Bước tới nội dung

Hoàng Tích Chỉ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàng Tích Chỉ
Sinh(1932-09-01)1 tháng 9, 1932
Bắc Giang
Mất20 tháng 3, 2022(2022-03-20) (89 tuổi)
Hà Nội
Quốc tịchViệt Nam
Tên khácTrần Quang Hải
Dân tộcKinh
Trường lớpTrường Điện ảnh Việt Nam
Nghề nghiệp
Năm hoạt động19632005
Tác phẩm nổi bậtDanh sách phim
Đảng phái chính trịĐảng Cộng sản Việt Nam
Con cáiHoàng Tích Thiện
Cha mẹ
  • Hoàng Tích Phụng (cha)
  • Nguyễn Thị Huyền (mẹ)
Người thân
Giải thưởngGiải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - nghệ thuật
Chức vụ
Nhiệm kỳ1989  1996
Tiền nhiệmNgười đầu tiên
Kế nhiệmTất Bình

Hoàng Tích Chỉ (1 tháng 9 năm 1932 – 20 tháng 3 năm 2022)[a] là một nhà văn, nhà biên kịch phim người Việt Nam.[2] Nhập ngũ từ năm 14 tuổi, từ một thiếu niên trinh sát, ông đã trở thành Trưởng phòng Văn nghệ thuộc Ty Văn hóa Bắc Giang sau 10 năm hoạt động trong quân ngũ. Khi Trường Điện ảnh Việt Nam bắt đầu tuyển sinh những khóa đầu tiên, ông đã quyết tâm tham gia và trở thành học viên của lớp biên kịch đầu tiên của trường. Chuyến đi thực tế cuối khóa được trường tổ chức cho lớp biên kịch đến vùng chiến ác liệt tại Vĩnh Linh đã trở thành niềm cảm hứng cho Hoàng Tích Chỉ viết nên kịch bản của hai bộ phim nổi tiếng về vĩ tuyến 17.

Là một trong những nhà biên kịch đầu tiên của điện ảnh Cách mạng Việt Nam, ông đã để lại cho khán giả kịch bản của hàng loạt bộ phim nổi tiếng như Trên vĩ tuyến 17, Biển gọi, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Em bé Hà Nội, Thành phố lúc rạng đông, Mối tình đầu. Những tác phẩm này không chỉ để lại dấu ấn với khán giả trong nước mà còn tạo ra nhiều tiếng vang tại quốc tế khi tham gia các liên hoan phim và giành được nhiều giải thưởng lớn. Đây cũng là những tác phẩm đã giúp ông trở thành nhà biên kịch đầu tiên nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

Không chỉ thành công với vai trò nhà biên kịch, Hoàng Tích Chỉ cũng để lại dấu ấn đặc biệt trong vai trò đạo diễn với các bộ phim nổi tiếng như Người đàn bà bị săn đuổi, Người Hà Nội, Lục Vân Tiên. Đặc biệt, ông là giám đốc đầu tiên của Hãng Phim truyện I và cũng là một trong những người đã đặt nền móng xây dựng và phát triển hãng phim trong thời gian đầu thành lập.

Tuổi thơ và giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Tích Chỉ còn có bí danh là Trần Quang Hải,[3] sinh ngày 1 tháng 9 năm 1932 tại xã Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Bố Hạ, tỉnh Bắc Ninh). Mặc dù sinh ra tại Bắc Giang nhưng quê gốc của ông là thôn Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là thuộc phường Từ Sơn).[4] Ông sinh ra trong một gia đình quan lại có truyền thống khoa bảng, có cha là Tri phủ Huấn học Hoàng Tích Phụng, từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.[5] Hoàng Tích Chỉ là con út trong gia đình nhưng mẹ ông là bà Nguyễn Thị Huyền chỉ là vợ ba, cũng là vợ lẽ. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, đến năm bảy tuổi mới được cha đưa về Phù Lưu,[6] nhưng chỉ một năm sau thì cha cũng qua đời.[7]

