đức (成德), xuất thân từ Kiện Duệ doanh lính vệ, nói cách khác nguyên bản là tên lính xuất thân. Dưới thời Càn Long, sĩ tộc Bát kỳ đã sớm hình thành, thế gia đệ tử chủ yếu lấy môn ấm hoặc khoa cử xuất sĩ, kém cỏi nhất cũng là thông qua thi đậu bút thiếp thức xuất sĩ, rất ít đi chọn bổ binh thiếu, càng sẽ không bị dời đến ngoài thành doanh trại cư trú. Thành Đức loại này xuất thân, cơ bản chứng minh ông không phải là quan lại nhân gia đệ tử. Về sau Thành Đức dần lập công binh, mới trở thành võ tướng có tiếng tăm, gia cảnh mới vực lên.

Tổ phụ là Mục Khắc Đăng Bố (穆克登布), cũng là binh lính xuất thân, sau hi sinh, tặng Nhị đẳng Nam (二等男), do con cháu thế tước. Con của Mục Khắc Đăng Bố là Di Linh (颐龄), nguyên nhậm Tô Châu trú phòng Tướng quân (苏州驻防将军), Càn Thanh môn Nhị đẳng Thị vệ (乾清门二等侍卫), lãnh Nhị đẳng Nam tước thế tập từ cha, do vậy lấy tước hiệu xuất sĩ, nề nếp gia đình từ đó thay đổi theo hướng ngũ lữ thế gia. Mẹ bà là Ô Nhã thị, là chính thê, nhưng không rõ có hay không thuộc gia tộc của Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu. Trong nhà bà có một người anh em trai tên Ân Tử (恩绪), về sau tập tước Nam tước, lại thêm Đầu đẳng Thị vệ (头等侍卫), trong năm Đạo Quang từng phạm phá án, không được yêu thích.

Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị lớn lên tại Tô Châu, là địa bàn mà cha bà phòng ngự. Tác giả Thanh cung từ (清宫词) ghi lại rằng bà rất thông tuệ, giỏi nhiều thứ đặc biệt là thơ ca và thư pháp.

Tiền trình[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu cung tần phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đạo Quang thứ 2 (1822), triều đình mở cuộc tuyển chọn Bát kỳ tú nữ, là Mãn Châu Bát kỳ tuyển tú lần thứ nhất dưới triều Đạo Quang Đế. Nữu Hỗ Lộc thị khi 13 tuổi đã trúng tuyển trong đợt tuyển chọn đó, cùng với Tường Quý nhân, Thường Quý nhân cùng Trân Quý nhân, bà được phong vị Quý nhân, phong hiệu là Toàn (全).

Căn cứ Hồng xưng thông dụng (鸿称通用), phong hiệu Toàn theo Mãn ngữ là 「Gemungge」, liên hệ với 「Gemu」 nghĩa là "Toàn bộ". Toàn Quý nhân đã tuổi trẻ lại thông minh, thực mau được Đạo Quang Đế thiên vị, hơn hẳn bất kì ai trong hậu cung.

Trong năm đó, tháng 7, bà được thăng lên hàng Toàn tần (全嬪), trong các Quý nhân nhập cung bà là duy nhất trực tiếp thăng Tần. Khi đó, Hiếu Thận Thành Hoàng hậu Đông Giai thị còn chưa chính thức sắc phong (phải đợi tới tháng 11). Sau khi Đông Giai Hoàng hậu được phong, sách lễ của Toàn tần mới hoàn thành.

Năm Đạo Quang thứ 3 (1823), ngày 12 tháng 2 (tức 24 tháng 3 dương lịch), chiếu tấn Toàn phi (全妃). Ngày 25 tháng 11, lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Hộ bộ Thượng thư Anh Hòa (英和) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Dịch Kinh (奕经) làm Phó sứ, tuyên Toàn phi sách phong lễ[1]. Khi đó cũng chỉ vừa 15 tuổi. Nữu Hỗ Lộc thị vào cung không đến hai năm, liền từ Quý nhân tấn chức Phi, danh vị được đến như thế nhanh chóng đứng vào hàng Tứ phi, cũng đủ để chứng minh bà rất được Đạo Quang Đế sủng ái, cơ hồ có thể khẳng định là độc bá chuyên sủng.

