Bát Nhĩ Tề Cát Đặc Trang phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Trang Hoàng Hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiêu Thánh thái hậu
Imperial Portrait of Empress Xiao Zhuang Wen.jpg
Hoàng thái hậu nhà Thanh
Tại vị 1643 - 1662
Thái hoàng thái hậu nhà Thanh
Tại vị 1662 - 1688
Thông tin chung
Phối ngẫu Hoàng Thái Cực
Hậu duệ Phúc Lâm
và 3 công chúa
Tên đầy đủ Bát Nhĩ Tề Cát Đặc Bố Mộc Bố Thái
Thụy hiệu Hiếu Trang Nhân Tuyên Thành Hiến Cung Ý Chí Đức Thuần Huy Dực Thiên Khải Thánh Văn Hoàng hậu
Hoàng tộc Nhà Thanh
Thân phụ Trung Thân vương Trại Tang
Thân mẫu Trung Thân vương Hiền phi
Sinh 28 tháng 3, 1613(1613-03-28)
Mất 27 tháng 1, 1688 (74 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Nhà Thanh
An táng Chiêu Đông lăng, Thẩm Dương, Liêu Ninh, Trung Quốc

Bát Nhĩ Tế Cát Đặc Trang phi (chữ Hán: 博爾濟吉特莊妃; 28 tháng 3, năm 1613 - 27 tháng 1, năm 1688), thường được gọi là Chiêu Thánh hoàng thái hậu (昭圣皇太后), là một phi tần của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, mẹ của Thanh Thế Tổ.

Chiêu Thánh Thái hậu được biết đến với tài trí và khả năng chính trị của mình, được sử sách tôn vinh là người có sức ảnh hưởng và đóng góp to lớn trong việc ổn định trong buổi ban đầu khi lập quốc của nhà Thanh, đặc biệt mối quan hệ giữa bà và Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn, giúp con trai bà Thuận Trị ổn định ngai vàng khi còn quá nhỏ tuổi. Bà còn có vai trò dẫn dắt quan trọng đối với cháu của mình là Khang Hi, giúp Khang Hi ổn định căn cơ và mở ra một thời đại thịnh trị nổi tiếng.

Bà được đánh giá cao trong lịch sử nhà Thanh, vượt xa con cháu mình là Từ Hi Thái hậu, người đã đưa triều đại này đến sự diệt vong.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vĩnh Phúc cung Trang phi Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (永福宫莊妃博爾濟吉特氏)

Thái hậu nguyên là cách cách thuộc bộ tộc Bác Nhĩ Tề Cát Đặc, con gái của Trại Tang (寨桑), một Bối lặc của bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm, Mông Cổ và là hậu duệ đời thứ 18 của Cáp Tát Nhĩ, em trai Thành Cát Tư Hãn.

Tên đầy đủ của bà là Bát Nhĩ Tề Cát Đặc Bố Mộc Bố Thái (博爾濟吉特布木布泰). Ngoài ra theo dã sử còn có tên Hán khác là Đại Ngọc Nhi (大玉儿). Trong dân gian, bà là đệ nhất mỹ nhân của tộc Mãn - Mông, bà còn có tài trí hơn người với khả năng nói được cả ba thứ tiếng Mãn - Mông - Hán.

Năm 1625, bà kết hôn với Hoàng Thái Cực khi được 12 tuổi, mang tước hiệu Trắc Thất phúc tấn (側室福晉). Năm 1636, thành lập nhà Thanh, Hoàng Thái Cực lập ra Tứ phi, bà được phong Trang phi (莊妃), tại Vĩnh Phúc cung, gọi là Vĩnh Phúc cung Trang phi (永福宫莊妃), là phi tần có địa vị thấp nhất trong 4 người. Hiếu Đoan hoàng hậu, chính thất của Hoàng Thái Cực là cô ruột của bà, đồng thời Nguyên phi Cáp Nhật Châu Lạp, sủng phi của Hoàng Thái Cực, là chị gái của bà.

Ngày 15 tháng 3, năm 1638, Trang phi sinh hạ cho Hoàng Thái Cực hoàng tử thứ 9 là Phúc Lâm, tức Thanh Thế Tổ Thuận Trị hoàng đế. Ngoài ra trước đó bà còn sinh ra 3 vị công chúa gồm: Cố Luân Ung Mục, Cố Luân Thục TuệCố Luân Thục Triết.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1643, hoàng đế Hoàng Thái Cực băng hà tại Thịnh Kinh. Ông không để lại chiếu thư, điều này đã gây nên sự xung đột tranh chấp ngôi vị trong nội bộ hoàng tộc lúc bây giờ giữa hai thế lực là Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn, người em thứ mười bốn cùng cha khác mẹ của Hoàng Thái Cực, là tướng soái đứng đầu Bát Kỳ và Túc thân vương Hào Cách, con trai cả của Hoàng Thái Cực.