Cách mạng Tháng Tám nổ ra, nhờ một người hàng xóm giới thiệu, Hoàng Tích Chỉ đã trở thành liên lạc trinh sát tại Ty Liêm phóng (tương đương Sở Công an) Bắc Giang. Năm 1947, Hoàng Tích Chỉ lúc bấy giờ có biệt danh là Hải "ớt" đã được giao nhiệm vụ lẻn vào đồn quân địch để thu thập tin tức tình báo. Trong trận đánh đồn sau đó, các thành viên trong đội biệt động bị truy đuổi, Hải "ớt" nhờ có cha con một người lái đò mà trốn thoát. Năm 15 tuổi, truyện ngắn đầu tay của ông là "Người hàng binh Nhật" đã được in trên tờ báo Tiến lên của ngành Công an thời bấy giờ.[8] Đến năm 16 tuổi, ông đã trở thành Đội trưởng Đội Điệp báo.[9]

Năm 1956, ông chuyển sang làm công tác nghệ thuật và đảm nhiệm Trưởng phòng Văn nghệ thuộc Ty Văn hóa Bắc Giang.[5] Sau một thời gian hoạt động, Hoàng Tích Chỉ được địa phương cử đi học tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Đến khoảng đầu những năm 1960, khi nghe tin Trường Điện ảnh tuyển sinh những khóa đầu tiên, dựa trên lời gợi ý của nhà văn Mai Ngữ, Hoàng Tích Chỉ đã viết đề cương một vở chèo và gửi đến trường. Năm 1961, ông chính thức trở thành học viên lớp biên kịch đầu tiên của Trường Điện ảnh Việt Nam cùng với nhiều nhà biên kịch nổi tiếng về sau như Hứa Văn Định, Vũ Lê Mai, Cao Duy Thảo.[10]

Sự nghiệp điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Khi gần kết thúc khóa đào tạo biên kịch, để chuẩn bị cho việc viết kịch bản tốt nghiệp, nhà trường đã tổ chức một chuyến đi thực tế đến đặc khu Vĩnh Linh cho sinh viên lớp biên kịch khóa 1. Tại đây, Hoàng Tích Chỉ và Văn Thảo Nguyên được theo lực lượng công an vũ trang đến vùng chiến sự ác liệt nhất, khu vực Cửa Tùng gần vĩ tuyến 17. Có thể nói đây là mở đầu cho sự nghiệp sáng tác của Hoàng Tích Chỉ, cũng là nơi đánh dấu một đỉnh cao trong sự nghiệp của ông với hai kịch bản phim Trên vĩ tuyến 17Vĩ tuyến 17 ngày và đêm.[11]

Những kịch bản đầu tay

[sửa | sửa mã nguồn]

Kịch bản Trên vĩ tuyến 17 được viết sau những ngày thâm nhập thực tế cuộc sống của lực lượng công an vũ trang vùng giới tuyến, hay theo lời của chính Hoàng Tích Chỉ là "chép lại thực tế" sau những cuộc trò chuyện với cảnh sát hai bờ Nam Bắc của sông Bến Hải. Năm 1963, kịch bản được hoàn thành chỉ trong 1 tuần.[11] Sau khi kịch bản hoàn thành, một chương trình kiểm duyệt trang nghiêm đã diễn ra với sự tham gia của 10 đồn giới tuyến thuộc Bộ Tư lệnh Biên phòng. Buổi kiểm duyệt kết thúc, kịch bản được thông qua, Bộ tư lệnh Vĩnh Linh đóng dấu mộc đỏ xác nhận. Theo chia sẻ của Hoàng Tích Chỉ, đây là lần duyệt kịch bản thiêng liêng nhất trong đời ông.[12][1]

Năm 1964, được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Biên phòng, Trên vĩ tuyến 17 đã được đưa vào sản xuất. Đây là tác phẩm đầu tay của một nhóm các sinh viên khóa đầu tiên của trường Điện ảnh bao gồm biên kịch Hoàng Tích Chỉ, hai đạo diễn Lý Thái Bảo và Nguyễn Nhất Hiên, cùng nhà quay phim Lưu Xuân Thư. Tác phẩm sau đó đã trở thành tác phẩm tốt nghiệp của cả Lý Thái Bảo và Lưu Xuân cho mỗi chuyên ngành của họ.[13] Đây là một trong những bộ phim truyện Việt Nam đầu tiên về đề tài chống Mỹ, với sự góp mặt của các diễn viên mà sau này được phong danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú như Trần Phương, Phi Nga, Huy Công, Lâm Tới.[14] Hoàng Tích Chỉ đã nhận định về bộ phim đầu tay của mình:

Trên vĩ tuyến 17 rất thời sự với những cảnh quay thật, những người cảnh sát vào vai phụ đóng chính cuộc đời của mình, một số đồng chí sau khi đóng phim đã hy sinh. Một số cảnh quay có thể được coi là những thước phim tư liệu quý về các chiến sĩ cảnh sát tuyến 17; nhiều đoạn đối thoại được đặt trong hoàn cảnh thật. Ngày ấy, tôi từng nghe nhiều chiến sĩ kể lại rằng họ thuộc lòng lời thoại trong phim bởi đã xem nhiều lần. Tôi được biết trước khi ra chiến trường, các chiến sĩ trẻ thường được xem bộ phim này để hâm nóng bầu nhiệt huyết"

Hoàng Tích Chỉ, [15]

Sau khi tốt nghiệp Trường Điện ảnh vào năm 1963, ông về nhận công tác tại Hãng phim truyện Việt Nam. Một năm sau, ông trở thành Trưởng phòng Biên tập của hãng,[5] và sau đó là Xưởng trưởng Xưởng Phim truyện I.[16] Năm 1965, khi Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam, chiến ngày càng ác liệt, đội ngũ văn nghệ sĩ cũng lên đường vào mặt trận. Hoàng Tích Chỉ đã có một chuyến đi thực tế đến một làng chài ven biển thuộc xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tại đây, kịch bản phim Biển gọi ra đời, phản ánh chân thực cuộc sống và chiến đấu của những người ngư dân tại làng chài này. Kịch bản sau đó đã được Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh Quảng Bình duyệt và đưa vào làm phim.[17] Năm 1967, bộ phim chính thức được đưa vào sản xuất với sự hợp tác của hai đạo diễn Nguyễn Tiến LợiNguyễn Ngọc Trung. Đây là một bộ phim 7 cuốn miêu tả lại hình ảnh cuộc sống sinh hoạt của người dân vùng biển, vừa tham gia sản xuất, vừa phải đánh trả máy bay Mỹ, vừa tham gia phục vụ chiến đấu.[18] Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 1 năm 1970, cả hai bộ phim Trên vĩ tuyến 17Biển gọi đều giành được Bông sen bạc.[19][20]

Những dấu ấn quốc tế đầu tiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Vĩ tuyến 17 ngày và đêm

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn thành kịch bản Biển gọi, Hoàng Tích Chỉ cùng đạo diễn Hải Ninh quay lại khu vực Cửa Tùng. Trong chuyến đi này, ông đã được chiến sĩ công an được giao nhiệm vụ dẫn đường giới thiệu cho một nữ bí thư chi bộ ở bờ Nam sang bờ Bắc công tác. Câu chuyện của nữ chiến sĩ đang hoạt động ở chiến trường đã gây ấn tượng mạnh với hai người nghệ sĩ. Sau chuyến đi, Hoàng Tích Chỉ đã bắt tay vào viết kịch bản Bão tuyến.[21] Để hoàn thành kịch bản này, Hoàng Tích Chỉ và Hải Ninh đã nhiều lần đạp xe từ Hà Nội vào Quảng Trị để tiếp xúc với những nhân vật có thật, để tái hiện chân thật nhất cuộc chiến.[12] Hai nghệ sĩ đã mất 5 năm để hoàn thành kịch bản này và thêm 2 năm để dựng bộ phim.[22] Năm 1971, khi bắt tay vào thực hiện bộ phim, đạo diễn Hải Ninh đã đổi tên thành Vĩ tuyến 17 ngày và đêm.[23] Đến cuối năm 1972, khi việc làm phim gần đến giai đoạn gấp rút để hoàn thành thì quân đội Mỹ tiến hành ném nom tại Hà Nội trong Chiến dịch Linebacker II khiến cả hãng phim buộc phải sơ tán đến nơi an toàn, chỉ có đoàn làm phim vẫn ở lại.[22]

