Hoàng Kim (thiếu tướng)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hoàng Kim (sinh 1927) là một sĩ quan cấp cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng, nguyên Chính ủy Sư đoàn 308, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu Thủ đô, Chủ nhiệm Chính trị-Bí thư Đảng ủy kiêm Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 4[1][2]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông quê tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

Người anh trai của ông là ông Hoàng Mai, hoạt động cách mạng cùng thời với ông Võ Chí Công trong nhóm Xuân-Hạ-Thu-Đông (Xuân là bí danh của ông Võ Chí Công, Hạ - là bí danh của ông Hoàng Mai, Thu - bí danh của ông Mã Sắc Kim, Đông - bí danh của ông Trương Kiểu). Ông Hoàng Mai không chỉ hoạt động cách mạng tại địa phương (trong Ban khởi nghĩa chống Pháp huyện Duy Xuyên) mà còn được cấp trên điều động vào chiến trường Nam Trung Bộ, hoạt động ở tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, trong một cuộc họp, ông Mai bị bắt, sau đó bị địch xử bắn ở Đơn Dương, Lâm Đồng. Ba người chị của ông cũng tham gia hoạt động cách mạng. Người chị thứ hai và thứ ba sớm qua đời. Người chị thứ năm hoạt động đến năm 1954 rồi ở lại miền Nam. 

Ông tham gia cách mạng rất sớm, từ thời còn học lớp nhì (lớp 4 bây giờ) trường làng của ông Hồ Nghinh.

Nhỏ tuổi nhưng ông rành chữ Hán, giúp ông Hoàng Mai sao chép bằng tay tài liệu để tuyên truyền, kể cả viết lại thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào.

Học xong bậc tiểu học, Hoàng Kim trở lại Hội An học một năm

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1942, ông ra Đà Nẵng học năm thứ hai ở trường Chấn Thanh. Thời gian này ông được cán bộ cách mạng địa phương bí mật giao nhiệm vụ và được ông Võ Chí Công giới thiệu tiếp xúc với ông Lê Đào, một cán bộ cấp cao ở Đà Nẵng. Ông còn bắt liên lạc với ông Nguyễn Sỹ Huynh hoạt động cách mạng trong phong trào đấu tranh sinh viên - học sinh của trường Chấn Thanh. Sau này, ông mới biết đó là Chi bộ Chấn Thanh. 

Giữa năm 1943, phong trào bị bể. Nhiều cán bộ phong trào bị bắt. Ông tạm lui về quê để tránh sự lùng bắt của Pháp nhưng địch vẫn lần ra dấu vết. Ông bị bắt, bị giam ở Hòa Vang ba tháng. 

Chính quyền nhà Nguyễn quyết định trả tự do vì xét ông còn vị thành niên, nhưng chính quyền thực dân Pháp không chấp thuận, ông bị đưa ra tòa án binh xử về tội chống lại nhà nước Pháp. Mồng 4 Tết năm 1944, ông bị Pháp bắt trở lại, rồi đưa ra nhà lao Hỏa Lò - Hà Nội. Tại đây, ông gặp các nhà Cách mạng tên tuổi như các ông Hoàng Văn Thụ, Ninh Thọ Chân… 

Cuối năm 1944, ông được trả tự do, lại tiếp tục hoạt động.

Ngày 17-8-1945, với vai trò là chính trị viên của đơn vị tự vệ, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà. Ít lâu sau, ông được điều lên huyện làm cán bộ tuyên truyền lưu động.

Ngày 28-9-1945, ông được điều vào bộ đội tham gia hoạt động ở Ban tuyên truyền chi đội Quảng Nam, thuộc trường Quân chính Quảng Nam

Ngày 15-12-1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản do các ông Võ Chí Công và Huỳnh Đức Phương giới thiệu.

Năm 1946, cùng với đơn vị là Trung đoàn 96, ông vừa làm chính trị viên vừa đảm nhận nhiệm vụ tiếp phòng quân, tiếp quản Đà Nẵng và được cử đi học. 

Năm 1954, ông là Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 954. Sau này, Trung đoàn 954 ra Bắc sáp nhập vào Trung đoàn 66, ông về làm Chủ nhiệm chính trị kiêm Phó Bí thư Lữ đoàn Pháo binh 378.

Năm 1962-1964, cấp trên cử ông qua Trung Quốc học Lý luận chính trị. 

Năm 1965, về nước ông nhận lệnh vào Liên khu 4 đảm nhận chức vụ Phó Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 341 đóng quân ở Nghệ An.

Sau đó được chuyển qua làm Phó Chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Phòng không, Quân khu IV, rồi làm Chính ủy Trung đoàn Cao xạ 282.

Tiếp đó ông nhận chức Chính ủy Trung đoàn Tên lửa 238 ở Quảng Bình và Vĩnh Linh (Quảng Trị). 

Đầu năm 1969, ông được cử đi học chính trị ở Học viện Chính trị của Bộ Quốc phòng. Học xong được điều về làm Phó Chủ nhiệm chính trị, rồi Chủ nhiệm chính trị, Phó Chính ủy, rồi Chính ủy Sư đoàn 308 của Bộ Quốc phòng. 

Năm 1978, ông được điều về Tổng cục Chính trị làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn

Năm 1979, ông được phân công là Phó Tư lệnh về chính trị Quân khu Thủ đô.

Năm 1983, ông được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Tư lệnh về Chính trị Quân đoàn 4

Năm 1988, ông thôi giữ chức vụ được nghỉ chờ hưu.

Tháng 7 năm 1990, ông nghỉ hưu

Thiếu tướng (1979)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]