Năm Đạo Quang thứ 4 (1824), đầu mùa hạ, Toàn phi mang thai. Ngày 10 tháng 8, tuyên tấn phong làm Toàn Quý phi (全貴妃).

Vào ngày 20 tháng 2 (tức 8 tháng 4 dương lịch) năm thứ 5 (1825), giờ Dần, Toàn Quý phi hạ sinh Hoàng tam nữ Cố Luân Đoan Thuận Công chúa (固倫端順公主). Dù chỉ là công chúa thứ xuất, Đạo Quang Đế vẫn rất hoan hỉ, đối với Tường tần hạ sinh Hoàng nhị nữ trước đó cực khác biệt. Một tháng sau, ngày 13 tháng 4 (tức 30 tháng 5 dương lịch), lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Hộ bộ Thượng thư Anh Hòa làm Chính sứ, Lễ bộ Tả thị lang Uông Thủ Hòa (汪守和) làm Phó sứ, hành Quý phi sách phong lễ[2].

Năm thứ 6 (1826), ngày 6 tháng 4 (tức 12 tháng 5 dương lịch), giờ Dậu, hạ sinh Hoàng tứ nữ Cố Luân Thọ An Công chúa. Ngày 9 tháng 6 (tức 17 tháng 7 dương lịch) năm thứ 11 (1831), giờ Sửu, hạ sinh Hoàng tứ tử Dịch Trữ, tương lai Hàm Phong Đế.

Năm thứ 13 (1833), ngày 15 tháng 8 (tức 28 tháng 9 dương lịch), chiếu tấn Hoàng quý phi, gọi là Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi (摄六宫事皇贵妃), tuy danh nghĩa Hoàng quý phi, nhưng thực tế đã có đãi ngộ Hoàng hậu. Dự định tháng 10 sang năm sách phong Hoàng hậu.

Sách lập Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm sau (1834), ngày 18 tháng 10, lấy Văn Họa điện Đại học sĩ Trường Linh (长龄) làm Chính sứ, Lễ bộ thượng thư Dịch Hạo (奕颢) làm Phó sứ, sách phong Hoàng hậu, khi năm 26 tuổi. Sách văn rằng:

Lúc này, gia đình bà mới hiển quý, gia tộc chính thức nhập vào Mãn Châu Tương hoàng kỳ. Cha bà Di Linh được tặng Tam đẳng Thừa Ân công (三等承恩公). Sang năm (1835), con gái trưởng của bà Cố Luân Đoan Thuận Công chúa qua đời vì đậu mùa.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đạo Quang thứ 20 (1840), ngày 11 tháng 1 (âm lịch), giờ Sửu, Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu qua đời tại Viên Minh Viên, chung niên 33 tuổi. Đạo Quang Đế nghe tin Hoàng hậu băng thệ, lập tức đến coi, Cung Từ Hoàng thái hậu sau đó cũng đến. Sau khi liệm, Hoàng hậu kim quan tạm quàn ở Đạm Hoài đường (澹怀堂), chính điện của Trường Xuân viên (长春园).

Lễ tang của bà được tổ chức rất long trọng. Hoàng đế chỉ dụ lấy Huệ Thân vương Miên Du, Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần Dụ Thành (裕诚), Lễ bộ Thượng thư Khuê Chiếu (奎照), Công bộ Thượng thư Liêu Hồng Nguyên (廖鸿荃) làm Tổng lý quốc tang đại thần. Sau Chiến tranh Nha phiến, quốc khố không nhiều, Đạo Quang Đế thường ngày tiết kiệm vẫn trịnh trọng tổ chức lễ tang lớn cho bà. Ông đổi mặc áo trường bào quái màu xanh trong vòng 13 ngày. Từ ngày 11 đến 23, trong vòng 13 ngày, Hoàng đế tự mình mỗi ngày đến trước linh cữu của Hoàng hậu mà tưới rượu. Ngày 17, Hoàng thái hậu đến linh cữu tưới rượu.

