Hiệp thông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hiệp thông (hoặc thông công) là một danh từ được sử dụng trong Kitô giáo để chỉ về mối quan hệ giữa tín hữu với Thiên Chúa và giữa những người trong Hội Thánh với nhau.

Hiệp thông (tiếng Hy Lạp κοινωνία koinonia (I Cô-rinh-tô [1]; tiếng Latinh communio „cộng đồng“ hay là "tham gia vào cộng đồng") hoặc Rước Lễ là hành vi tiếp nhận bánh và rượu mà tượng trưng cho thân thể và máu của Chúa Kitô (Thánh Thể) như một hình thức tham gia cộng đồng với sự hiểu biết và với sự đồng thuận.

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô [2], mà Sứ đồ Phao-lô và Sosthenes gởi cho các Cơ-đốc nhân tại thành Corinth, Hy Lạp, có viết:

  • Ý nghĩa thuộc linh: hiệp thông là sự giao tiếp giữa Kitô hữu với Thiên Chúa, được thể hiện qua các hình thức như cầu nguyện, xưng tội và thờ phượng. Nhưng mối quan hệ này là ở bên trong tâm linh của mỗi cá nhân với Thiên Chúa. Nếu ai phạm những tội trọng mà không chịu ăn năn, xưng tội để được tha thứ mà vẫn tiếp tục sa vào tội lỗi thì mối quan hệ của người đó với Chúa sẽ bị chia cắt.
  • Ý nghĩa thuộc thể: Hiệp thông là mối quan hệ giữa các Kitô hữu với nhau được thể hiện qua tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, cầu nguyện và chia sẻ lời Chúa với nhau như điều mà Chúa Giêsu dạy: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Phúc âm Gioan 15:12).

Đối với Giáo hội Công giáo Rôma, hiệp thông còn mang ý nghĩa là mối quan hệ về tổ chức trong Giáo hội. Một người bị mất đi sự hiệp thông khi bị một án phạt vạ tuyệt thông, khi ấy, người này bị khai trừ khỏi giáo hội và không được nhận lãnh bất kỳ ơn ích nào từ hoạt động thờ phượng của giáo hội.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]