Hibernian F.C.
| Tập tin:Hibernian FC logo.svg | ||||
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Hibernian | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | Hibs[1] The Hibees[1] The Cabbage[2] | |||
| Thành lập | 6 tháng 8 năm 1875 | |||
| Sân | Easter Road, Edinburgh | |||
| Sức chứa | 20.421[3] | |||
| Chủ sở hữu | Bydand Sports[4] | |||
| Chủ tịch điều hành | Ian Gordon | |||
| Huấn luyện viên trưởng | David Gray | |||
| Giải đấu | Scottish Premiership | |||
| 2024–25 | Scottish Premiership, thứ 3 trên 12 | |||
| Website | www | |||
|
| ||||
Câu lạc bộ bóng đá Hibernian (/hɪˈbɜːrniən/) (tiếng Anh: Hibernian Football Club), thường được gọi là Hibs, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Edinburgh, Scotland. Đội thi đấu tại Scottish Premiership, hạng đấu cao nhất trong hệ thống giải bóng đá Scotland. Câu lạc bộ được thành lập năm 1875 bởi các thành viên của cộng đồng Ireland tại Edinburgh, và tên gọi bắt nguồn từ tên Latinh của Ireland.[5] Di sản Ireland của Hibernian được phản ánh trong tên gọi, màu sắc và huy hiệu của câu lạc bộ.[5][6][7][8] Màu áo chính xanh lá thường đi cùng tay áo và quần màu trắng. Đối thủ địa phương của họ là Heart of Midlothian, đội mà họ đối đầu trong derby Edinburgh.
Các trận sân nhà được tổ chức tại Easter Road, sân được sử dụng từ năm 1893,[9] khi câu lạc bộ gia nhập Scottish Football League.[10] Tên câu lạc bộ thường được rút gọn thành Hibs,[1] đội bóng cũng được gọi là the Hibees[1] (phát âm /ˈhaɪbiːz/), còn cổ động viên được gọi là "Hibbies". Một biệt danh khác là "the Cabbage", bắt nguồn từ tiếng lóng gieo vần rút gọn cho Hibs ("Cabbage and ribs").[2]
Hibernian đã bốn lần vô địch giải quốc gia Scotland, gần nhất là vào năm 1952. Ba trong bốn chức vô địch đó diễn ra từ năm 1948 đến năm 1952, khi câu lạc bộ sở hữu hàng tiền đạo The Famous Five.[11] Câu lạc bộ đã ba lần giành Cúp bóng đá Scotland, vào các năm 1887, 1902 và 2016, trong đó chiến thắng sau cùng đã chấm dứt một cơn khát danh hiệu nổi tiếng. Hibs cũng ba lần giành Cúp Liên đoàn Scotland, vào các năm 1972, 1991 và 2007. Hibernian vào bán kết mùa giải European Cup đầu tiên trong mùa giải 1955–56, trở thành đội bóng Anh quốc đầu tiên tham dự một giải đấu châu Âu. Họ cũng vào đến cùng vòng đấu này tại Inter-Cities Fairs Cup trong mùa giải 1960–61.[12]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Thành lập và lịch sử ban đầu (1875–1939)
[sửa | sửa mã nguồn]Câu lạc bộ được thành lập năm 1875 bởi những người Ireland sống tại khu vực Cowgate của Edinburgh.[13] Tên gọi Hibernian (bắt nguồn từ Hibernia, một tên cổ của Ireland[5]), màu xanh lá, đàn hạc Celt và cụm từ tiếng Ireland Erin go bragh (nghĩa là Ireland muôn năm) được chọn làm biểu tượng từ sớm.[14] Người sáng lập, Linh mục Edward Joseph Hannan, là chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ, còn Michael Whelahan là đội trưởng đầu tiên.[15] James Connolly, nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa và cộng hòa Ireland nổi tiếng, là một cổ động viên của Hibs,[16][17] trong khi câu lạc bộ "gắn bó chặt chẽ" với phong trào Home Rule Ireland trong thập niên 1880.[10] Ban đầu có một số sự phản đối mang tính bè phái đối với việc một câu lạc bộ Ireland tham gia bóng đá Scotland,[13] nhưng Hibs đã khẳng định mình là một thế lực của bóng đá Scotland trong thập niên 1880.[5][10][16] Hibs là câu lạc bộ đầu tiên từ bờ đông Scotland giành một danh hiệu lớn, Cúp Scotland 1887. Sau đó, họ đánh bại Preston North End, đội đã vào bán kết Cúp FA 1887, trong một trận giao hữu được mô tả là trận quyết định chức vô địch bóng đá hiệp hội thế giới.[18][19][20] Dù trận đấu được quảng bá là "The Association Football Championship of the World", Preston đã thua West Bromwich Albion ở bán kết Cúp FA và không phải đội bóng Anh "mạnh nhất" năm đó.
Cách quản lý yếu kém trong vài năm tiếp theo khiến Hibs mất sân nhà và câu lạc bộ tạm ngừng hoạt động vào năm 1891.[10] Một hợp đồng thuê địa điểm Easter Road được ký vào cuối năm 1892, và Hibs chơi trận đầu tiên tại Easter Road vào ngày 4 tháng 2 năm 1893.[21] Dù có sự gián đoạn này, ngày nay câu lạc bộ xem giai đoạn từ năm 1875 là một lịch sử liên tục, và vì vậy vẫn tính các danh hiệu giành được trong giai đoạn 1875–1891, bao gồm Cúp Scotland 1887.[22][23] Câu lạc bộ được kết nạp vào Scottish Football League năm 1893, dù họ phải hai lần vô địch Second Division trước khi được bầu lên First Division vào năm 1895.[10]
Một thay đổi đáng kể vào thời điểm này là các cầu thủ không còn bắt buộc phải là thành viên của Catholic Young Men's Society.[16][24] Ngày nay, Hibs không được xem là một tổ chức Ireland hay Công giáo La Mã như trong những năm đầu lịch sử.[25][6] Chẳng hạn, đàn hạc Ireland chỉ được đưa trở lại huy hiệu câu lạc bộ khi huy hiệu được thiết kế lại gần nhất vào năm 2000. Thiết kế này phản ánh ba trụ cột bản sắc của câu lạc bộ: Ireland, Edinburgh (lâu đài) và Leith (con tàu). Địa lý, bên cạnh sắc tộc và tôn giáo, định hình nền tảng cổ động viên hiện đại của câu lạc bộ, với phần lớn sự ủng hộ dành cho Hibs đến từ phía bắc và phía đông Edinburgh.[7][8][26]
Hibs có một số thành công sau khi được tái lập, giành Cúp Scotland 1902 và chức vô địch quốc gia đầu tiên một năm sau đó. Tuy nhiên, sau thời điểm này, câu lạc bộ trải qua một giai đoạn dài trắng tay. Câu lạc bộ đánh mất vị trí tại giải quốc gia và lần đầu tiên xuống hạng vào năm 1931, dù được thăng trở lại hạng đấu cao nhất hai năm sau đó. Cơn khát Cúp Scotland khét tiếng[27] bắt đầu khi họ vào ba trận chung kết cúp, trong đó có hai năm liên tiếp, nhưng đều thất bại.
The Famous Five (1939–1959)
[sửa | sửa mã nguồn]Kỷ nguyên thành công nhất của Hibs diễn ra trong thập niên sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, khi đội "nằm trong số những câu lạc bộ hàng đầu tại Anh quốc".[11] Hàng tiền đạo gồm Gordon Smith, Bobby Johnstone, Lawrie Reilly, Eddie Turnbull và Willie Ormond, được gọi chung là The Famous Five, "được xem là hàng tiền đạo hay nhất từng thấy trong bóng đá Scotland".[11] Mỗi thành viên của Famous Five đều ghi hơn 100 bàn cho Hibs.[11] Khán đài phía bắc tại Easter Road hiện được đặt tên để vinh danh họ. Smith ký hợp đồng với Hibs năm 1941, trong khi Ormond, Turnbull, Reilly và Johnstone đều ký hợp đồng trong năm 1946. Trong năm người, chỉ Ormond khiến Hibs phải trả phí chuyển nhượng, 1.200 bảng Anh từ Stenhousemuir.[28] Reilly, Johnstone, Smith và Turnbull đều được ký từ các giải trẻ hoặc junior.[11][29]
Trong mùa giải đầu tiên của bóng đá cạnh tranh sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hibs vào Chung kết Cúp bóng đá Scotland 1947. Họ vượt lên dẫn trước sớm trong trận đấu, nhưng cuối cùng thua Aberdeen 1–2. Sau khi Reilly được đưa vào đội một trong mùa giải 1947–48, Hibs giành chức vô địch quốc gia Scotland lần đầu tiên kể từ năm 1903. Thành tích này đạt được bất chấp việc huấn luyện viên đội bóng Willie McCartney qua đời vào tháng 1 năm 1948.[29] McCartney được kế nhiệm bởi Hugh Shaw,[29] người đưa Johnstone vào đội một trong năm 1948. Hibs kết thúc thứ ba tại giải quốc gia trong mùa giải 1948–49. Trong một trận giao hữu với Nithsdale Wanderers vào ngày 21 tháng 4 năm 1949, Hibs lần đầu tiên sử dụng toàn bộ năm cầu thủ Famous Five trong cùng một đội hình.[29] Sau đó, họ có trận ra mắt chính thức cùng nhau vào ngày 15 tháng 10 năm 1949, trong chiến thắng 2–0 trước Queen of the South.[30] Họ cải thiện thành tích của mùa giải trước khi kết thúc thứ hai tại giải quốc gia, kém Rangers một điểm.