Ngày 19 tháng 2, Hoàng đế ra chỉ dụ tán thưởng Hoàng hậu:"Quyến huy âm chi phi trứ, hàm ngưỡng di quy; nghi 媺 thụy chi sùng gia, thức chiêu mậu điển. Niệm tự nhập cung y thủy, tức triệu tích dĩ gia danh; hất hồ chính vị dĩ lai, tuân khắc phù hồ thật hành. Phụng từ vi nhi thành thuận hiếu, bỉnh thục đức nhi trứ thuần toàn. Duy Hiếu Toàn nhị tự chi huy xưng, cai Hoàng hậu nhất sinh chi ý phạm."[3].

Từ câu nói này, Hoàng đế tự mình truy phong thụy hiệu cho Hoàng hậu là Hiếu Toàn Hoàng hậu (孝全皇后), là chính do Đạo Quang Đế kê bút đặt định. Trong lịch đại hậu cung nhà Thanh, thụy hiệu do đích thân Hoàng đế đề ra không nhiều, trước đó chỉ có Khang Hi Đế tự đặt cho Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu, và Càn Long Đế tự đặt cho Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu. Từ chi tiết này, có thể thấy cảm tình thâm hậu của Đạo Quang Đế đối với Hiếu Toàn Hoàng hậu.

Ngày 23 tháng 1, Đạo Quang Đế đến trước linh cữu Hoàng hậu tưới rượu, cởi phục. Cũng trong ngày này, kim quan của Hiếu Toàn Hoàng hậu được đưa đến Kiến Đức điện (观德殿) ở Cảnh Sơn. Ngày 1 tháng 4, cử hành sách thụy lễ. Đạo Quang Đế thăng phụ Thái Hòa môn, mệnh Duệ Thân vương Nhân Thọ (仁寿) làm Chính sứ, Di Thân vương Tái Viên (载垣) làm Phó sứ, tê sách bảo, nghệ Kiến Đức điện, sách thụy Đại Hành hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị thụy hiệu Hiếu Toàn Hoàng hậu.

Sách thụy văn viết:

Ngày 27 tháng 10, kim quan của Hiếu Toàn Hoàng hậu được đưa đến Thanh Tây lăng. Ngày 3 tháng 11, đến Long Tuyền dục, đỗ ở Long Ân điện (隆恩殿). Ngày 4 tháng ấy, Đạo Quang Đế từ kinh sư khởi loan đến Tây lăng, tham gia Vĩnh an đại điển của Hiếu Toàn Hoàng hậu. Sau khi bái yến các lăng theo thông lệ, Hoàng đế lại đến trước kim quan của Hiếu Toàn Hoàng hậu tưới rượu.

Ngày 9 tháng 11, phụng an Mộ lăng (慕陵). Giờ Dần, Hoàng đế vào địa cung quyết biệt Hiếu Toàn Hoàng hậu, ngay sau đó đưa thần bài nhập Long Ân điện. Ngày 9 tháng 12, giờ Mẹo, đưa thần bài Hiếu Toàn Hoàng hậu nhập Phụng Tiên điện.

Về sau, các triều Hàm Phong, Đồng Trị, Quang Tự dâng thêm thụy hiệu cho bà, toàn bộ là: Hiếu Toàn Từ Kính Khoan Nhân Đoan Khác An Huệ Thành Mẫn Phù Thiên Đốc Thánh Thành Hoàng hậu (孝全慈敬宽仁端悫安惠诚敏符天笃圣成皇后).

Lý giải cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng Hiếu Toàn Hoàng hậu trong Hiếu Toàn Hoàng hậu hành lạc đồ (孝全成皇后行乐图).

