Lễ kí kết Hiẹp ước Tam cường. Trong bức ảnh, ngồi từ trái sang phải, lần lượt là Saburō Kurusu (đại diện cho Nhật Bản), Galeazzo Ciano (Ý) và Adolf Hitler (Đức).
Hiệp ước Tam cường, còn được biết đến với tên gọi Hiệp ước Berlin, là một thỏa thuận giữa Đức, Ý và Nhật Bản được kí tại Berlin vào ngày 27 tháng 9 năm 1940, bởi Joachim von Ribbentrop, Galeazzo Ciano và Saburō Kurusu với sự hiện diện của Adolf Hitler.[1] Đây là một liên minh quân sự phòng thủ, lần lượt sau đó các quốc gia gia nhập như Hungary (20 tháng 11 năm 1940), Romania (23 tháng 11 năm 1940), Slovakia (24 tháng 11 năm 1940), Bulgaria (1 tháng 3 năm 1941), và Nam Tư (25 tháng 3 năm 1941). Việc Nam Tư gia nhập hiệp ước đã dẫn đến một cuộc đảo chính tại Belgrade hai ngày sau đó. Đáp lại, Đức, Ý và Hungary đã tấn công xâm lược Nam Tư. Sau đó, một nhà nước thân Đức–Ý được lập ra, gọi là Nhà nước Độc lập Croatia và quốc gia này gia nhập Hiệp ước Tam cường vào ngày 15 tháng 6 năm 1941.
Hiệp ước Tam cường, cùng với Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản và Hiệp ước Thép, là một trong nhiều thỏa thuận giữa Đức, Ý, Nhật và các nước phe Trục khác, dùng để quy định quan hệ giữa họ.[2]
Hiệp ước Tam cường chính thức liên minh các cường quốc Trục với nhau và nhằm chủ yếu vào Hoa Kỳ.[3] Do khoảng cách địa lý rất xa giữa Nhật Bản và hai cường quốc châu Âu, hiệp ước công nhận hai khu vực ảnh hưởng khác nhau sẽ nằm dưới sự thống trị của phe Trục.[4] Nhật Bản công nhận "vai trò lãnh đạo của Đức và Ý trong việc thiết lập trật tự thế giới mới ở châu Âu". Đổi lại, Đức và Ý công nhận quyền của Nhật Bản trong việc thiết lập một trật tự mới ở "Đại Đông Á".[5] Tuy nhiên, tác dụng thực tế của hiệp ước rất hạn chế, vì chiến trường của Đức–Ý và của Nhật nằm ở hai phía đối lập của thế giới, và các bên tham gia có lợi ích chiến lược khác nhau. Do đó, phe Trục trên thực tế chỉ là một liên minh lỏng lẻo.[6] Các điều khoản phòng thủ lẫn nhau của hiệp ước chưa từng được kích hoạt,[7] và việc ký hiệp ước không bắt buộc các bên phải cùng tham chiến trong một cuộc chiến chung.[8]
Bản tiếng Nhật của Hiệp ước Tam cường, 27 tháng 9 năm 1940
Chính phủ Nhật Bản, Đức và Ý, coi việc tất cả các quốc gia trên thế giới được trao cho mỗi nước một vị trí thích đáng là điều kiện tiên quyết của bất kỳ nền hòa bình lâu dài nào, đã quyết định sát cánh và hợp tác với nhau trong những nỗ lực của mình tại khu vực Đại Đông Á và các vùng lãnh thổ ở châu Âu tương ứng, nơi mục đích hàng đầu của họ là thiết lập và duy trì một trật tự mới nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng và phúc lợi lẫn nhau của các dân tộc hữu quan.
Hơn nữa, ba Chính phủ bày tỏ mong muốn mở rộng sự hợp tác đối với các quốc gia ở những khu vực khác trên thế giới, nếu các nước đó có xu hướng hướng nỗ lực của mình theo những đường lối tương tự, nhằm thực hiện mục tiêu tối hậu của họ là hòa bình thế giới.
Vì vậy, Chính phủ Nhật Bản, Đức và Ý đã thỏa thuận như sau:[9]
ĐIỀU 1. Nhật Bản công nhận và tôn trọng vai trò lãnh đạo của Đức và Ý trong việc thiết lập một trật tự mới ở châu Âu.
ĐIỀU 2. Đức và Ý công nhận và tôn trọng vai trò lãnh đạo của Nhật Bản trong việc thiết lập một trật tự mới tại khu vực Đại Đông Á.