Mùa giải 1950–51 là đỉnh cao của kỷ nguyên Famous Five. Với các tuyển thủ quốc gia khác như Tommy Younger và Bobby Combe, Hibs vô địch quốc gia với cách biệt 10 điểm (khi mỗi chiến thắng được tính hai điểm). Họ vào Chung kết Cúp Liên đoàn Scotland 1950. Turnbull lập hat-trick ở bán kết nhưng không thể dự trận chung kết. Jimmy Bradley đá chính ở cánh trái, còn Ormond được kéo vào vị trí tiền đạo trong trái. Motherwell đánh bại họ 3–0. Hibs bảo vệ thành công chức vô địch quốc gia trong mùa giải 1951–52, lần này thắng với cách biệt bốn điểm. Hibs suýt bị từ chối chức vô địch thứ ba liên tiếp trong mùa giải 1952–53 ở ngày cuối cùng của mùa giải. Bàn gỡ muộn của Rangers trước Queen of the South đưa chức vô địch về Ibrox nhờ tỷ số bàn thắng trung bình. Hàng tiền đạo Famous Five vẫn được duy trì đến tháng 3 năm 1955, khi Johnstone được bán cho Manchester City.[11]
Dù chỉ kết thúc thứ năm tại giải quốc gia Scotland năm 1955, Hibs được mời tham dự mùa giải đầu tiên của European Cup, giải đấu khi đó không hoàn toàn dựa trên thứ hạng giải quốc gia.[12] Mười tám câu lạc bộ được cho là có thể tạo sự quan tâm trên khắp châu Âu và cũng có đèn pha cần thiết để thi đấu ban đêm đã được mời tham dự.[12] Đèn pha được sử dụng lần đầu tại Easter Road trong một trận giao hữu với Hearts vào ngày 18 tháng 10 năm 1954.[31] Hibs trở thành câu lạc bộ Anh quốc đầu tiên tham dự đấu trường châu Âu, vì thư ký English Football League Alan Hardaker đã thuyết phục Chelsea, nhà vô địch Anh, không tham dự.[32]
Hibs chơi trận đầu tiên trước Rot-Weiss Essen, thắng 4–0 tại Georg-Melches-Stadion[12] và hòa 1–1 tại Easter Road. Họ đánh bại Djurgårdens IF để vào bán kết,[12] nhưng ở cặp đấu đó, họ thua Stade de Reims với tổng tỷ số 0–3,[12] đội có cầu thủ tuyển thủ Pháp nổi tiếng Raymond Kopa trong đội hình.[12] Reims thua Real Madrid 3–4 trong trận chung kết.[12]
Turnbull's Tornadoes (1960–1989)
[sửa | sửa mã nguồn]Hibs thường xuyên tham dự Fairs Cup trong thập niên 1960, giành các chiến thắng trước Barcelona[33] và Napoli.[34] Tuy nhiên, câu lạc bộ đạt được rất ít thành công trong nước cho đến khi cựu cầu thủ Eddie Turnbull được thuyết phục trở lại Easter Road làm huấn luyện viên vào năm 1971. Đội bóng, thường được gọi là Turnbull's Tornadoes, kết thúc thứ hai tại giải quốc gia vào các năm 1974 và 1975, đồng thời giành Cúp Liên đoàn năm 1972. Câu lạc bộ cũng giành Drybrough Cup vào các năm 1972 và 1973,[35] và có chiến thắng 7–0 trước đối thủ derby Edinburgh Hearts tại Tynecastle vào ngày 1 tháng 1 năm 1973.
Thành tích bắt đầu sa sút sau giữa thập niên 1970, khi Hibs bị thay thế bởi New Firm gồm Aberdeen và Dundee United trong vai trò những đối thủ chính thách thức Old Firm. Turnbull từ chức huấn luyện viên, và Hibs xuống hạng lần thứ hai trong lịch sử vào năm 1980. Họ lập tức thăng hạng trở lại Scottish Premier Division vào năm 1981, nhưng câu lạc bộ chật vật trong thập niên 1980 và không thể giành quyền dự cúp châu Âu cho đến năm 1989.[35]
Thập niên 1990: Nỗ lực tiếp quản của Hearts
[sửa | sửa mã nguồn]Sau cách quản lý yếu kém cuối thập niên 1980, Hibs đứng bên bờ vực sụp đổ tài chính vào năm 1990.[36] Wallace Mercer, chủ tịch của Hearts, đề xuất sáp nhập hai câu lạc bộ,[36] nhưng các cổ động viên Hibs cho rằng đề xuất này giống một vụ tiếp quản thù địch hơn.[37] Họ thành lập nhóm Hands off Hibs để vận động cho sự tồn tại tiếp tục của câu lạc bộ.[37][38] Nỗ lực này thành công khi một doanh nhân địa phương nổi bật, chủ sở hữu Kwik Fit Sir Tom Farmer, mua cổ phần kiểm soát Hibs.[39] Các cổ động viên đã thuyết phục được Farmer nắm quyền kiểm soát dù ông không có nhiều hứng thú với bóng đá.[39] Farmer bị thuyết phục một phần bởi việc một người họ hàng của ông từng tham gia giải cứu Hibs khỏi khủng hoảng tài chính vào đầu thập niên 1890.[21] Sau nỗ lực tiếp quản của Mercer, Hibs có vài năm khá tốt vào đầu thập niên 1990, giành Chung kết Cúp Liên đoàn Scotland 1991 và kết thúc trong nhóm năm đội dẫn đầu giải quốc gia vào các năm 1993, 1994 và 1995. Không lâu sau khi Alex McLeish được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào năm 1998, Hibs xuống hạng xuống Scottish Football League First Division,[40] nhưng lập tức giành quyền trở lại SPL vào năm 1999.[41]
Thập niên 2000: "Thế hệ vàng"
[sửa | sửa mã nguồn]Hibs có một mùa giải tốt trong năm 2000–01 khi kết thúc thứ ba tại giải quốc gia và vào Chung kết Cúp bóng đá Scotland 2001, nơi họ thua Celtic 0–3.[42] Huấn luyện viên Alex McLeish rời đội để đến Rangers vào tháng 12 năm 2001;[43] đội trưởng Franck Sauzée được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới, dù trước đó ông chưa có kinh nghiệm huấn luyện.[44] Một chuỗi phong độ tệ hại sau đó khiến Sauzée bị sa thải chỉ sau 69 ngày dẫn dắt.[45][46]
Huấn luyện viên Kilmarnock Bobby Williamson sau đó được bổ nhiệm, nhưng ông không được lòng các cổ động viên Hibs.[47] Tuy nhiên, một "thế hệ vàng" gồm các cầu thủ trẻ giàu triển vọng đã xuất hiện, bao gồm Garry O'Connor, Derek Riordan, Kevin Thomson và Scott Brown.[48] Các cầu thủ này đóng vai trò quan trọng khi Hibs lần lượt loại cả hai nửa của Old Firm[49] để vào Chung kết Cúp Liên đoàn Scotland 2004, nhưng rồi thua Livingston 0–2.[47] Williamson rời đội gần cuối mùa giải đó để dẫn dắt Plymouth Argyle và được thay thế bởi Tony Mowbray.[47][50] Hibs kết thúc thứ ba trong mùa giải đầu tiên của ông trên cương vị huấn luyện viên, còn Mowbray giành giải Huấn luyện viên của năm do SFWA bình chọn.[51]

Mowbray rời Hibs vào tháng 10 năm 2006 để dẫn dắt West Bromwich Albion,[52] và được thay thế bởi cựu cầu thủ John Collins.[53] Đội giành Chung kết Cúp Liên đoàn Scotland 2007 dưới sự dẫn dắt của ông,[54] nhưng câu lạc bộ bán Kevin Thomson, Scott Brown và Steven Whittaker với tổng phí hơn 8 triệu bảng Anh.[55] Collins từ chức cuối năm đó, thất vọng vì không được cấp đủ ngân sách để ký hợp đồng với cầu thủ mới.[55] Cựu cầu thủ Hibs Mixu Paatelainen được bổ nhiệm thay Collins, nhưng ông rời đội sau khi kết thúc mùa giải trọn vẹn đầu tiên của mình.[56]
Một cựu cầu thủ Hibernian khác, John Hughes, nhanh chóng được bổ nhiệm thay Paatelainen.[57] Hughes, người thực hiện các bản hợp đồng đáng chú ý như Anthony Stokes[58] và Liam Miller,[59] giúp Hibs khởi đầu tốt trong mùa giải 2009–10.[60]
Thập niên 2010: Thành công tại Cúp Scotland
[sửa | sửa mã nguồn]Hibs kết thúc thứ tư năm 2010 và giành quyền dự Europa League,[61] nhưng khởi đầu kém cỏi trong mùa giải 2010–11 khiến John Hughes rời câu lạc bộ.[62] Hughes được thay thế bởi Colin Calderwood, người cũng bị sa thải một năm sau đó.[63] Câu lạc bộ tránh xuống hạng trong Scottish Premier League 2011–12 và vào Chung kết Cúp bóng đá Scotland 2012 dưới thời huấn luyện viên mới Pat Fenlon, nhưng thua Hearts 1–5.[64] Fenlon gần như xây dựng lại toàn bộ đội hình sau thất bại này.[65] Điều này giúp đội cải thiện vị trí tại giải quốc gia trong Scottish Premier League 2012–13 và vào Chung kết Cúp bóng đá Scotland 2013, nơi họ thua nhà vô địch quốc gia Celtic 0–3.[66] Hibs giành quyền dự UEFA Europa League 2013–14, nhưng phải chịu thất bại kỷ lục của một đội Scotland tại đấu trường châu Âu, thua Malmö với tổng tỷ số 0–9.[67] Fenlon từ chức vào ngày 1 tháng 11 và được thay thế bởi Terry Butcher.[68] Chuỗi 13 trận không thắng để kết thúc mùa giải Scottish Premiership 2013–14 khiến Hibs rơi vào vòng play-off trụ hạng,[69] nơi họ thua Hamilton Academical sau loạt sút luân lưu.[70]
