Hiệp ước hòa bình Ai Cập-Israel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hiệp ước hòa bình Ai Cập (tiếng Ả Rập: معاهدة السلام المصرية الإسرائيلية‎, Mu`āhadat as-Salām al-Misrīyah al-'Isrā'īlīyah; tiếng Hebrew: הסכם השלום בין ישראל למצרים‎, Heskem HaShalom Bein Yisrael LeMitzrayim) là một hiệp ước hòa bình (tại Washington DC, Hoa Kỳ vào ngày 26 tháng 3 năm 1979, theo Hiệp định David Camp năm 1978. Hiệp ước Ai Cập Israel được ký bởi Tổng thống Ai Cập Anwar SadatThủ tướng Israel Menachem Begin, và được chứng kiến ​​bởi Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp ước hòa bình giữa Ai Cập và Israel được ký 16 tháng sau chuyến thăm của Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat tới Israel năm 1977 sau cuộc đàm phán căng thẳng. Các đặc điểm chính của hiệp ước là sự công nhận lẫn nhau, chấm dứt tình trạng chiến tranh đã tồn tại từ Chiến tranh Ả Rập Israel năm 1948, bình thường hóa quan hệ và rút hoàn toàn bởi Israel các lực lượng vũ trang và dân thường khỏi Bán đảo Sinai mà Israel đã chiếm được trong cuộc Chiến tranh Sáu ngày năm 1967. Ai Cập đã đồng ý rời khỏi khu vực phi quân sự. Thỏa thuận cũng quy định về việc tàu Israel đi qua kênh đào Suez miễn phí và công nhận Eo biển TiranVịnh Aqaba là tuyến đường thủy quốc tế. Thỏa thuận đáng chú ý khiến Ai Cập trở thành quốc gia Ả Rập đầu tiên chính thức công nhận Israel.