ĐIỀU 3. Nhật Bản, Đức và Ý đồng ý hợp tác trong những nỗ lực của họ theo các đường lối đã nói trên. Ba nước cũng cam kết sẽ hỗ trợ lẫn nhau bằng mọi phương tiện chính trị, kinh tế và quân sự nếu một trong các cường quốc ký kết bị một cường quốc hiện không tham gia cuộc Chiến tranh châu Âu hoặc cuộc xung đột Nhật–Trung.
ĐIỀU 4. Nhằm thực thi hiệp ước này, các ủy ban kỹ thuật hỗn hợp, do Chính phủ Nhật Bản, Đức và Ý chỉ định, sẽ nhóm họp không chậm trễ.
ĐIỀU 5. Nhật Bản, Đức và Ý khẳng định rằng thỏa thuận nói trên không ảnh hưởng dưới bất kỳ hình thức nào tới tình trạng chính trị hiện tại giữa từng nước trong số ba cường quốc ký kết với Nga Xô viết.
ĐIỀU 6. Hiệp ước này sẽ có hiệu lực ngay sau khi ký và sẽ có giá trị trong vòng mười năm kể từ ngày có hiệu lực. Đúng thời hạn, trước khi kết thúc thời kỳ nói trên, các bên ký kết cấp cao sẽ, theo yêu cầu của bất kỳ bên nào trong số họ, tiến hành đàm phán về việc gia hạn hiệp ước.
Với thiện chí, những người ký tên dưới đây, đã được Chính phủ tương ứng của mình ủy quyền đầy đủ, ký vào hiệp ước này và đóng dấu chữ ký của mình dưới đây.
Làm thành ba bản tại Berlin, ngày 27 tháng 9 năm 1940, năm thứ 19 của kỷ nguyên phát xít, tương ứng với ngày 27 tháng 9 năm Chiêu Hòa thứ 15 (triều đại Thiên hoàng Hirohito).
Đại sứ quán Nhật tại Berlin được trang hoàng cờ của ba nước ký Hiệp ước Tam cường tháng 9 năm 1940Tạp chí Nhật Bản do Cục Tình báo Nội các phát hành ngày 15 tháng 1 năm 1941, tuyên truyền về Hiệp ước Tam cường
Tuy Đức và Nhật trên danh nghĩa đã trở thành đồng minh khi ký Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản năm 1936, nhưng Hiệp ước Molotov–Ribbentrop năm 1939 giữa Đức và Liên Xô đã khiến Nhật hoàn toàn bất ngờ. Tháng 11 năm 1939, Đức và Nhật ký "Hiệp định Hợp tác Văn hóa giữa Nhật Bản và Đức", qua đó khôi phục lại "liên minh miễn cưỡng" giữa hai nước.[10]
Trong bài phát biểu vào lễ ký ngày 27 tháng 9, Ribbentrop có thể đã gợi ý rằng các nước ký kết sẵn sàng chấp nhận thêm thành viên trong tương lai. Báo Deutsche Allgemeine Zeitung (DAZ) trích lời ông như sau:
Mục đích của Hiệp ước, trước hết, là giúp khôi phục hòa bình cho thế giới nhanh nhất có thể. Do đó, bất kỳ quốc gia nào khác muốn gia nhập khối này (der diesem Block beitreten will), với ý định đóng góp vào việc khôi phục hòa bình, đều sẽ được chào đón một cách chân thành và biết ơn, và sẽ cùng tham gia vào công cuộc tái tổ chức kinh tế và chính trị.