Butcher bị sa thải vào tháng 6 năm 2014[71] và được thay thế bởi Alan Stubbs. Ông không thể đưa đội thăng hạng, nhưng mùa giải 2015–16 chứng kiến thành công đáng kể ở các giải cúp. Đội vào chung kết Cúp Liên đoàn, nơi họ thua Ross County.[72] Sau đó là chức vô địch Cúp bóng đá Scotland đầu tiên kể từ năm 1902, với chiến thắng 3–2 trong trận chung kết trước Rangers.[73] Ngoài việc chấm dứt cơn khát cúp kéo dài không mong muốn, kết quả này còn giúp Hibs xóa bớt danh tiếng về việc thường tạo kỳ vọng thành công rồi thất bại, vốn được các cổ động viên đối thủ và truyền thông Scotland phổ biến qua cụm từ "Hibsed it";[74][75][76][77] chính các cổ động viên câu lạc bộ sau đó đã dùng cụm từ này theo nghĩa tích cực để nhắc đến dịp ấy,[78] dù cụm từ vẫn tiếp tục được nhắc lại trong tương lai khi câu lạc bộ bị xem là thi đấu dưới kỳ vọng.[79][80][81] Không lâu sau chức vô địch cúp, Stubbs từ chức huấn luyện viên Hibs để dẫn dắt Rotherham United[82] và được thay thế bởi Neil Lennon, người đưa đội thăng hạng bằng chức vô địch Scottish Championship 2016–17.[83] Trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất, Hibs kết thúc thứ tư tại Premiership và giành quyền dự Europa League.[84] Lennon rời câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2019[85] và được thay thế bởi Paul Heckingbottom, người chỉ giữ chức trong bảy tháng.[86] Jack Ross được bổ nhiệm vào ngày 15 tháng 11 năm 2019.[87]
Thập niên 2020: Biến động huấn luyện viên
[sửa | sửa mã nguồn]Hibs kết thúc thứ bảy trong mùa giải quốc gia 2019–20 bị rút ngắn vì đại dịch COVID-19. Trong mùa giải tiếp theo, họ kết thúc thứ ba tại giải quốc gia và vào Chung kết Cúp bóng đá Scotland 2021, nhưng thua St Johnstone 0–1.[88] Ross đưa Hibs vào chung kết Cúp Liên đoàn cuối năm đó, nhưng bị sa thải 10 ngày trước trận chung kết sau chuỗi bảy thất bại trong chín trận giải quốc gia.[89] Shaun Maloney được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào tháng 12 năm 2021,[90] nhưng chính ông cũng bị sa thải bốn tháng sau đó, sau khi chỉ thắng sáu trong mười chín trận.[91] Người kế nhiệm ông, Lee Johnson, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào ngày 19 tháng 5 năm 2022.[92] Hibs kết thúc thứ năm và giành quyền dự cúp châu Âu dưới thời Johnson, nhưng nhiệm kỳ 15 tháng "như tàu lượn" của ông khép lại khi đội thua ba trận liên tiếp ở đầu mùa giải 2023–24.[93]
Sau nhiệm kỳ thứ tư làm huấn luyện viên tạm quyền, David Gray được bổ nhiệm chính thức vào tháng 6 năm 2024.[94] Sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2024–25, khiến Hibs đứng cuối bảng Premiership vào đầu tháng 12, đội trải qua chuỗi 17 trận bất bại, vươn lên kết thúc ở vị trí thứ ba và giành quyền dự cúp châu Âu.[95][96]
Ngày 1 tháng 8 năm 2025, Dan Barnett trở thành giám đốc điều hành của Hibernian FC, kế nhiệm Ben Kensell.[97] Barnett, trước đó là giám đốc thương mại tại Leicester City và từng tham gia các sự kiện thể thao quốc tế bao gồm các giải đấu UEFA và America’s Cup, được bổ nhiệm để hỗ trợ tăng trưởng thương mại và phát triển chiến lược của câu lạc bộ.[98]
Màu sắc và huy hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Màu sắc chủ đạo của câu lạc bộ là xanh lá và trắng, được sử dụng từ khi câu lạc bộ thành lập năm 1875.[99] Trang phục thường có thân áo màu xanh lá, tay áo trắng và cổ áo trắng.[99] Quần thường có màu trắng, dù màu xanh lá đã được sử dụng trong các mùa giải gần đây.[99] Tất có màu xanh lá, thường có một số chi tiết trắng.[99] Hibs đã sử dụng màu vàng, tím, đen, trắng và xanh lá đậm trong các mùa giải gần đây cho các bộ trang phục thay thế.[100] Năm 1977, Hibs trở thành câu lạc bộ chuyên nghiệp đầu tiên tại Scotland có nhà tài trợ trên áo, sau khi Bellshill Athletic làm điều này vào năm 1975.[101] Thỏa thuận này khiến các công ty truyền hình đe dọa tẩy chay các trận đấu của Hibs nếu đội sử dụng trang phục có tài trợ, dẫn đến việc câu lạc bộ lần đầu tiên sử dụng một bộ trang phục thay thế.[99][102]
Hibs mặc áo sọc ngang xanh lá và trắng trong thập niên 1870,[99] phong cách sau này truyền cảm hứng cho mẫu áo được Celtic sử dụng.[103] Sau đó Hibs mặc áo toàn xanh lá từ năm 1879 đến năm 1938, khi tay áo trắng được thêm vào áo.[99] Kiểu này tương tự Arsenal, đội đã thêm tay áo trắng vào áo đỏ của họ trước đó trong thập niên 1930.[104] Màu quần được đổi sang xanh lá đồng bộ với áo vào năm 2004, nhằm kỷ niệm 40 năm chiến thắng trận giao hữu trước Real Madrid vào tháng 10 năm 1964.[105] Quần xanh lá đã được sử dụng trong trận đấu đó để tránh trùng màu với trang phục toàn trắng của Real Madrid. Hibs cũng dùng quần xanh lá trong các mùa giải 2006–07, 2007–08 và 2008–09.[99] Trong mùa giải 2012–13, Hibs đổi màu chủ đạo của áo sang xanh "chai" đậm hơn, thay cho màu xanh lục bảo thông thường.[106] Màu xanh đậm từng được sử dụng cho đến thập niên 1930.[106] Trong mùa giải 2014–15, Hibs bỏ tay áo trắng truyền thống khỏi trang phục sân nhà, khi đổi sang áo xanh đậm để tưởng niệm hàng tiền đạo Famous Five.[107]
Huy hiệu dùng để nhận diện câu lạc bộ đã thay đổi nhiều lần qua các năm, phản ánh cuộc tranh luận kéo dài về bản sắc của đội. Tranh luận này xoay quanh việc liệu di sản Ireland của câu lạc bộ nên được thể hiện một cách tự hào, hay nên được lược bỏ vì lo ngại bị cáo buộc chủ nghĩa bè phái.[16] Đàn hạc Ireland lần đầu bị loại bỏ trong thập niên 1950, rồi được đưa trở lại huy hiệu câu lạc bộ khi huy hiệu được thiết kế lại gần nhất vào năm 2000.[16] Giám đốc Bảo tàng bóng đá Scotland Ged O'Brien nói vào năm 2001 rằng thiết kế hiện tại cho thấy Hibs "cảm thấy thoải mái với mọi nhánh truyền thống của mình – trong đó có Leith, Edinburgh và Ireland."[16] Ngoài cây đàn hạc đại diện cho Ireland, huy hiệu hiện nay còn có một con tàu, tượng trưng cho cảng Leith, và một lâu đài, giống như lâu đài Edinburgh.[16]
| Giai đoạn | Nhà sản xuất trang phục | Nhà tài trợ áo đấu (mặt trước) | Nhà tài trợ áo đấu (tay áo) |
|---|---|---|---|
| 1976–1977 | Bukta | Không có nhà tài trợ | Không có nhà tài trợ |
| 1977–1980 | Bukta | ||
| 1980–1981 | Umbro | Không có nhà tài trợ | |
| 1981–1984 | Fisher's Alfa Romeo | ||
| 1984–1985 | Không có nhà tài trợ | ||
| 1985–1986 | Insave | ||
| 1986–1987 | P&D Windows | ||
| 1987–1988 | Adidas | ||
| 1988–1991 | Frank Graham Group | ||
| 1991–1992 | Không có nhà tài trợ | ||
| 1992–1994 | Bukta | Macbean Protective Coating | |
| 1994–1996 | Mitre | Calor | |
| 1996–1998 | Carlsberg | ||
| 1998–2004 | Le Coq Sportif | ||
| 2004–2009 | Whyte & Mackay | ||
| 2009–2010 | McEwan Fraser | ||
| 2010–2011 | Puma | ||
| 2011–2013 | Crabbie's | ||
| 2013–2014 | Nike | ||
| 2014–2017 | Marathon Bet | ||
| 2017–2019 | Macron | ||
| 2019–2020 | Hibernian Community Foundation | ||
| 2020–2021 | Thank You NHS | ||
| 2021–2023 | Joma | Utilita | |
| 2023–2024 | Bevvy.com[108][109] | ||
| 2024– | SBK[110] |
Sân vận động
[sửa | sửa mã nguồn]Hibs thi đấu tại The Meadows trong hai năm đầu lịch sử,[111] trước khi chuyển đến các sân ở Newington (Mayfield Park)[111] và Bonnington Road, Leith (Powderhall),[112] trong các giai đoạn khác nhau từ năm 1877 đến năm 1879. Sau khi hợp đồng thuê Mayfield Park hết hạn, Hibs chuyển đến một sân mang tên Hibernian Park,[113] nằm tại khu vực nay là Bothwell Street ở Leith. Hibs không thể bảo đảm hợp đồng thuê sân, và một nhà xây dựng bắt đầu xây nhà trên địa điểm này vào năm 1890.[114] Hibs ký hợp đồng thuê địa điểm nay được gọi là Easter Road vào năm 1892 và thi đấu các trận sân nhà tại đây kể từ tháng 2 năm 1893.[115]
Trước khi Taylor Report yêu cầu các sân vận động phải có toàn bộ chỗ ngồi, Easter Road có những khu khán đài đứng rất lớn ở ba phía, đồng nghĩa sân có thể chứa hơn 60.000 khán giả.[116] Kỷ lục khán giả 65.860 người, cũng là kỷ lục cho một trận bóng đá diễn ra tại Edinburgh,[117] được thiết lập trong một trận derby Edinburgh vào ngày 2 tháng 1 năm 1950.[116][118] Những lượng khán giả lớn như vậy được thu hút bởi thành công của Famous Five.[118]