Trong tình cảnh lúc đó, Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn người có quyền lực nhất trong tám vị Nghị chính Đại thần, đã ý thức được rằng cán cân quyền lực chính trị và quân sự giữa hai bên bằng nhau, bất cứ bên nào lên làm vua đều làm mất thế cân bằng, gây ra sự xung đột và chiến tranh ngay trong nội bộ triều nhà Thanh, trong khi nhiệm vụ quan trọng của triều đình là dẫn quân nhập quan, tiến đánh nhà Minh, chiếm thành Bắc Kinh.[cần dẫn nguồn] Cuối cùng, ông quyết định lập người con thứ chín của Hoàng Thái Cực là Phúc Lâm kế vị. Một phần là do Cửu hoàng tử, là người có tư chất thông minh, vừa là con của Trang phi, là một trong những phi tần hậu cung. Một phần, là do mối quan hệ giữa Đa Nhĩ Cổn và Đại Ngọc Nhi, một câu chuyện còn mang một làn sương bí ẩn, gây ra nhiều tranh luận trong giới học giả.[cần dẫn nguồn]

Sau khi con bà là Phúc Lâm lên ngôi, tức Thanh Thế Tổ (Thuận Trị), Trang phi được tôn làm Chiêu Thánh Từ Thọ hoàng thái hậu (昭圣慈寿皇太后). Do lúc đó Thuận Trị chỉ mới sáu tuổi, tám vị Nghị chính Đại thần bầu ra hai vị là Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn và Trịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng làm hai vị Nhiếp chính vương, Chính Hoàng kỳ của Hoàng Thái Cực được chỉ huy dưới tay của Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn.

Năm 1644, Lý Tự Thành tiến công Bắc Kinh, vua Sùng Trinh tự vẫn tại núi Vạn Thọ, nhà Minh diệt vong. Cha của Ngô Tam Quế bị Lý Tự Thành giết rồi treo trên cổng thành, Ngô Tam Quế uất hận gửi thư cầu viện nhà Thanh, mở cửa Sơn Hải Quan cho thiết kỵ quân Bát Kỳ tiến vào trung nguyên. Đầu hạ năm 1644, sau khi đã đánh tan quân Lý Tự Thành, Đa Nhĩ Cổn đã tiến thẳng vào thành Bắc Kinh với danh nghĩa để tang cho Sùng Trinh.[cần dẫn nguồn]

Thái hậu đóng một vai trò rất lớn trong triều của người con trai bà là Thuận Trị. Bà ít khi tham dự chuyện triều chính nhưng bà là cán cân giữ sự cân bằng trong mối quan hệ giữa hoàng đế và Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn, một mối quan hệ luôn là câu hỏi đối với giới sử học.

Thái hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Trang Thái hoàng thái hậu

Năm 1661, Thuận Trị băng hà vì bệnh đậu mùa khi chỉ mới 22 tuổi. Thái hậu chọn hoàng tử Huyền Diệp, con thứ ba của Thuận Trị, lên ngôi vua, tức Thanh Thánh Tổ (Khang Hi) cùng bốn vị Nghị chính Đại thần. Chiêu Thánh Thái hậu được tôn làm Thái hoàng thái hậu.

Trong suốt thời gian đó, Thái hoàng thái hậu đã có những cống hiến ít nhiều đối với triều đại nhà Thanh. Khi mẹ đẻ của Khang Hi là Từ Hòa Thái hậu qua đời, Thái hoàng thái hậu đã dạy dỗ ông và khuyến khích học tập những kinh nghiệm của các vị đại thần và đã hỗ trợ ông trị vì đất nước suốt thời gian sau này. [cần dẫn nguồn]

Năm 1677, quyền thần Ngao Bái đe dọa ngai vàng, Thái hoàng thái hậu đã hỗ trợ Khang Hi Đế chống lại Ngao Bái, và kể từ đó ông đã có thể tự mình chấp chính với sự ủng hộ của bà. Thái Hoàng thái hậu là một con người cần kiệm, dù là nội tổ của đấng đế vương nhưng bà từ chối tổ chức lễ mừng thọ của mình khi biết tốn kém.[cần dẫn nguồn]