Tuy nhiên, hãng thông tấn chính thống Deutsches Nachrichtenbüro[de] (DNB), à phần lớn báo chí lại đăng một phiên bản hơi khác, trong đó cụm từ "có thiện chí với hiệp ước này" (der diesem Pakt wohlwollend gegenübertreten will[11]) được dùng thay cho "gia nhập khối". Rất có khả năng là ban đầu không hề dự tính cho các nước khác chính thức tham gia hiệp ước, và Ribbentrop đã lỡ lời. Vì vậy, bản ghi chính thức của DNB đã chỉnh lại câu nói của ông, loại bỏ mọi nhắc tới việc "gia nhập", nhưng đổi lại tạo ra một cách diễn đạt khá gượng gạo.[12]
Ngoại trưởng Ý Galeazzo Ciano cho đến tận ngày 20 tháng 11 năm 1940 vẫn kiên quyết phản đối việc cho thêm các nước nhỏ tham gia hiệp ước; ông ghi trong nhật ký rằng việc đó chỉ làm làm yếu khối liên minh và chỉ là những động thái ngoại giao vô ích.[12]
Vương quốc Hungary à nước thứ tư ký hiệp ước và là nước đầu tiên gia nhập sau ngày 27 tháng 9 năm 1940. Ngay sau khi nghe tin về lễ ký và bài phát biểu của Ribbentrop, đại sứ Hungary tại Berlin Döme Sztójay đã điện về cho ngoại trưởng István Csáky. Ông thúc giục Csáky tham gia hiệp ước, thậm chí còn khẳng định rằng Đức và Ý cũng trông đợi Hungary làm vậy. Ông cho rằng đặc biệt quan trọng là Hungary phải ký trước Romania. Đáp lại, Csáky yêu cầu Sztójay và đại sứ tại Rome Frigyes Villani hỏi rõ về việc gia nhập và những nghĩa vụ có thể phát sinh. Ngày 28 tháng 9, thứ trưởng Ngoại giao Đức Ernst von Weizsäcker thông báo với Hungary rằng Ribbentrop không hề nói đến "gia nhập chính thức" mà chỉ là "một thái độ phù hợp với tinh thần của hiệp ước". Ý trả lời tương tự. Dù vậy, chỉ trong vòng một tuần, chính phủ Hungary đã gửi thông báo chính thức về "sự tán thành trên tinh thần" đối với hiệp ước.[12]
Trong tuần lễ sau khi Hungary "tán thành trên tinh thần", tình hình Balkan thay đổi nhanh chóng. Romania chấp nhận yêu cầu của Đức cho quân Đức tới bảo vệ các mỏ dầu Ploiești, còn Hungary chấp nhận cho quân Đức đi qua lãnh thổ để tới Romania. Ngày 7 tháng 10 năm 1940, những binh sĩ Đức đầu tiên tới Ploiești. Có khả năng việc Romania gia nhập hiệp ước được trì hoãn cho tới khi quân Đức đã có mặt tại đây để tránh nguy cơ Liên Xô hành động trước nhằm chiếm giữ vùng mỏ dầu. Đổi lại, việc Hungary chính thức gia nhập cũng phải chờ cho đến khi đàm phán với Romania hoàn tất. Khoảng ngày 9 tháng 10, Weizsäcker chuyển thông điệp của Ribbentrop cho Sztójay rằng Hitler giờ đây muốn những "quốc gia thân thiện" tham gia hiệp ước. Trong một cuộc điện đàm với Ciano ngày 9 hoặc 10 tháng 10, Ribbentrop nói rằng Hungary đã gửi yêu cầu thứ hai xin gia nhập. Mussolini miễn cưỡng đồng ý. Ngày 12 tháng 10, Ribbentrop thông báo cho Sztójay rằng cả Ý và Nhật đều đã đồng ý cho Hungary tham gia. Do nhiếp chính vương Miklós Horthy đặc biệt yêu cầu Hungary phải là nước đầu tiên trong số các nước mới gia nhập, Ribbentrop đã chấp thuận điều này.[12]
Vương quốc Romania từng tham gia phe Hiệp ước trong Thế chiến I và được nhận vùng Transylvania từ Áo–Hung. Sau đó, Đức và Ý lại trao trả một phần Transylvania cho Hungary, vùng Dobruja phía Nam cho Bulgaria, và Liên Xô chiếm Bessarabia cùng Bukovina phía Bắc. Trong bối cảnh đó, đảng phát xít Vệ binh Sắt lên nắm quyền, và Romania gia nhập Hiệp ước Tam cường ngày 23 tháng 11 năm 1940, chủ yếu vì Romania muốn được bảo vệ trước Liên Xô.