Mặt sân từng có độ dốc rõ rệt, nhưng độ dốc này đã được loại bỏ vào năm 2000.[118][119] Sân hiện là sân vận động toàn chỗ ngồi và có sức chứa 20.421.[3][120] Easter Road là một sân vận động hiện đại, với cả bốn khán đài đều được xây từ năm 1995 trở về sau.[118] Lần tái phát triển gần nhất là việc xây khán đài phía đông mới vào năm 2010.[118]
Scotland từng thi đấu bảy trận sân nhà tại Easter Road, trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2017.[121] Đội tuyển nữ Scotland chơi trận đầu tiên tại Easter Road vào tháng 8 năm 2019, trong trận vòng loại UEFA Women's Euro 2022 gặp Síp.[122] Sân từng tổ chức một trận quốc tế không có các đội tuyển Scotland tham dự, đó là trận giao hữu giữa Ghana và Hàn Quốc trước Giải vô địch bóng đá thế giới 2006.[123] Easter Road đôi khi cũng được dùng làm địa điểm trung lập cho các trận bán kết Cúp Liên đoàn Scotland[124][125][126][127] và từng tổ chức một trận chung kết Scottish Challenge Cup.[128]
Kình địch
[sửa | sửa mã nguồn]
Hibs có mối kình địch địa phương truyền thống tại Edinburgh với Hearts; trận derby giữa hai câu lạc bộ là một trong những mối kình địch lâu đời nhất trong bóng đá thế giới.[129] Graham Spiers mô tả trận đấu này là "một trong những viên ngọc của bóng đá Scotland".[8] Hai câu lạc bộ gặp nhau lần đầu vào ngày Giáng sinh năm 1875, khi Hearts thắng 1–0 trong trận đấu đầu tiên Hibs từng tham dự. Hai câu lạc bộ trở nên nổi bật tại Edinburgh sau cuộc đấu kéo dài năm trận cho Edinburgh Football Association Cup năm 1878, nơi Hearts cuối cùng thắng 3–2 sau bốn trận hòa liên tiếp.[130] Hai câu lạc bộ từng gặp nhau trong hai trận chung kết Cúp Scotland, vào các năm 1896 và 2012, cả hai đều do Hearts giành chiến thắng.[131] Trận đấu năm 1896 là trận chung kết Cúp Scotland duy nhất được tổ chức bên ngoài Glasgow.[131]
Hearts có thành tích đối đầu tổng thể tốt hơn trong các trận derby,[132] nhưng Hibs ghi nhận chiến thắng derby đậm nhất trong một trận chính thức khi thắng 7–0 tại Tynecastle vào ngày đầu năm mới 1973.[133] Dù yếu tố tôn giáo, sắc tộc hoặc chính trị từng được ghi nhận là nằm sau mối kình địch, khía cạnh này được mô tả là "nhẹ hơn" và là "hình ảnh phản chiếu mờ nhạt" của chủ nghĩa bè phái ở Glasgow.[134][135][136] Dù hai câu lạc bộ là đối thủ không thể tránh khỏi, mối kình địch chủ yếu mang tính "thiện chí" và đã tạo ra những tác động tích cực.[137]
Cổ động viên và văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]
Hibernian là một trong hai câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp toàn thời gian tại Edinburgh, thủ đô và là thành phố lớn thứ hai của Scotland.[138] Câu lạc bộ có lượng khán giả trung bình lớn thứ tư tại các giải Scotland trong mùa giải 2022–23 với 17.469 người.[139][140] Trong giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hibs thu hút lượng khán giả trung bình hơn 20.000 người, đạt đỉnh 31.567 người trong mùa giải 1951–52.[140] Kể từ khi Easter Road được tái phát triển thành sân vận động toàn chỗ ngồi vào giữa thập niên 1990, lượng khán giả trung bình dao động từ mức cao 18.124 người trong mùa giải 2017–18 đến mức thấp 9.150 người trong mùa giải 2003–04.[141][140] Lượng khán giả tăng đáng kể trong các mùa giải gần đây, được thúc đẩy bởi chức vô địch Cúp Scotland năm 2016 và việc thăng hạng năm 2017.[141] Trong thập niên 1980 và 1990, một thiểu số cổ động viên của câu lạc bộ nổi tiếng là một trong những nhóm casual nổi bật nhất tại Anh, được gọi là Capital City Service.[142] Nhóm ultra của Hibernian, thành lập năm 2021, có tên Block Seven.[143]
Văn học
[sửa | sửa mã nguồn]Các tác phẩm của tác giả Irvine Welsh, đặc biệt là Trainspotting, có nhiều lần nhắc đến Hibernian.[144] Đội thường được nhắc đến trong các cuộc trò chuyện đời thường và là đội bóng mà nhiều nhân vật của ông ủng hộ.[145] Các chi tiết thị giác liên quan đến Hibs xuất hiện rõ trong bản chuyển thể điện ảnh Trainspotting của Danny Boyle;[146] Francis Begbie mặc áo Hibs khi chơi bóng đá năm người, trong khi nhiều áp phích và hình ảnh Hibs có thể được nhìn thấy trên tường phòng ngủ của Mark Renton.
Trong truyện ngắn cuối cùng của The Acid House của Welsh, Coco Bryce, một cậu bé thuộc "nhóm firm" Hibs Capital City Service, bị sét đánh khi đang chịu ảnh hưởng của LSD tại một công viên ở Pilton. Linh hồn của cậu sau đó được chuyển vào cơ thể một đứa trẻ chưa chào đời từ một trong những khu vực giàu có hơn của Edinburgh.[147] Các lần Hibs góp mặt ở chung kết Cúp Scotland 2012 và 2016 lần lượt được mô tả trong các tiểu thuyết A Decent Ride và Dead Men's Trousers của Welsh.[148][149]
Hibernian cũng thường xuyên được nhắc đến trong loạt tiểu thuyết tiểu thuyết trinh thám Inspector Rebus của Ian Rankin. Rankin từng nói rằng Rebus là cổ động viên Raith Rovers,[150] nhưng trong bản chuyển thể truyền hình Rebus thập niên 2000 của loạt truyện, ông là cổ động viên Hibs.[151][152] Phiên bản Rebus đó do Ken Stott, một cổ động viên Hearts, thủ vai.[152] DS Siobhan Clarke, đồng nghiệp của ông trong các tập truyện sau, là một "cổ động viên trung thành" của Hibs.[153]
Âm nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]Bài hát truyền thống của Hibs "Glory, Glory to the Hibees" được viết và trình bày bởi diễn viên hài Scotland Hector Nicol.[154] Cựu ca sĩ Marillion Fish là cổ động viên Hibs;[155] Easter Road được nhắc đến trong ca khúc "Lucky", thuộc album Internal Exile. The Proclaimers là những cổ động viên Hibs trọn đời và tham gia mạnh mẽ vào chiến dịch "Hands off Hibs" nhằm cứu câu lạc bộ vào năm 1990.[37] Sunshine on Leith đã trở thành một bài ca của Hibs,[156] thường được phát sau những chiến thắng lớn tại Easter Road và các trận chung kết cúp.[157] Trong ca khúc "Cap in Hand", thuộc album Sunshine on Leith, The Proclaimers nhắc đến cầu thủ Hibs Andy Goram:[158]
| “ | Tôi có thể hiểu vì sao Stranraer xếp thấp đến vậy Họ có thể giữ được rất nhiều điểm nếu ký hợp đồng với thủ môn của Hibs |
” |
Ca khúc "Joyful Kilmarnock Blues", trong album đầu tay của The Proclaimers, nói về một chiến thắng sân khách của Hibs.[37]
| “ | Tôi chưa từng đến Ayrshire Tôi đi nhờ xe xuống đó vào một ngày thứ Bảy Sáu mươi dặm đến Kilmarnock Chỉ để xem Hibernian thi đấu |
” |
Truyền hình
[sửa | sửa mã nguồn]Hibs xuất hiện trong loạt phim truyền hình Succession, trong tập Dundee thuộc mùa thứ hai, khi Roman Roy (Kieran Culkin) mua Hearts vì tưởng rằng đây là đội bóng yêu thích của cha mình. Khi nhận món quà, Logan Roy tiết lộ rằng ông là cổ động viên Hibs.[159]
Quyền sở hữu và tài chính
[sửa | sửa mã nguồn]Dù câu lạc bộ bóng đá được thành lập năm 1875, đội không được hợp nhất thành công ty cho đến năm 1903.[note 1] Câu lạc bộ vẫn là công ty tư nhân cho đến năm 1988, khi được niêm yết công khai trên Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn.[160][161] Việc niêm yết công khai này, cộng với tình hình tài chính yếu kém, khiến Hibs dễ bị tổn thương trước nỗ lực tiếp quản năm 1990 của chủ tịch Hearts Wallace Mercer.[161][162][163] Nỗ lực này bị ngăn chặn khi Mercer không thể mua được 75% cổ phần cần thiết để thanh lý công ty.[161][163] Công ty mẹ của câu lạc bộ, Forth Investments plc, bị đưa vào chế độ quản lý tài sản vào năm 1991,[35][164] và Sir Tom Farmer mua quyền kiểm soát câu lạc bộ từ bên quản lý tài sản với giá 3 triệu bảng Anh.[39][164] Farmer tài trợ cho việc tái phát triển Easter Road và bù lỗ tài chính của Hibs, dù ông trao quyền điều hành cho những nhân vật khác như Rod Petrie.[39][165][166][164][167]