Thẹn mà tự tử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu đắc sủng, từ Quý nhân nhanh chóng trở thành Hoàng hậu, để rồi đột ngột qua đời khi chưa ở ngôi được 10 năm. Cái chết của bà khiến nhiều sử gia rất nghi ngờ và đặt ra nhiều giả thuyết, từng là một đề tài nóng của giới sử gia. Một trong những thuyết về cái chết của bà nói rằng bà vì hổ thẹn mà tự sát.

Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu sau khi vào cung, nhanh chóng trở thành Hoàng hậu, nắm chủ hậu cung, tuy có được ân sủng tuyệt đối của Đạo Quang Đế, nhưng phía trên hậu cung còn có Cung Từ Hoàng thái hậu Nữu Hỗ Lộc thị, mẹ cả của Đạo Quang Đế, là một người rất nghiêm khắc và quy củ.

Thanh cung từ - 清宫词 đương thời có nói qua về hành trạng của bà. Ngoài mô tả cuộc sống của bà ở Tô Châu, còn nói đến rằng cái chết của bà có nhiều điều quỷ dị và gây xôn xao lúc bấy giờ. Trong đó có một câu:

Tác giả nguyên chú: "Hiếu Toàn Hoàng hậu từ Hoàng quý phi nhiếp lục cung sự, toàn chính trung cung. Mấy năm sau thì bạo băng, việc nhiều bí ẩn. Lúc đó Cung Từ Hoàng thái hậu ở trên, gia pháp nghiêm ngặt, Tuyên Tông cũng không dám trái mệnh"[5].

Cứ vào thơ hàm ý, Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu là do uống rượu trong bữa tân niên mà bạo băng. Còn "Ôn Thành quý sủng thương bàn thủy", ý câu này nhắc lại chuyện của Ôn Thành Hoàng hậu Trương thị của Tống Nhân Tông. Khi đó Trương phi cậy sủng sinh kiêu. Và câu thơ còn liên hệ tới sự kiện vào năm Khánh Lịch thứ 8 (1048), trong cung đại hỏa, Tào Hoàng hậu dẫn cung nhân dập lửa, hầu như ám chỉ Cung Từ Thái hậu. Sử chép rằng Trương phi ỷ sủng sinh kiêu, từng can thiệp triều chính, từng do đó xin tước quan cho bá phụ Trương Nghiêu Tá. Có lẽ rằng, cha của Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu là Di Linh từng hướng Đạo Quang Đế cầu quan, có lẽ đã bị Cung Từ Thái hậu trách cứ, Hoàng hậu hổ thẹn mà uống độc chết. Chân tướng đến tột cùng như thế nào, không có người dám lại truy tra, chỉ có thể không giải quyết được gì.

Bị Thái hậu bức chết[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Từ Hoàng thái hậu.

Thanh triều dã sử đại quán (清朝野史大觀) dẫn ra giả thiết Hiếu Toàn hoàng hậu vì mưu hại Dịch Hân, con trai của Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu nên bị Cung Từ Thái hậu buộc tự sát. Lại có thuyết nói, bà từng tính toán sinh con trước Tường phi, hòng có thể đạt ngôi Hoàng hậu, có người cấp báo Cung Từ Thái hậu khiến Thái hậu giận dữ, buộc Hoàng hậu tự sát[6].

Hầu hết các thuyết đều hướng Cung Từ Thái hậu ban chết Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu. Tương truyền, Đạo Quang năm thứ 15 (1835), Cung Từ Thái hậu đại thọ 60 tuổi, vì muốn làm vui lòng Thái hậu, Đạo Quang Đế tự sáng tác "Hoàng thái hậu lục tuần thọ tụng" 10 quyển, tại Thọ Khang cungKỷ Xuân viên luôn tụng thành mừng thọ. Hoàng hậu vì muốn làm hài lòng Hoàng đế và Thái hậu, cũng đến xem náo nhiệt. Vốn là người biết chữ, giỏi thi thơ, Hoàng hậu tự tay viết “Cung hòa ngự thi thập chương” rồi dâng lên Thái hậu. Vài ngày sau, Hoàng đế đến Thái hậu cung thỉnh an, có hỏi qua chuyện cũ, Thái hậu chỉ nói: "Hoàng hậu mẫn tuệ hơn người, không khỏi đáng tiếc.". Đạo Quang Đế thấy lời nói kì lạ, hỏi nguyên do, thì Thái hậu nói: “Phụ nữ lấy đức làm trọng, đức hậu mới có thể tái phúc, nếu ỷ vào một chút tài nghệ khoe khoang, khủng không phải người có phúc.”. Ngụ ý tức là “Nữ tử không tài mới là đức”.