Trong bản tuyên bố của Thống chế Ion Antonescu được đọc tại Phiên tòa IG Farben (1947–1948), ông nói rằng thỏa thuận về việc Romania gia nhập hiệp ước đã được hoàn tất trước chuyến thăm Berlin của ông ngày 22 tháng 11 năm 1940[13]
Ngày 14 tháng 3 năm 1939, Cộng hòa Slovakia được tuyên bố thành lập trong lúc Tiệp Khắc bị chia cắt. Hitler mời linh mục Jozef Tiso trở thành lãnh đạo quốc gia mới. Không lâu sau khi thành lập, Slovakia đã đánh nhau với Hungary, và dù đã ký "Hiệp ước Bảo hộ" với Đức, Đức đã từ chối can thiệp. Cuộc chiến này kết thúc với việc Hungary giành được một phần lãnh thổ của Slovakia. Dù vậy, Slovakia vẫn ủng hộ Đức trong cuộc xâm lược Ba Lan năm 1939.[14]
Ngay sau khi Hiệp ước Tam cường được ký, Slovakia, noi gương Hungary, đã gửi thông điệp "tán thành trên tinh thần" tới Đức và Ý.[12]
Ngày 24 tháng 11 năm 1940, một ngày sau khi Romania ký hiệp ước, thủ tướng kiêm ngoại trưởng Slovakia Vojtech Tuka sang Berlin gặp Ribbentrop và ký văn bản Slovakia gia nhập Hiệp ước Tam cường. Mục đích của ông là nâng cao vị thế của mình ở Slovakia so với đối thủ chính trị là Tiso, dù Đức không hề có ý định để Tiso bị thay thế.[15]
Official protocol of Bulgaria's accession into the Tripartite Pact
Vương quốc Bulgaria từng là đồng minh của Đức và thuộc phe thua trận trong Thế chiến I. Ngay từ đầu, Đức đã gây sức ép buộc Bulgaria tham gia Hiệp ước Tam cường. Ngày 17 tháng 11 năm 1940, Sa hoàng Boris III và ngoại trưởng Ivan Popov Ivan Popov[bg] gặp Hitler ở Đức. Theo đặc phái viên của Đức tại Balkan Hermann Neubacher, quan hệ giữa Bulgaria và phe Trục đã được "giải quyết hoàn toàn" trong cuộc gặp này. Tuy nhiên, ngày 23 tháng 11, đại sứ Bulgaria tại Berlin Peter Draganov lại thông báo với phía Đức rằng dù Bulgaria đã đồng ý về nguyên tắc việc gia nhập, họ muốn trì hoãn việc ký kết.[16]
Cuộc gặp với Hitler đã dẫn tới chuyến thăm Bulgaria của nhà ngoại giao Liên Xô Arkady Sobolev vào ngày 25 tháng 11. Ông thúc giục Bulgaria ký hiệp ước tương trợ đã được bàn từ tháng 10 năm 1939, và đề nghị Liên Xô công nhận các yêu sách lãnh thổ của Bulgaria tại Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, chính phủ Bulgaria lại lo ngại trước các hoạt động phá hoại của Đảng Cộng sản Bulgaria vốn có vẻ như được Liên Xô thúc đẩy sau các cuộc đàm phán này.[17]
Ngày 26 tháng 12 năm 1940, chính khách cực hữu Alexander Tsankov trình một kiến nghị tại Quốc hội yêu cầu chính phủ ngay lập tức gia nhập Hiệp ước Tam cường, nhưng đã bị bác bỏ.[18]
Cuối cùng, Bulgaria buộc phải quyết định do Đức muốn can thiệp vào Chiến tranh Hy Lạp-Ý, điều này đòi hỏi phải đưa quân Đức qua lãnh thổ Bulgaria. Khi không thể chống lại Đức về mặt quân sự, thủ tướng Bogdan Filov đã ký văn bản Bulgaria gia nhập hiệp ước tại Vienna ngày 1 tháng 3 năm 1941. Ông tuyên bố việc này được tiến hành một phần là để bày tỏ lòng biết ơn vì Đức đã hỗ trợ Bulgaria đạt được Hiệp ước Craiova với Romania, và rằng nó không ảnh hưởng đến quan hệ của Bulgaria với Thổ Nhĩ Kỳ hay Liên Xô. Cùng ngày, Ribbentrop hứa với Filov rằng sau khi Hy Lạp sụp đổ, Bulgaria sẽ được một dải bờ biển Aegea giữa hai sông Struma và Maritsa.[19]