Tháng 12 năm 2014, câu lạc bộ cho biết họ có ý định bán tối đa 51% quyền sở hữu câu lạc bộ cho các cổ động viên.[168] Đến tháng 11 năm 2017, các cổ động viên đã tăng tỷ lệ cổ phần trong câu lạc bộ lên 34%.[169] Quyền sở hữu đa số của câu lạc bộ được bán vào tháng 7 năm 2019 cho doanh nhân sinh tại Peru và sống tại Hoa Kỳ Ronald Gordon, người trở thành chủ tịch điều hành.[170] Ngày 21 tháng 2 năm 2023, Hibernian thông báo Gordon đã qua đời vì ung thư ở tuổi 68,[171] và cổ phần đa số của ông được chuyển cho gia đình.[172]
Đại hội đồng thường niên tổ chức vào tháng 2 năm 2024 đã phê chuẩn thỏa thuận với Black Knight, cổ đông đa số của câu lạc bộ Anh AFC Bournemouth.[173] Gia đình Gordon giữ quyền kiểm soát đa số với 60%, còn Black Knight mua 25% cổ phần thông qua khoản đầu tư 6 triệu bảng Anh.[173] Các cổ đông thiểu số, như nhóm cổ động viên Hibernian Supporters Limited, bị pha loãng tỷ lệ sở hữu.[173] Black Knight bán lại phần cổ phần của mình cho gia đình Gordon vào tháng 11 năm 2025, với lý do "khác biệt triết lý" khiến quan hệ đối tác đổ vỡ.[174]
Cầu thủ
[sửa | sửa mã nguồn]Đội hình một
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội hình học viện
[sửa | sửa mã nguồn]Đội nữ
[sửa | sửa mã nguồn]Câu lạc bộ sau này trở thành đội nữ Hibernian được Iain Johnston và Paul Johnston thành lập vào năm 1997, nhưng trong hai mùa giải đầu tiên tồn tại, đội bóng nằm dưới sự bảo trợ của Preston Athletic.[179] Tên đội được đổi thành Hibernian Ladies vào năm 1999 và họ trở thành một trong những đội bóng nữ hàng đầu tại Scotland.[180]
Hibernian giành Cúp bóng đá nữ Scotland năm 2010, lần thứ năm trong tám năm.[181] Thành công của đội tại giải cúp quốc gia được đặt trong sự tương phản với đội nam liên kết,[182] đội từng trải qua hơn một thế kỷ không vô địch giải đấu tương ứng cho đến chiến thắng trong năm 2016. Hibernian Ladies giành cú đúp cúp quốc nội trong các năm 2016, 2017[183] và 2018.[184]
Trước mùa giải 2020, câu lạc bộ được đổi thương hiệu thành Hibernian Women và các cầu thủ được trao những hợp đồng chuyên nghiệp bán thời gian đầu tiên.[185] Đội một nữ được tích hợp hoàn toàn vào câu lạc bộ nam vào tháng 7 năm 2022, trong khi các đội trẻ vẫn do Hibernian Community Foundation điều hành.[186]
Nhân sự câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]
Ban huấn luyện đội một
Hội đồng quản trị
|
Nhân sự hậu trường
Nguồn: [175]
|
Cầu thủ đáng chú ý
[sửa | sửa mã nguồn]Lewis Stevenson giữ kỷ lục ra sân nhiều nhất tại giải quốc gia cho Hibs, vượt mốc 450 trận vào năm 2023, thay thế vị trí của Arthur Duncan, người có 446 lần ra sân.[22] Toàn bộ Famous Five – Gordon Smith, Eddie Turnbull, Lawrie Reilly, Bobby Johnstone và Willie Ormond – đều ghi hơn 100 bàn tại giải quốc gia cho Hibs.[11]
Các cầu thủ Hibernian đã được khoác áo đội tuyển quốc gia ở cấp độ quốc tế chính thức cho 35 đội tuyển khác nhau, trong đó 70 cầu thủ Hibernian từng ra sân cho Scotland.[203] Hibernian xếp thứ năm trong số tất cả câu lạc bộ về số cầu thủ cung cấp cho Scotland, sau Old Firm, Hearts và Queen's Park.[204] James Lundie và James McGhee là những cầu thủ Hibs đầu tiên thi đấu cho Scotland, trong một trận thuộc British Home Championship 1885–86 gặp Wales.[205] Lawrie Reilly giữ kỷ lục khoác áo đội tuyển quốc tế nhiều nhất khi còn là cầu thủ Hibs, với 38 lần ra sân cho Scotland từ năm 1949 đến năm 1957.[205] Năm 1959, tiền đạo Hibs Joe Baker trở thành cầu thủ đầu tiên chưa từng thi đấu cho một câu lạc bộ Anh được khoác áo Anh.[205]
Để đánh dấu sinh nhật lần thứ 135 của câu lạc bộ, đội thành lập Đại sảnh Danh vọng vào năm 2010.[206] Nhóm đề cử đầu tiên, gồm 13 cựu cầu thủ, được vinh danh tại một bữa tối vào cuối năm đó.[206][207]
Huấn luyện viên đáng chú ý
[sửa | sửa mã nguồn]Từ năm 1875 đến năm 1903, Hibs được điều hành bởi một ủy ban,[208] mặc dù Dan McMichael, người đồng thời đảm nhiệm vai trò thủ quỹ, thư ký và nhà vật lý trị liệu, trên thực tế là huấn luyện viên khi câu lạc bộ giành Cúp Scotland 1902 và chức vô địch quốc gia 1903.[209] Willie McCartney dẫn dắt một phần mùa giải vô địch quốc gia 1947–48, nhưng ông ngã quỵ và qua đời sau một trận đấu tại Cúp Scotland vào tháng 1 năm 1948.[29][210] Hugh Shaw kế thừa đội hình đó và tiếp tục giành ba chức vô địch quốc gia vào cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950. Alan Stubbs giành Cúp bóng đá Scotland trong mùa giải 2015–16, chấm dứt cơn khát danh hiệu kéo dài 114 năm tại giải đấu này.[73][211] Eddie Turnbull, Alex Miller và John Collins đều từng giành một Cúp Liên đoàn Scotland. Bobby Templeton, Bertie Auld, Alex McLeish và Neil Lennon đều từng giành chức vô địch hạng hai.
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Danh hiệu lớn
[sửa | sửa mã nguồn]Danh hiệu khác
[sửa | sửa mã nguồn]- Giải quốc gia Scotland (hạng II):[23][note 3] 1893–94, 1894–95, 1932–33, 1980–81, 1998–99, 2016–17
- Drybrough Cup:[23] 1972, 1973
- Summer Cup:[23] 1941, 1964
- Southern League Cup:[23][note 4] 1943–44
- East of Scotland Shield: 60 lần
- Rosebery Charity Cup: 22 lần
- Wilson Cup: 14 lần
- Glasgow Merchants Charity Cup:[212] 1902
- Edinburgh Football League: 1901–02
- North-Eastern Cup: 1910–11
- Dunedin Cup: 1921, 1929[213]
Kỷ lục
[sửa | sửa mã nguồn]Khán giả
[sửa | sửa mã nguồn]- Lượng khán giả cao nhất trong một trận: 65.860 trước Hearts, 2 tháng 1 năm 1950[116]
- Lượng khán giả sân nhà trung bình cao nhất: 31.567 trong mùa giải 1951–52[140]
- Lượng khán giả cao nhất trong bất kỳ trận nào có Hibs tham dự: 143.570 trước Rangers tại Hampden Park, 27 tháng 3 năm 1948[22]
Một trận
[sửa | sửa mã nguồn]- Chiến thắng lớn nhất: 22–1 trước Black Watch Highlanders, 3 tháng 9 năm 1881[22]
- Chiến thắng chính thức lớn nhất: 15–1 trước Peebles Rovers, 11 tháng 2 năm 1961[22]
- Chiến thắng lớn nhất tại giải quốc gia: 11–1 trước Airdrie, 24 tháng 10 năm 1959 và trước Hamilton, 6 tháng 11 năm 1965[22]
- Thất bại lớn nhất: 0–10 trước Rangers, 24 tháng 12 năm 1898[22]
Khoác áo đội tuyển và ra sân
[sửa | sửa mã nguồn]- Tính đến trận đấu diễn ra vào ngày 15 tháng 5 năm 2024
- Ra sân chính thức nhiều nhất: Gordon Smith, 636[214]
- Ra sân nhiều nhất tại giải quốc gia: Lewis Stevenson, 477[215][216][217]
- Cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất: Lawrie Reilly, 38 trận cho Scotland[205]
Bàn thắng
[sửa | sửa mã nguồn]- Ghi nhiều bàn thắng chính thức nhất: Gordon Smith, 303[214]
- Ghi nhiều bàn nhất tại giải quốc gia: Lawrie Reilly, 187[215][218][219]
- Ghi nhiều bàn thắng chính thức nhất trong một mùa giải: Joe Baker, 46 bàn trong mùa giải 1959–60[220]
- Ghi nhiều bàn nhất tại giải quốc gia trong một mùa giải: Joe Baker, 42 bàn trong mùa giải 1959–60[220]
Chuyển nhượng
[sửa | sửa mã nguồn]- Phí chuyển nhượng kỷ lục đã trả: không tiết lộ (>1.000.000 bảng Anh) cho Thibault Klidjé từ Luzern vào năm 2025[221][222]
- Phí chuyển nhượng kỷ lục nhận được: 6.000.000 bảng Anh cho Kieron Bowie từ Verona vào năm 2026[223]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Hibernian F.C. tại bóng đá châu Âu
- Hibernian W.F.C.
- Hibernian F.C. Reserves and Academy
- Hibernian Training Centre
- Hibernians F.C. - câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Malta
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Hibernian FC được đăng ký với Companies House vào ngày 11 tháng 4 năm 1903 dưới tên The Hibernian Football Club Limited, số công ty SC005323.
- ↑ Từ năm 1890 đến năm 1975, hạng đấu cao nhất của hệ thống giải bóng đá Scotland được gọi là Division One, hoặc trong một thời gian ngắn là Division A. Từ năm 1975 đến năm 1998, hạng đấu cao nhất là Premier Division và từ năm 1998 đến năm 2013, được gọi là Premier League. Từ năm 2013, hạng đấu cao nhất được gọi là Premiership.
- ↑ Từ năm 1893 đến năm 1975, Division Two là hạng hai của bóng đá giải quốc gia. Khi Premier Division được thành lập năm 1975, hạng hai được gọi là First Division. Từ năm 2013, hạng hai được đặt tên là Championship.