Trong những bộ phim về đề tài chống Mỹ của điện ảnh Việt Nam, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm được đánh giá là bộ phim có quy mô lớn nhất, là bộ phim hai tập đầu tiên của phim truyện Việt Nam.[24] Các sự kiện của phim diễn ra trong khoảng thời gian dài từ những ngày đầu hòa bình lập lại ở miền Bắc vào năm 1954 cho đến khi chiến tranh cục bộ của Mỹ thất bại ở miền Nam Việt Nam.[25] Sau khi ra mắt vào năm 1972, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm không chỉ tạo tiếng vang trong nước mà còn trở thành chủ đề thảo luận của khán giả và báo chí quốc tế khi xuất hiện tại Liên hoan phim quốc tế Moskva. Cũng tại liên hoan phim này, bộ phim đã giành được Giải thưởng của Hội đồng Hòa bình Thế giới cũng như giải thưởng nữ diễn viên xuất sắc nhất cho diễn viên Trà Giang.[26][27] Bộ phim đồ sộ này được đánh giá là có "một vị trí đặc biệt trong những bộ phim về đề tài chống Mỹ" của điện ảnh Cách mạng Việt Nam. Bằng việc xây dụng một cốt truyện với nhiều tính cách đa dạng, điển hình với những xung đột tạo nên những tình huống có tính chất quyết định, kịch bản văn học của Hoàng Tích Chỉ đã góp phần hình thành nên nền tảng câu chuyện phim, giúp đạo diễn Hải Ninh tạo nên một tác phẩm điện ảnh hoành tráng.[28]

Bộ phim này đã đánh dấu sự thành công đầu tiên của cặp biên kịch – đạo diễn Hoàng Tích Chỉ và Hải Ninh. Cũng từ đây mà họ đã hợp tác và trở thành một trong số ít những "cặp tác giả" tạo nên thành công đáng kể của nền điện ảnh Việt Nam.[29] Lý giải cho sự hợp tác chặt chẽ và ăn ý này, Hoàng Tích Chỉ từng nói: "Có lẽ bởi cả hai cùng chịu thương chịu khó, lăn lộn trong cuộc sống với cùng một mong ước sáng tạo, cách sống giống nhau, quan niệm về nghề giống nhau, tính cách bổ sung cho nhau".[30] Về sau, 4 bộ phim do Hoàng Tích Chỉ và Hải Ninh hợp tác sản xuất bao gồm Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Em bé Hà Nội, Mối tình đầuThành phố lúc rạng đông đều góp phần giúp cả hai nghệ sĩ được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

Em bé Hà Nội

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những ngày ở lại Hà Nội để hoàn thành phần hậu kỳ cho bộ phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm giữa bối cảnh B52 bắn phá ác liệt, ba người nghệ sĩ bao gồm Hoàng Tích Chỉ, Hải Ninh và Vương Đan Hoàn đã cùng bàn bạc thực hiện một bộ phim về 12 ngày đêm khói lửa. Từ một bài báo mà đạo diễn Hải Ninh vô trình đọc được về mẹ con một cô công nhân, và câu chuyện về cô con gái nhỏ của diễn viên Tuệ Minh xách đàn từ nơi sơ tán về tìm mẹ mà Hoàng Tích Chỉ được kể lại, các tác giả đã lên ý tưởng cho câu chuyện phim và hoàn thành xong kịch bản phim chỉ trong 3 ngày.[30][31] Phần kịch bản phim do Hoàng Tích Chỉ, đạo diễn Hải Ninh và Vương Đan Hoàn chấp bút,[32][33] trong khi chiến tranh vẫn đang tiếp diễn.[34] Ba nghệ sĩ đã mất ba đêm trắng ở nơi sơ tán để hoàn thành kịch bản phim,[35] trong đó Hải Ninh kể hết lại những gì mình thấy ở Hà Nội và sau đó Hoàng Tích Chỉ đưa vào kịch bản.[36] Theo Hoàng Tích Chỉ, hoàn cảnh sáng tác kịch bản này là có một không hai trong cuộc đời sáng tác của ông.[37] Phim ban đầu có tên là Em bé An Dương, nhưng sau đó được chuyển thành Em bé Khâm Thiên; vì cho rằng cái tên này vẫn chưa đủ tính tiêu biểu, kịch bản được đổi tên lần thứ ba thành Em bé Hà Nội.[38]