Theo Điều 17 của Hiến pháp Tarnovo, các hiệp ước phải được Quốc hội phê chuẩn. Trong trường hợp Hiệp ước Tam cường, chính phủ tìm cách để văn bản được phê chuẩn mà không tranh luận. Mười bảy nghị sĩ đối lập nộp chất vấn, trong đó một người là Ivan Petrov hỏi tại sao Quốc hội không được tham khảo ý kiến trước và liệu hiệp ước có lôi Bulgaria vào chiến tranh hay không. Những câu hỏi này bị phớt lờ. Hiệp ước được phê chuẩn với 140 phiếu thuận và 20 phiếu chống.[19]
Ngày 25 tháng 3 năm 1941 tại Vienna, thủ tướng Dragiša Cvetković của Vương quốc Nam Tư ký Hiệp ước Tam cường.[20] Ngày 27 tháng 3, chính quyền bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự có sự hậu thuẫn của Anh. Vua Peter II, mới 17 tuổi, được tuyên bố đã đủ tuổi trị vì. Chính phủ Nam Tư mới dưới quyền thủ tướng kiêm tướng lĩnh Dušan Simović từ chối phê chuẩn việc ký hiệp ước và bắt đầu đàm phán với Anh và Liên Xô. Tức giận, Hitler ban hành Chỉ thị số 25 và sau đó tấn công cả Nam Tư lẫn Hy Lạp ngày 6 tháng 4.[21]Luftwaffe ném bom Belgrade suốt ba ngày ba đêm. Quân Đức tiến vào, và Nam Tư đầu hàng ngày 17 tháng 4.[22]
Nhà nước Độc lập Croatia (Nezavisna Država Hrvatska, hay NDH), được thành lập trên một phần lãnh thổ Nam Tư bị chiếm đóng, đã ký Hiệp ước Tam cường ngày 15 tháng 6 năm 1941.[23]
Lời tuyên chiến của Trung Quốc (ngày 9 tháng 12 năm 1941) được đưa ra với lập luận rằng Hiệp ước Tam cường đã liên kết các nước ký kết lại thành "một khối các quốc gia xâm lược, phối hợp chặt chẽ với nhau để thực hiện chương trình chung là chinh phục và thống trị thế giới".[24]
Các "ủy ban kỹ thuật chung" theo yêu cầu của hiệp ước được thành lập theo thỏa thuận ngày 20 tháng 12 năm 1940. Mỗi thủ đô sẽ có một ủy ban chung, gồm ngoại trưởng nước chủ nhà và đại sứ của hai nước đối tác còn lại. Dưới ủy ban chung sẽ có các ủy ban quân sự và kinh tế. Ngày 15 tháng 12 năm 1941, cuộc họp đầu tiên của cả ba ủy ban tại cùng một thủ đô (Berlin) đã diễn ra và được gọi là "Hội nghị Hiệp ước Tam cường". Tại đây, họ quyết định thành lập "Hội đồng Thường trực của các cường quốc ký Hiệp ước Tam cường", nhưng trong hai tháng sau đó hầu như không có tiến triển gì. Chỉ có phía Ý, một nước mà người Nhật không tin tưởng thúc đẩy việc hợp tác sâu rộng hơn.[25]
Ngày 18 tháng 1 năm 1942, chính phủ Đức và Ý ký hai thỏa thuận tác chiến bí mật: một với Lục quân Đế quốc Nhật Bản và một với Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Các thỏa thuận này chia thế giới theo kinh tuyến 70° Đông thành hai khu vực tác chiến lớn, nhưng hầu như không có ý nghĩa quân sự. Về chủ yếu, chúng ràng buộc các nước vào hợp tác trong các vấn đề thương mại, tình báo và thông tin liên lạc[25]
Ngày 24 tháng 2 năm 1942, Hội đồng Thường trực họp dưới sự chủ tọa của Ribbentrop, người tuyên bố rằng "tác dụng tuyên truyền là một trong những lý do chính của các cuộc họp của chúng ta". Các đại biểu lập ra một ủy ban tuyên truyền rồi tạm hoãn vô thời hạn. Đến năm 1943, ủy ban quân sự ở Berlin chỉ họp hai hoặc ba lần, và hoàn toàn không có các cuộc đàm phán hải quân ba bên. Đức và Nhật tiến hành thảo luận hải quân riêng rẽ, còn Ý thì tự tham khảo phía Nhật một cách độc lập cho kế hoạch tấn công Malta năm 1942.[25]
Quan hệ kinh tế giữa ba nước trong Tam cường gặp rất nhiều khó khăn. Năm 1941, Nhật Bản không chịu nhượng bộ kinh tế cho Đức vì lo rằng điều đó sẽ phá hỏng các cuộc đàm phán của họ với Hoa Kỳ. Tháng 1 năm 1942, các cuộc thương lượng về hợp tác kinh tế mới bắt đầu, nhưng phải đến ngày 20 tháng 1 năm 1943 mới ký được một thỏa thuận tại Berlin. Ý được mời ký một thỏa thuận tương tự tại Rome cùng thời điểm, chủ yếu nhằm mục đích tuyên truyền, nhưng không có bất kỳ nghị định thư bổ sung nào ở Berlin được áp dụng cho quan hệ Ý–Nhật.[25]