- ↑ Southern League Cup là một giải đấu khu vực được tổ chức trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 3 4 "Scotland – Club Nicknames". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. ngày 5 tháng 3 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 "Hibs reveal 'cabbage' away kit". BBC Sport. ngày 30 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 "Hibernian Football Club". Scottish Professional Football League. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014.
- ↑ "THE HIBERNIAN FOOTBALL CLUB LIMITED". Gov.UK. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
- 1 2 3 4 "The Origins of Hibernian – 3". Hibernianfc.co.uk. Hibernian F.C. ngày 11 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 7 2011. Truy cập 22 tháng 2 2010.
- 1 2 Hans Kristian Hognestad (1997). The Jambo Experience: An Anthropological Study of Hearts Fans. Berg. ISBN 978-1-85973-193-2. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2010.
Even though Hibs were founded by Irish–Catholic immigrants, this connection to their sectarian origins has faded significantly in the Protestant-dominated Edinburgh of the twentieth century.
- 1 2 Donald Campbell (2003). Edinburgh: a Cultural and Literary History. Signal Books. tr. 132. ISBN 978-1-902669-73-1. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Sectarian bigotry may not be completely absent from this relationship, but it has always been less important than identification with territory. Hibs supporters tend to belong to the north and east of Edinburgh, while Hearts supporters (who outnumber their city rivals by a ratio of approximately two to one) are more usually found in the south and west.
- 1 2 3 Spiers, Graham (ngày 3 tháng 11 năm 2007). "Edinburgh derby is the jewel of game in Scotland". The Times. News International. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Hibernian F.C." Scottish Football Ground Guide. Duncan Adams. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 3 4 5 Crampsey 1990, tr. 27
- 1 2 3 4 5 6 7 Gordon, Phil (ngày 24 tháng 8 năm 2001). "Bobby Johnstone". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Wilson, Richard (ngày 17 tháng 7 năm 2005). "European Union". The Sunday Times. News International. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2017.
- 1 2 "The football team, formed in the shadow of famine, that fought xenophobia and raised money for impoverished immigrants". BBC. ngày 21 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2018.
- ↑ "Erin go Bragh". Hibernian F.C. ngày 11 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
- ↑ Hennessey, Mike (ngày 24 tháng 6 năm 2021). "The Ballingarry priest who founded famed Scottish club Hibernian FC". Limerick Leader. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2022.
- 1 2 3 4 5 6 7 Hannan, Martin (ngày 20 tháng 5 năm 2001). "Whose grass-roots are the greener?". Scotland on Sunday. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.
- ↑ Vallely, Joanna (ngày 4 tháng 8 năm 2006). "God squad signs up to play host to Hibs past". Edinburgh Evening News. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Scott Murray and Rowan Walker (2008). Day of the Match: A History of Football in 365 Days. Boxtree. ISBN 978-0-7522-2678-1. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2010.
In August 1887, Scottish Cup holders Hibernian took on FA Cup winners Preston North End in a friendly at Hibs' Easter Road ground. Posters appeared all over Edinburgh billing the encounter as 'The Association Football Championship of the World'. Hibernian won the match 2–1 and therefore had the right (whichever way you look at it, as nobody else had bothered to stage such an event) to call themselves the first world champions, beating Uruguay to it by 43 years.
- ↑ Mackay 1986, tr. 40
- ↑ Lugton 1999, tr. 121
- 1 2 "The Origins of Hibernian – Part 12". Hibernianfc.co.uk. Hibernian F.C. ngày 11 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ 27 tháng 9 2009. Truy cập 22 tháng 2 2010.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Mackay 1986, tr. 256
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Honours & Records". Hibs.co.uk. Hibernian F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2010.
- ↑ Stephen Dobson and John A. Goddard (2001). The Economics of Football. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-66158-4. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Edinburgh Hibernians were founded as the first catholic club in 1875. In its first incarnation, only catholics were permitted to play for Hibernian, but when the club was reconstituted in 1893 the ban on protestants was lifted.
- ↑ Kelly, John (tháng 5 năm 2007). "Hibernian Football Club: The Forgotten Irish?". Sport in Society. 10 (3): 514–536. doi:10.1080/17430430701333950. S2CID 143084869.
- ↑ "New capital groundshare plan". BBC Sport. ngày 13 tháng 8 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Black, Jim (ngày 3 tháng 2 năm 2008). "Hibs' Cup of woe adds to strife of Reilly". The Observer. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Jeffrey 2005, tr. 125
- 1 2 3 4 5 Bonthrone, Mark (ngày 11 tháng 9 năm 2006). "A Lawrie load of goals to thrill a nation". Edinburgh Evening News. Johnston Press. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Club History". Queen of the South FC. ngày 13 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Mon 18 Oct 1954". Londonhearts.com. London Hearts Supporters' Club. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 12 2008. Truy cập 22 tháng 2 2010.
- ↑ Glanville, Brian (ngày 27 tháng 4 năm 2005). "The great Chelsea surrender". The Times. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2017.
- ↑ Leslie, Colin (ngày 13 tháng 6 năm 2008). "Kinloch still treasures shot at glory". The Scotsman. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Classic Match: Hibs 5–0 Napoli, 29 November 1967". The Scotsman. Johnston Press. ngày 24 tháng 3 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 3 "Hibernian History". hibernianfc.co.uk. Hibernian FC. ngày 11 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 1 2013. Truy cập 25 tháng 2 2013.
- 1 2 Murray, Scott (ngày 3 tháng 5 năm 2001). "Merger memories". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 3 4 Bowditch, Gillian (ngày 9 tháng 8 năm 2005). "Family and football". The Scotsman. Johnston Press. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Pattullo, Alan (ngày 4 tháng 6 năm 2020). "'Creative accountancy': How Jim McLean - and others - were unlikely saviours of Hibs as Wallace Mercer circled". The Scotsman. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 3 4 "Farmer content with Hibs backseat". BBC Sport. ngày 26 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2011.
- ↑ Buckland, Simon. "Hibernian 1 Dundee United 2". Sporting Life. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Hibs history: Hibees bounce back to top tier – Hibs 2–1 Falkirk, 8 May 1999". Edinburgh Evening News. Johnston Press. ngày 8 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "Celtic lift cup to complete Treble". BBC Sport. ngày 26 tháng 5 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Rangers unveil McLeish". BBC Sport. ngày 11 tháng 12 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Hibs choose Sauzee". BBC Sport. ngày 14 tháng 12 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Murray, Scott (ngày 6 tháng 11 năm 2007). "The Joy of Six: terrible managerial stints". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Hibs sack Sauzee". BBC Sport. ngày 21 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 3 Moffat, Colin (ngày 20 tháng 4 năm 2004). "Few Hibees will mourn Williamson". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Lee Johnson has the new Hibs golden generation next season to kickstart Easter Road revival - Tam McManus". msn.com. ngày 8 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2022.
- ↑ "Hibernian & Rangers: Memorable cup ties". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2017.
- ↑ "Mowbray is new Hibs boss". BBC Sport. ngày 24 tháng 5 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Hartson wins writers' top prize". BBC Sport. ngày 2 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Mowbray leaves Hibs for West Brom". BBC Sport. ngày 13 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "John Collins confirmed as Hibs manager". BBC Sport. ngày 31 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Lindsay, Clive (ngày 18 tháng 3 năm 2007). "Kilmarnock 1–5 Hibernian". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 "Collins resigns as Hibs manager". BBC Sport. ngày 20 tháng 12 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Lomax, Andrew (ngày 29 tháng 5 năm 2009). "Mixu Paatelainen resigns as Hibs manager". Daily Telegraph. Telegraph Media Group Limited. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
- ↑ "Hughes appointed Hibernian boss". BBC Sport. ngày 8 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Murray, Ewan (ngày 28 tháng 8 năm 2009). "John Hughes' resurgent Hibernian face early test from Celtic". The Guardian Sport Blog. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Hannan, Martin (ngày 8 tháng 11 năm 2009). "The world's a stage for Miller". Scotland on Sunday. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Drysdale, Neil (ngày 21 tháng 10 năm 2009). "Hibs must seize the initiative against weak Old Firm". STV Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Dundee Utd 0–2 Hibernian". BBC Sport. ngày 9 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2010.
- ↑ "Manager John Hughes parts company with Hibernian". BBC Sport. ngày 4 tháng 10 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
- ↑ McLauchlin, Brian (ngày 6 tháng 11 năm 2011). "Calderwood sacked as Hibs manager". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2011.
- ↑ Campbell, Andy (ngày 19 tháng 5 năm 2012). "Hibernian 1–5 Hearts". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2012.
- ↑ Lamont, Alasdair (ngày 23 tháng 9 năm 2012). "Hibernian on the road to recovery". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012.
- ↑ "Scottish Cup final: Hibs progress despite defeat – Pat Fenlon". BBC Sport. ngày 26 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
- ↑ "Europa League: Embarrassed Pat Fenlon's apology to Hibs fans". BBC Sport. ngày 26 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013.
- ↑ "Hibernian: Terry Butcher takes over after Inverness CT agree deal". BBC Sport. ngày 12 tháng 11 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Lamont, Alasdair (ngày 10 tháng 5 năm 2014). "Hibernian 0–1 Kilmarnock". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2014.
- ↑ "Hibernian 0–2 Hamilton". BBC Sport. ngày 25 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014.
- ↑ "Hibernian sack Terry Butcher following club's relegation". BBC Sport. ngày 10 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014.
- ↑ "Alex Schalk hands Ross County fairytale finish over Hibernian". The Guardian. ngày 13 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2019.
- 1 2 "Scottish Cup final: Rangers 2-3 Hibernian". BBC Sport. ngày 21 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2016.