Đạo Quang Đế sủng ái Hoàng hậu, không để trong lòng. Nhưng trong cung đồn thổi, liền đến tai Hoàng hậu. Hoàng hậu cho rằng mình là Nhất quốc chi mẫu, lại sinh hạ Hoàng tử, tương lai chắc chắn là Hoàng thái hậu, sao Thái hậu lại có thể xem thường, bèn bực bội không vui. Từ đó Hoàng hậu đến Thọ Khang cung thỉnh an cũng không câu nệ, lời nói có ý châm chọc, Cung Từ Thái hậu xuất thân cao, quen xu nịnh, nay không thể chịu được, mối quan hệ giữa hai người cũng bất hòa.

Đạo Quang năm thứ 19 (1839), Hoàng hậu nhiễm chút phong hàn, Cung Từ Thái hậu đại giá đến thăm hỏi. Sau khi khỏi, Hoàng hậu tự mình đi liễn kiệu đến Thọ Khang cung tạ ơn, mẹ chồng nàng dâu hai người thật sự vui vẻ, quan hệ tựa hồ chuyển biến tốt đẹp. Qua mấy ngày, Thái hậu tặng cho Hoàng hậu một lọ rượu, Hoàng hậu uống xong cách ngày thì bạo băng. Bởi như vậy, đa phần các thuyết nói Cung Từ Thái hậu là thủ phạm lớn nhất giết hại Hoàng hậu, nhưng không cách nào khảo chứng xác đáng.

Di chứng sinh nở[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Toàn Hoàng hậu và Đoan Thuận Công chúa.
Hiếu Toàn Hoàng hậu và Hàm Phong Đế lúc nhỏ.

Căn cứ Ký lục của bệnh án Thanh cung, Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu lần đầu có thai không phải Cố Luân Đoan Thuận Công chúa. Bà vào cung không lâu lại lập tức có thai, nên mới có chuyện được phong Phi vào năm Đạo Quang thứ 3 (1823), nhưng cũng trong lúc này thì bị sẩy thai. Mãi hai năm sau, bà mới sinh ra Cố Luân Đoan Thuận Công chúa cùng Cố Luân Thọ An Công chúa và Hàm Phong Đế. Nhưng từ đó thân thể bà không ổn, cũng là do lần sẩy thai đầu tiên, luôn là "hàn thấp hạ chú, kinh đái đẳng bệnh", cho thấy khi đó thân thể bà đã có tổn thương lớn.

Các suy đoán đều hướng Cung Từ Thái hậu ban chết Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu, thực tế cứ theo Thanh cung bệnh án thì khi sinh ra Hàm Phong Đế vào năm Đạo Quang thứ 11 (1831), dù còn rất trẻ nhưng bà đã sớm có những biểu hiện tàn hại cơ thể, thân hình gầy ốm, thiếu sức sống. Đặc biệt là chứng thường xuyên tắt kinh nguyệt, cho thấy thận khí suy kiệt chứng bệnh rất trầm trọng. Sau khi sắc lập Hoàng hậu, thì con gái Cố Luân Đoan Thuận Công chúa mất vì đậu mùa, rất có khả năng sự u buồn cũng góp phần tàn phá cơ thể của bà.