Nhật Bản trước hết thúc ép Đức tham gia chiến tranh với Hoa Kỳ vào ngày 2 tháng 12 năm 1941, chỉ hai ngày sau khi thông báo với Berlin về ý định tuyên chiến. Không nhận được phản hồi, Nhật chuyển sang tiếp cận Ý. Vào lúc 04:00 sáng ngày 5 tháng 12, Ribbentrop đưa cho đại sứ Nhật một đề xuất (đã được Ý phê chuẩn) nhằm cùng tham chiến và tiến hành chiến tranh một cách phối hợp. Ngày 11 tháng 12 năm 1941 cũng là ngày Đức và Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ, ba nước ký một thỏa thuận (thực chất đã được soạn xong từ ngày 8 tháng 12) cấm ký bất kỳ thỏa thuận hòa bình riêng rẽ nào với Hoa Kỳ hoặc Anh. Văn bản này "được dự định như một phần phụ trợ tuyên truyền đi kèm với tuyên bố chiến tranh".[25]
ĐIỀU I. Ý, Đức và Nhật từ nay sẽ cùng nhau tiến hành một cuộc chiến tranh mà Hoa Kỳ và Anh đã áp đặt lên họ, bằng mọi phương tiện trong khả năng và cho đến khi chiến sự chấm dứt.
ĐIỀU II. Ý, Đức và Nhật cam kết mỗi bên sẽ không ký bất kỳ thỏa thuận đình chiến hay hòa ước nào, dù với Hoa Kỳ hay với Anh nếu không có sự đồng thuận đầy đủ và có đi có lại của cả ba nước ký kết thỏa thuận này.
ĐIỀU III. Ý, Đức và Nhật, ngay cả sau khi kết thúc cuộc chiến này một cách thắng lợi, sẽ hợp tác chặt chẽ theo tinh thần của Hiệp ước Tam cường (ký ngày 21 tháng 9 năm 1940) nhằm hiện thực hóa và thiết lập một trật tự thế giới công bằng.
ĐIỀU IV. Thỏa thuận này có hiệu lực ngay khi ký và có hiệu lực trong toàn bộ thời hạn của Hiệp ước Tam cường ký ngày 27 tháng 9 năm 1940. Vào thời điểm thích hợp, các bên ký kết sẽ cùng thống nhất những biện pháp để thực hiện Điều III nêu trên.[26]
↑Cooke, Tim (2005). History of World War II. Quyển1 – Origins and Outbreak. Marshall Cavendish. tr.154. ISBN0761474838. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
Bán, András D. (2004). Hungarian–British Diplomacy, 1938–1941: The Attempt to Maintain Relations. Translated by Tim Wilkinson. London: Frank Cass. ISBN0714656607.
Chinvanno, Anuson (1992). Thailand's Policies towards China, 1949–54. Macmillan.
Flood, E. Thadeus (1970). "Review of Thailand and the Second World War by Direk Chayanam". The Journal of Asian Studies. 29 (4): 988–990. doi:10.2307/2943163. JSTOR2943163. S2CID163548311.
DiNardo, R. L. (1996). "The Dysfunctional Coalition: The Axis Powers and the Eastern Front in World War II". The Journal of Military History. 60 (4): 711–730. doi:10.2307/2944662. JSTOR2944662.
Giurescu, Dinu C. (2000). Romania in the Second World War (1939–1945). Boulder, CO: East European Monographs.
Jelínek, Yeshayahu (1971). "Slovakia's Internal Policy and the Third Reich, August 1940 – February 1941". Central European History. 4 (3): 242–270. doi:10.1017/s0008938900015363. S2CID145451318.
Kolanović, Nada Kisić (2006). "The NDH's Relations with Southeast European Countries, Turkey and Japan, 1941–45". Totalitarian Movements and Political Religions. 7 (4): 473–492. doi:10.1080/14690760600963248. S2CID144204223.
Macartney, C. A. (1956). October Fifteenth: A History of Modern Hungary, 1929–1945. vol. 1. Edinburgh: Edinburgh University Press.
Miller, Marshall Lee (1975). Bulgaria during the Second World War. Stanford, CA: Stanford University Press.