- ↑ 'Hibsed it' jokers don't faze Hibs squad - Jason Cummings Lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Wayback Machine, The Scotsman, 16 April 2016
- ↑ David Tanner column: Scottish Cup final and Brendan Rodgers' arrival at Celtic, Sky Sports, 16 May 2016
- ↑ Sports psychologist Tom Lucas insists Andy Murray’s weekend win can inspire Hibs to Scottish Cup glory Lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Wayback Machine, Iain Collin, Capital City Press, 16 May 2016
- ↑ Persevered: The Epic Story of Hibs' 2016 Scottish Cup Campaign, Aidan Smith, Birlinn Ltd, 2016; ISBN 9780857909213
- ↑ Leeann Dempster says Hibsed it is a phrase she now loves after stunning Scottish Cup triumph Lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Wayback Machine, Anthony Haggerty, 26 October 2016
- ↑ The Saints drawn together in exciting semi-final match-up, Scottish Football Association, 26 April 2021
- ↑ Kyle Magennis steps up for Hibs as Christian Doidge is rule out until Christmas, The Times, 16 August 2021 (cần đăng ký mua)
- ↑ Hibernian 3-1 Luzern: From Andorra embarrassment to 'benchmark' European win, Nick McPheat, BBC Sport, 10 August 2023
- ↑ Cooney, Darren (ngày 31 tháng 5 năm 2016). "Alan Stubbs leaves Hibernian to take charge of Rotherham on three-year deal". Daily Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2019.
- ↑ McLauchlin, Brian (ngày 15 tháng 4 năm 2017). "Hibernian 3–0 Queen of the South". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2017.
- ↑ English, Tom (ngày 14 tháng 5 năm 2018). "Celtic canter to title glory but elsewhere it was a season of twists & turns". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Neil Lennon: Hibs head coach officially leaves post by mutual consent". BBC Sport. ngày 30 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2019.
- ↑ "Hibernian: Paul Heckingbottom appointed as head coach". BBC Sport. ngày 13 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ↑ "Hibernian: Jack Ross appointed as head coach". BBC Sport. ngày 15 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2019.
- ↑ Lindsay, Clive (ngày 22 tháng 5 năm 2021). "St Johnstone 1–0 Hibernian". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021.
- ↑ McLauchlin, Brian (ngày 9 tháng 12 năm 2021). "Hibernian: Jack Ross exits as head coach". BBC Sport. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Shaun Maloney appointed Hibernian manager with Gary Caldwell assistant". BBC Sport. ngày 20 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Hibernian: Shaun Maloney sacked as manager after four months". BBC Sport. ngày 19 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2023.
- ↑ Hibernian Football Club (ngày 19 tháng 5 năm 2022). "We are pleased to announce Lee Johnson as our new Manager at Hibernian FC!". Instagram. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2023.
- ↑ McPheat, Nick (ngày 27 tháng 8 năm 2023). "Hibernian: Where did it go wrong for Lee Johnson & who might replace him as manager?". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2023.
- ↑ McLauchlin, Brian (ngày 6 tháng 6 năm 2024). "Hibernian: David Gray appointed head coach on three-year deal". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
- ↑ Lyall, Jamie (ngày 14 tháng 4 năm 2025). "Are record-equalling Hibs Scotland's third force?". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Winton, Richard (ngày 16 tháng 5 năm 2025). "Who needs what in Premiership's final-day Europe race?". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "'Ambitious' Dan Barnett leaves Leicester to become Hibernian chief executive". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Walker, Peter A. (ngày 1 tháng 7 năm 2025). "Hibernian FC appoints new chief executive". businessInsider (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Hibernian". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Clydesdale Bank Scottish Premier League 2008–2009". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Blair, Olivia (ngày 12 tháng 10 năm 1996). "The earth definitely didn't move for Ipswich last season, so much so that they changed their shirt sponsors from Fisons to Greene King". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
Hibs, in fact, were the first Scottish club to carry a shirt sponsor, that of Bukta in 1977 (Kettering Town were the first south of the border, in 1976).
- ↑ "A Brief History of Football Kit Design in England and Scotland". Historical Football Kits. Dave Moor. tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Turner, Georgina (ngày 23 tháng 11 năm 2005). "Nicking the shirts off their backs". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "The Arsenal home kit". Arsenal.com. Arsenal FC. ngày 21 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Hibernian reach the first European Cup semi-finals 1956". A Sporting Nation. BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 "Hibs unveil new home kit". Edinburgh Evening News. Johnston Press. ngày 29 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2012.
- ↑ Borthwick, Jamie (ngày 3 tháng 7 năm 2014). "Hibernian to play without white sleeves in new tribute kit to Famous Five". STV Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014.
- ↑ "Bevvy.com Become Hibernian FC's Front Of Shirt Sponsor and Principal Partner". Hibernian FC. ngày 15 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Hibs Extend Men's Front Of Shirt Partnership With Bevvy.com". Hibernian FC. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "HIBERNIAN FC ANNOUNCE NEW SLEEVE PARTNERSHIP WITH SBK". Hibernian FC. ngày 2 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2024.
- 1 2 Lugton 1999, tr. 227
- ↑ Lugton 1999, tr. 229
- ↑ Lugton 1999, tr. 232
- ↑ Lugton 1999, tr. 275
- ↑ Lugton 1999, tr. 278
- 1 2 3 Leslie, Colin (ngày 23 tháng 2 năm 2010). "Fans' favourite to make its last stand as sun sets on the East". The Scotsman. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Hearts heading for a home record". BBC Sport. ngày 27 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 3 4 5 Hardie, David (ngày 19 tháng 8 năm 2010). "Stand and watch march of progress at Hibs". Edinburgh Evening News. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "Hibs bid farewell to slope". BBC Sport. ngày 29 tháng 4 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Hardie, David (ngày 2 tháng 11 năm 2010). "Easter Road set for biggest crowd in 17 years as Hibs take on Hearts". Edinburgh Evening News. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2010.
- ↑ "Scotland line up friendly with Canada at Easter Road". BBC Sport. ngày 23 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "Scotland Women 8–0 Cyprus Women". BBC Sport. BBC. ngày 30 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Hardie, David (ngày 5 tháng 6 năm 2006). "Essien's delight at Easter Road". Edinburgh Evening News. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Office semi-divided". BBC Sport. ngày 30 tháng 1 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
- ↑ "Cup semi for Easter Road". The Scotsman. Johnston Press. ngày 10 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
- ↑ "Butcher bemoans Easter Road semi". The Scotsman. Johnston Press. ngày 19 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
- ↑ "Semi-final now pay-at-gate after crowd fears". The Scotsman. Johnston Press. ngày 24 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
- ↑ "Raith v Rangers: Easter Road hosts Ramsdens Cup final". BBC Sport. ngày 30 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015.
- ↑ "Spectator sports". Edinburgh: Inspiring Capital. City of Edinburgh Council. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Sat 20 Apr 1878 EFA Cup Hearts 3 Hibernian 2". Londonhearts.com. London Hearts Supporters' Club. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 Halliday, Stephen (ngày 31 tháng 3 năm 2006). "Logie Green: the final Edinburgh didn't want". The Scotsman. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Hibernian". London Hearts Supporters' Club. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Hearts vs Hibs Competitive Games Only". Londonhearts.com. London Hearts Supporters' Club. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Thomas Martin Devine and Richard J. Finlay (1996). Scotland in the 20th Century. Edinburgh University Press. ISBN 978-0-7486-0751-8. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Sectarian loyalties became articulated in club support for, respectively, Glasgow's Celtic and Rangers, Edinburgh's Hibs and Hearts and, early on, for Dundee's Hibs (from 1923 United) and Dundee F.C.
- ↑ Richard Holt and Tony Mason (2000). Sport in Britain 1945–2000. Blackwell Publishers. ISBN 978-0-631-17153-9. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Other rivalries such as between Heart of Midlothian and Hibernian in Edinburgh or the Dundee and Dundee United divide were but pale reflections of this fiercer and peculiarly Scottish rivalry.
- ↑ Richard Holt (1989). Sport and the British: a Modern History. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-285229-8. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Sectarianism of a more muted kind also lay beneath the Hearts and Hibs split in Edinburgh
- ↑ Donald Campbell (2003). Edinburgh: a Cultural and Literary History. Signal Books. tr. 132. ISBN 978-1-902669-73-1. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Since both Hearts and Hibs originated in the Old Town, rivalry between the clubs was always inescapable. But in the main it is a fairly good-natured rivalry and, in fact, has not been without its productive aspects.
- ↑ "Population of Scotland, Statistics of Scottish City population". Scotland.org. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 3 2009. Truy cập 24 tháng 2 2010.
- ↑ "Attendances". european-football-statistics.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
- 1 2 3 4 "Average Attendances". fitbastats.com. Bobby Sinnett and Thomas Jamieson. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2017.
- 1 2 "Hibernian: Emotional boss Neil Lennon 'glad to deliver' Championship title". BBC Sport. ngày 6 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2017.
- ↑ Smith, Mark (ngày 10 tháng 1 năm 2003). "Hibs thugs boast of violence on internet". Edinburgh Evening News. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Get To Know: Block Seven". Hibernian FC. ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2025.
- ↑ James P. Byrne, Padraig Kirwan and Michael O'Sullivan (2009). Affecting Irishness: Negotiating Cultural Identity Within and Beyond the Nation. Peter Lang AG. ISBN 978-3-03911-830-4. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Welsh, a lifelong Hibernian fan, is notoriously partisan in this regard, and in the novels before Glue, few of his positive characters follow Heart of Midlothian. Welsh uses the traditions of Edinburgh's football clubs to discuss the difficult subjects of community identity and contemporary conflict
- ↑ Gerard Carruthers (2009). Scottish Literature. Edinburgh University Press. ISBN 978-0-7486-3308-1. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Like his main group of friends, a fan of Hibernian Football Club
- ↑ McKay, Ron (ngày 4 tháng 2 năm 1996). "Would the real Irvine Welsh shoot up?". The Observer. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Irvine Welsh". Writing Scotland. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Kelly, Stuart (ngày 24 tháng 4 năm 2015). "A Decent Ride by Irvine Welsh review – poor writing and penis jokes". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "Book Review: Dead Men's Trousers by Irvine Welsh". The Scotsman. ngày 23 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2018.
- ↑ Donaldson, Mark (ngày 11 tháng 4 năm 2010). "Ian Rankin : Stretching the Imagination". The Active Nation Scottish Cup Semi-final Official Programme – Raith Rovers v Dundee United. Glasgow: The Scottish Football Association. tr. 34–5.