Năm 1688, Thái Hoàng thái hậu qua đời, thọ 74 tuổi. Thụy hiệu là Hiếu Trang Nhân Tuyên Thành Hiến Cung Ý Dực Thiên Khải Thánh Văn hoàng hậu (孝莊仁宣诚宪恭懿翊天启圣文皇后), gọi tắt Hiếu Trang Văn hoàng hậu (Chữ Hán: 孝莊文皇后; Mãn Châu: Hiyoošungga Ambalinggū Genggiyenšu Hūwanghu).

Tình yêu[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta tin rằng Chiêu Thánh Thái hậu đã thành hôn với Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn sau khi Hoàng Thái Cực băng hà. Mối quan hệ chị dâu lấy em chồng đối với tập tục dân tộc Mãn Châu là chuyện rất bình thường, nhưng bên trong mối quan hệ này là một những câu chuyện tình có nhiều uẩn khuất.

Có người cho rằng, mối tình giữa hai người xảy ra trước khi bà kết hôn của Hoàng Thái Cực. Có người cho rằng, đây là kế sách của Hiếu Trang hoàng thái hậu nhằm duy trì ngôi vị cho con trai của mình là Thuận Trị. Theo lịch sử, Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn đã cưới một trong những người em của bà là Tiểu Ngọc Nhi, nhưng trên thực tế giữa họ không có quan hệ huyết thống.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu sinh hạ cho Hoàng Thái Cực 1 hoàng tử và 3 công chúa:

  1. Cố Luân Ung Mục Trưởng công chúa (固倫雍穆長公主, 1629 – 1678), tên là Nhã Đồ (雅圖). Năm 1641, thành thân với anh họ là Bật Nhĩ Tháp Cáp Nhĩ (Birtakhar) thuộc Khoa Nhĩ Thấm bộ, Mông Cổ.
  2. Cố Luân Thục Tuệ Trưởng công chúa (固倫淑慧長公主, 1632 – 1700), tên là A Đồ (阿圖). Đầu tiên thành thân với Tác Nhĩ Cáp thuộc Chính Hoàng Kì của Mãn Châu, sau đó vào năm 1648 tái giá với Sắc Bố Đằng thuộc Ba Lâm bộ, Mông Cổ.
  3. Cố Luân Thục Triết Trưởng công chúa (固倫淑哲長公主, 1633 – 1648), năm 1645 thành thân với con của Nội đại thần Ngạc Tề Nhĩ TangKhanh Cát Nhĩ Cách thuộc Tương Hoàng Kì của Mãn Châu.
  4. Thanh Thế Tổ Thuận Trị hoàng đế.

Trong điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chiêu Thánh Thái hậu không chỉ là một chủ đề hấp dẫn đối với giới sử học mà cuộc đời bà đã được đưa vào văn chương và nghệ thuật.

  1. Hiếu Trang bí sử (2002), Ninh Tịnh trong vai Đại Ngọc Nhi.
  2. Nhất đại Hoàng hậu (Empress Da Yu Er, 一代皇后大玉兒), Phan Nghinh Tử vai Đại Ngọc Nhi.
  3. Sóng gió Đại Thanh - Bát Kỳ tranh bá (Da Qing Fengyun - 大清风云), Hứa Tịnh vai Trang phi.
  4. Sơn hà luyến - Mỹ nhân vô lệ (Shan ha lian - Mei ren wu lei, 山河恋: 美人无泪), Viên San San trong vai Đại Ngọc Nhi.
  5. Đại Ngọc Nhi truyền kỳ (2015), Cảnh Điềm trong vai Đại Ngọc Nhi.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cát Kiến Hùng (chủ biên), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc.
  • Mote, F.W. (1999). Imperial China: 900-1800. Harvard University Press. tr. 49–52. ISBN 0-674-01212-7. 
  • Hummel, Arthur William, ed. Eminent Chinese of the Ch'ing Period (1644–1912). 2 vols. Washington: United States Government Printing Office, 1943.
  • Rawski, Evelyn Sakakida. The Last Emperors: A Social History of Qing Imperial Institutions. Berkeley, CA: University of California Press, 1998.
  • Daily life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen. ISBN 0-670-81164-5.
  • Draft history of the Qing dynasty. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.太宗孝莊文皇后.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]