Thanh thực lục ghi chép vào năm Đạo Quang thứ 19 (1839), Đạo Quang Đế thường xuyên đi thăm bệnh của bà, chứng minh lúc ấy Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu bệnh tình đã tương đối nghiêm trọng. Sang năm thứ 20 (1840), ngày 4 tháng giêng, Đạo Quang Đế di cư Viên Minh Viên, Cung Từ Thái hậu di cư Kỷ Xuân Viên, thì ngày 6 Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu đột nhiên bệnh chuyển nghiêm trọng. Đạo Quang Đế đến Kỷ Xuân Viên thỉnh Hoàng thái hậu lập tức đến thăm Hoàng hậu. Đã tới nỗi phụng Hoàng thái hậu đến coi bệnh, chứng tỏ bệnh tình Hoàng hậu đã nguy kịch. Cuối cùng vào ngày 11, giờ Sửu, Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu băng thệ. Tư liệu đều biểu hiện, Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu đều không phải là là lập tức đột nhiên tử vong, mà là có mấy tháng quá trình.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cố Luân Đoan Thuận Công chúa (固倫端順公主; 8 tháng 4 năm 1825 - 27 tháng 12 năm 1835).
  2. Cố Luân Thọ An công Chúa (固倫壽安公主; 12 tháng 5 năm 1826 - 23 tháng 4 năm 1860), thành thân với Đức Mục Sở Khắc Trát Bố (德穆楚克扎布), người của gia tộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị Mông Cổ.
  3. Hoàng tứ tử Dịch Trữ [奕詝], tức Thanh Văn Tông Hàm Phong Hoàng đế.

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim ảnh truyền hình Diễn viên Nhân vật
1987 Mãn Thanh thập tam hoàng triều chi Đạo Quang Thái Thiện Như Toàn phi
1997 Đạo Quang bí sử Viên Vịnh Nghi Hiếu Toàn Thành hoàng hậu
2006 Đại Thanh hậu cung Phó Nghệ Vĩ Nữu Hỗ Lộc Tú Tâm/ Toàn quý phi/ hoàng hậu
2006 Nhất sinh vị nô Đới Xuân Vinh Hiếu Toàn Thành hoàng hậu
2011 Vạn phụng chi vương Tuyên Huyên Nữu Hỗ Lộc Y Lan

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 册文曰。朕惟兰闺懋教。鸣环扬九御之徽。椒殿襄勤。献茧肃六宫之职。允增辉于翟服。宜贲宠于鸾章。咨尔全嫔钮祜禄氏、粹质弥昭。芳型夙秉。珩璜表度。早懋著夫令仪。巾悦叨荣。荷优颁夫懿旨。兹仰承皇太后慈谕。晋封尔为全妃。申之册命。尔其蕃厘祗迓。益严彤史之箴。茂祉长膺。克赞紫庭之化。钦哉。
  2. ^ 册文曰。朕惟筴衍泰元。敷锡溥六宫之惠。仪彰坤顺。宣勤流九御之徽。宜贲彝章。式昭令典。咨尔全妃钮祜禄氏。肃雝播誉。端谨持躬。嘉佐职于瑶筐。椒涂赞化。荷升华于镠简。萱惟颁恩。兹仰承皇太后懿旨。晋封尔为全贵妃。申之册命。尔其祉福懋膺。长奉宸轩而延祜。恪恭允著。克襄壸掖以垂型。钦哉。
  3. ^ 他说:“睠徽音之丕著,咸仰遗规;宜媺谥之崇加,式昭懋典。念自入宫伊始,即肇锡以嘉名;迄乎正位以来,洵克符乎实行。奉慈闱而成顺孝,秉淑德而著醇全。惟孝全二字之徽称,赅皇后一生之懿范。”
  4. ^ Nguyên văn:如意多因少小怜,蚁杯鸩毒兆当筵,温成贵宠伤盘水,天语亲褒有孝全。
  5. ^ Nguyên văn:孝全皇后由皇贵妃摄六宫事,旋正中宫,数年暴崩,事多隐秘。其时恭慈皇太后尚在,家法森严,宣宗亦不敢违命也
  6. ^ 《清代后妃》,辽宁民族出版社,当代·王艳春李贤淑 ISBN 7-80644-903-5