- ↑ Rankin, Ian (tháng 7 năm 2007). "Rebus". Ian Rankin. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 6 2015. Truy cập 5 tháng 9 2014.
- 1 2 Fulton, Rick (ngày 8 tháng 12 năm 2005). "Born To Be Rebus". Daily Record. Trinity Mirror. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 9 2011. Truy cập 24 tháng 2 2010.
- ↑ Duncan Petrie (2004). Contemporary Scottish Fictions: Film, Television and the Novel. Edinburgh University Press. ISBN 978-0-7486-1789-0. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2010.
She [Siobhan Clarke] is single, fiercely independent and is fond of both music and football, being a loyal supporter of Hibernian FC.
- ↑ "Hibernian FC: Glory Glory to the Hibees". Amazon UK. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Email 27th March 2007". The-Company.Com: Official Fish Site. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 8 2008.
- ↑ Ferguson, Brian (ngày 4 tháng 5 năm 2002). "Singing twins bring sunshine to Leith". Edinburgh Evening News. Johnston Press. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Cosgrove, Stuart (ngày 29 tháng 3 năm 2007). "I Would Walk 500 Miles To Savour Hampden Roar". Daily Record. Trinity Mirror. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2017.
- ↑ @The_Proclaimers (ngày 3 tháng 7 năm 2022). "Deepest condolences to the Goram family. Andy was a magnificent Hibs goalie when we wrote Cap In Hand" (Tweet). Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2022 – qua Twitter.
- ↑ "Succession, Hearts & Hibs: How Scottish football teams feature in hit HBO series". Goal.com (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2023.
- ↑ McConnell, Tom (ngày 23 tháng 12 năm 1989). "Edinburgh Hibernian loses £0.5m in first year". The Herald. Herald & Times Group. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
- 1 2 3 "Mercer Merger 20 years on: Hibs chairman's revolution ended in club being open to hostile bid". Carluke Gazette. Johnston Publishing. ngày 2 tháng 6 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
- ↑ "Mercer merger 20 years on: Scheme to join Hearts and Hibs is unveiled". Fife Today. Johnston Publishing. ngày 1 tháng 6 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
- 1 2 "Mercer Merger – 20 years on: Wallace Mercer decides to call it quites as David Duff digs in". Edinburgh Evening News. Johnston Publishing. ngày 4 tháng 6 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
- 1 2 3 "Hibs reveal Farmer stake". BBC Sport. ngày 30 tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
- ↑ "Petrie takes over as Hibs chair". BBC Sport. ngày 14 tháng 12 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2011.
- ↑ "Farmer backs ground decision". BBC Sport. ngày 29 tháng 10 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2011.
- ↑ McLauchlin, Brian (ngày 29 tháng 12 năm 2014). "Hibernian: Club move a step closer to fan ownership". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2014.
- ↑ "Final season in Championship results in £300k loss for Hibs". Edinburgh Evening News. ngày 20 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017.
- ↑ "Hibernian: Ronald Gordon takes ownership from Sir Tom Farmer". BBC Sport. ngày 2 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "Ron Gordon: Hibernian owner dies aged 68 after cancer diagnosis". BBC Sport. ngày 21 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2023.
- ↑ McLauchlin, Brian (ngày 4 tháng 5 năm 2023). "Gordon moves from Hibs head of recruitment to executive role". BBC Sport. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2023.
- 1 2 3 McLauchlin, Brian (ngày 27 tháng 2 năm 2024). "Bill Foley: Hibernian shareholders vote through American's £6m investment in club". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2024.
- ↑ McLauchlin, Brian (ngày 12 tháng 11 năm 2025). "Hibernian: Foley sells 25% stake back to Gordon family". BBC Sport. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 "Men's First Team". Hibernian FC. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020.
- ↑ "2023/24 Retained List Confirmed!". Hibernian FC. ngày 10 tháng 6 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Lee Johnson Confirms Hibs Captain". www.hibernianfc.co.uk. ngày 28 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2022.
- ↑ "Hibernian: UEFA Europa Conference League 2023/24". UEFA. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Hibernian LFC". Scottish Women's Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2011.
- ↑ "History". Hibs Ladies FC. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ "Women's Scottish Cup glory for Hibernian". BBC Sport. ngày 14 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011.
- ↑ MacKenzie, Roddy (ngày 15 tháng 11 năm 2010). "Hibernian women again show the men way to Scottish Cup success". The Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011.
- ↑ Southwick, Andrew (ngày 26 tháng 11 năm 2017). "Hibs hammer Glasgow City to 3–0 win Scottish Cup final". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2017.
- ↑ Southwick, Andrew (ngày 4 tháng 11 năm 2018). "Scottish Women's Cup final: Hibs 8–0 Motherwell". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
- ↑ "JOELLE MURRAY FIRST TO AGREE PART-TIME PRO CONTRACT WITH HIBERNIAN WOMEN". Hibernian FC. ngày 21 tháng 2 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Hibernian take women's side under club ownership". BBC Sport. ngày 7 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2022.
- ↑ "Montgomery Named As Hibs Head Coach". Hibernian FC. ngày 11 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2023.
- ↑ "THE HIBERNIAN FOOTBALL CLUB LIMITED". Companies House. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Hibernian FC announce board changes". hibernianfc.co.uk. ngày 23 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Malky Mackay Appointed Sporting Director". Hibernian FC. ngày 14 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Garvan Stewart appointed as Head of Recruitment". Hibernian FC. ngày 3 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "David Marshall retires & joins Hibs football department". Hibernian FC. ngày 10 tháng 6 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Gareth Evans named Academy director". Hibernian FC. ngày 25 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Guillaume Beuzelin makes Hibs return as Steve Kean outlines academy changes at Easter Road club". Football Scotland. ngày 8 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Hibs: James McDonaugh leaves Edinburgh City to return to Easter Road". Edinburgh Evening News. ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "New Dev Squad Role For Darren McGregor". Hibernian FC. ngày 23 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Hibs defender Darren McGregor roots out secret ingredient powering first team comeback". Edinburgh Live. ngày 12 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Matthew Fenwick". Hibernian FC. ngày 26 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Hibernian FC staff update". Hibernian FC. ngày 9 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Matthew Fenwick". Hibernian FC. ngày 26 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "The Boot Room: The Kit-Man Shaped Cog". Hibernian FC. ngày 14 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Tonight's Staff Member of the Year award, sponsored by MB Media, goes to the club's Lead Physiotherapist Alix Ronaldson!". Twitter, Inc. ngày 15 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Hibernian". www.londonhearts.com. London Hearts Supporters' Club. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Scotland Players By Club Sorted by Most Players". www.londonhearts.com. London Hearts Supporters' Club. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2023.
- 1 2 3 4 Leslie, Colin (ngày 31 tháng 5 năm 2008). "Memorabilia mixes with poignant tales in new Easter Road exhibit". The Scotsman. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 Leslie, Colin (ngày 24 tháng 7 năm 2010). "Hibs unveil Hall of Fame plan for 135th birthday, while Maribor await in Europe". The Scotsman. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2010.
- ↑ Forbes, Craig (ngày 9 tháng 8 năm 2010). "Famous Five among first to enter Easter Road hall of fame". The Scotsman. Johnston Press. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Mackay 1986, tr. 98
- ↑ "99 years and counting ..." BBC Sport. ngày 23 tháng 5 năm 2001. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010.
- ↑ Mackay 1986, tr. 156
- ↑ "Alan Stubbs: Rotherham United appoint Hibernian boss as their new manager". BBC Sport. ngày 1 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016.
- ↑ Another Glorious Victory, The Scottish Referee, 2 June 1902, scan via London Hearts Supporters Club
- ↑ Dunedin Cup, Scottish Football Historical Archive, 18 June 2020
- 1 2 "Alltime Player Records". FitbaStats. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.
- 1 2 "Filtered Player Records". www.fitbastats.com. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ Wilson, Fraser (ngày 4 tháng 2 năm 2023). "Lewis Stevenson set to break Hibs record as Easter Road mate Paul Hanlon admits stalwart's 'annoying' trait". Daily Record. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2023.
- ↑ Petrie, Andrew (ngày 4 tháng 2 năm 2023). "St Mirren 0-1 Hibernian: Youan strike ends Paisley side's home record". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2023.
- ↑ Mackay 1986, tr. 266
- ↑ Jeffrey 2005, tr. 179
- 1 2 Mackay 1986, tr. 261
- ↑ "Hibs break transfer record for Togo striker Klidje". BBC Sport. ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2025.
- ↑ McCafferty, Josh (ngày 13 tháng 7 năm 2025). "Hibs break transfer record to sign international forward". The Herald. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Burns, Scott (ngày 30 tháng 1 năm 2026). "Kieron Bowie Hibs club record transfer fee and contract length revealed as striker set for mega Verona move". Daily Record. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- Nguồn
- Crampsey, Bob (1990). The First 100 Years. Scottish Football League. ISBN 978-0-9516433-0-3.
- Jeffrey, Jim (2005). The Men Who Made Hibernian F.C. since 1946. Tempus Publishing Ltd. ISBN 978-0-7524-3091-1.
- Lugton, Alan (1999). The Making of Hibernian 1. John Donald Publishers Ltd. ISBN 978-0-85976-509-1.
- Mackay, John (1986). The Hibees. John Donald Publishers Ltd. ISBN 978-0-85976-144-4.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Website chính thức
- Hibernian trên BBC Sport: Tin tức câu lạc bộ – Kết quả gần đây – Lịch thi đấu sắp tới (bằng tiếng Anh)
- Hibernian F.C.
- Câu lạc bộ bóng đá Scotland
- Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1875
- Câu lạc bộ bóng đá Edinburgh
- Leith
- Đội bóng Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland
- Khởi đầu năm 1875 ở Scotland
- Đội bóng Scottish Football League
- Vô địch Cúp bóng đá Scotland
- Đội bóng East of Scotland Football League
- Irish diaspora sports clubs in Scotland
- Đội bóng Scottish Professional Football League
- Vô địch Cúp Liên đoàn bóng đá Scotland
- Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Scotland
- Câu lạc bộ bóng đá của cộng đồng di dân