Tháng 6 năm 1973, chỉ nửa năm sau khi chiến dịch Linebacker II kết thúc, bộ phim được đưa vào ghi hình và hoàn thành chỉ trong 2 tháng.[39] Phim được ghi hình dưới dạng phim đen trắng theo phong cách phim tài liệu, kết hợp cảnh tư liệu và cảnh cận tả sự tàn phá của chiến tranh đối với thành phố.[40] Em bé Hà Nội chọn bối cảnh ngay tại những địa điểm cũ từng bị đánh bom, lúc này còn hoang tàn và chưa được khôi phục, trong đó có cả cảnh thực hiện ở phố Khâm Thiên và trên các hố bom thật chưa bị lấp đi sau chiến dịch.[41] Sau khi công chiếu lần đầu tại các rạp quốc doanh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1974,[42] bộ phim sau đó đã xuất hiện tại các liên hoan phim bao gồm Liên hoan phim Việt NamLiên hoan phim quốc tế Moskva.[31] Các buổi chiếu phim và hội thảo cũng tổ chức tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Ý,... và có nhiều khán giả nước ngoài đã tham dự buổi chiếu phim ở Hà Nội.[43] Năm 1989, tức hơn 10 năm sau khi bộ phim ra đời và lúc này quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam vẫn chưa thiết lập lại, đạo diễn Hải Ninh đã dẫn đầu đoàn điện ảnh Việt Nam đem phim đi chiếu tại bảy bang của Hoa Kỳ.[44]

Sau khi ra mắt, bộ phim đã trở thành một "bom tấn" và được nhiều người xem yêu mến.[45][46] Không chỉ gây tiếng vang trong nước, Em bé Hà Nội còn nhận sự phản hồi tích cực từ khán giả xem phim quốc tế.[47] Bộ phim sau đó cũng đã giành được nhiều giải thưởng cả trong nước và quốc tế. Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 3 năm 1975, bộ phim cùng với tác phẩm điện ảnh Đến hẹn lại lên đã được trao giải Bông Sen vàng.[48][49] Trong sự kiện Liên hoan phim quốc tế Moskva lần thứ 9 tổ chức cùng năm, phim cũng nhận về bằng khen từ ban giám khảo.[50][51] Năm 1979, bộ phim có được giải thưởng của Mặt trận giải phóng Palestine tại Liên hoan phim Quốc tế Damascus lần đầu tiên.[42] Đến nay, Em bé Hà Nội vẫn được đánh giá là tác phẩm tái hiện thành công nhất, xúc động nhất về hình ảnh thủ đô Hà Nội sau chiến dịch Linebacker II.[52] Bộ phim đã trở thành một trong những bộ phim "kinh điển" của điện ảnh Việt Nam.[46][53]

Tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh bùng nổ, đạo diễn Nguyễn Tiến Lợi khi ấy là Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật, Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật của Xưởng Phim truyện Việt Nam đã trực tiếp chỉ đạo 4 đoàn làm phim gồm các nhà làm phim hàng đầu của Xưởng phim tham gia chiến dịch.[54][55] 4 đoàn làm phim này đã lần lượt cho ra đời nhiều bộ phim tài liệu chất lượng và giành được các giải thưởng lớn, trong đó có Thành phố lúc rạng đông của cặp tác giả Hải Ninh – Hoàng Tích Chỉ cùng nhà quay phim Khánh Dư.[56][57] Là một trong những nhóm đầu tiên vào tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất, Tổng nha cảnh sát, Dinh Độc Lập, các nghệ sĩ đã ghi lại được những thước phim quý về Sài Gòn vào những ngày cuối của chiến dịch. Bộ phim không mô tả chiến dịch hay trận đánh cụ thể mà tập trung vào việc phản ánh sự đối lập hai mảng màu sáng – tối của một thành phố Sài Gòn rực rỡ cờ, hoa của những con người mới làm chủ đất nước, đối lập với những tàn tích của chế độ cũ.[58] Ban đầu, vì chưa có kinh nghiệm trong mảng phim tài liệu thời sự nên Hoàng Tích Chỉ không được đạo diễn Hải Ninh phân công cho công việc viết lời bình. Tuy nhiên, sau khi liên hệ với hai nhà văn là Nguyễn Đình ThiNguyễn Văn Bổng đều bị từ chối vì nhiều lý do, Hoàng Tích Chỉ trở thành người đảm nhiệm vai trò này.[59]

Thành phố lúc rạng đông với những hình ảnh và sự kiện đầy tính thời sự đã tạo nên tiếng vang không chỉ với khán giả trong nước mà còn với khác giả quốc tế. Bộ phim sau đó đã giành được giải Bồ câu vàng tại Liên hoan phim Leipzig (en) diễn ra tại Cộng hòa Dân chủ Đức.[60] Đây là bộ phim thứ hai giành được điểm tuyệt đối của ban giám khảo trong suốt lịch sử 16 năm của liên hoan phim quốc tế này.[9] Khi công chiếu tại liên hoan phim, bộ phim đã khiến khán giả quốc tế bất ngờ với phân cảnh người sĩ quan chế độ cũ sau khi đến trình diện với lực lượng cách mạng đã được trả tự do để về với gia đình thay vì những "cuộc hành quyết". Khán giả còn tỏ ra ngạc nhiên khi việc giữ gìn trật tự thành phố lại được chính quyền mới giao cho chính những thanh niên Sài Gòn thay cho cả bộ máy cảnh sát khổng lồ của chính quyền Sài Gòn. Một đại biểu người phương Tây đã cảm thán rằng: "Đây là một cuộc giải phóng thực sự, theo nghĩa chân chính nhất".[61] Đến năm 1979, bộ phim tiếp tục nhận được Bông sen vàng dành cho phim tài liệu tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 4, đồng thời giúp nhà quay phim Khánh Dư nhận được giải quay phim xuất sắc.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Việt Nam tái lập hòa bình, nhiều vấn đề của xã hội miền Nam thời chế độ cũ trở thành đối tượng khám phá của phim truyện. Các nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam một mặt muốn sử dụng hình tượng điện ảnh để lý giải tình hình miền Nam dưới chế độ thực dân mới, tìm nguyên nhân của những vấn đề xã hội khiến nhân dân phải đứng lên đấu tranh, một mặt khác cũng tìm lời giải thích cho những vấn đề là di chứng của xã hội cũ để lại, nhằm cho người xem thấy những khó khăn của công cuộc xây dựng cuộc sống mới sau cuộc chiến tranh trường kỳ. Bộ phim đầu tiên đề cập đến những vấn đề này chính là phim Mối tình đầu của biên kịch Hoàng Tích Chỉ, đạo diễn Hải Ninh, quay phim Nguyễn Quang Tuấn, họa sĩ Đào Đức và nhạc sĩ Hoàng Vân. Câu chuyện phim diễn ra trong vòng vài năm nhưng kết thúc ngay khi quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa rút khỏi Sài Gòn.[62] Trên đường theo đoàn quân tiến về Sài Gòn khi ấy, Hoàng Tích Chỉ và Hải Ninh cũng tiến hành thu thập tư liệu cho kịch bản phim. Từ mối tình đầu tan vỡ của một cặp đôi Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa, kịch bản phim được lồng trong những mối quan hệ gia đình, hoạt động chống Mỹ của các tổ chức biệt động thành phố và sinh viên Sài Gòn. Câu chuyện của bộ phim không chỉ bó hẹp trong một mối tình mà còn mở rộng ra những vấn đề xã hội phức tạp của Sài Gòn lúc bấy giờ.[63]

Vào thời điểm ra mắt, bộ phim đã tạo nên một cơn sốt phòng vé và thu hút rất nhiều ý kiến tranh luận đa chiều từ khán giả.[61] Riêng Tạp chí Điện ảnh số 3 và 4 năm 1978 đã đăng liền 6 bài viết tập trung những ý kiến đánh giá tiêu biểu về bộ phim này. Cùng trong khuynh hướng đổi mới cách làm phim lúc bấy giờ, Mối tình đầu không chỉ có đề tài mới mà còn đổi mới về cách xử lý chủ đề tư tưởng phim.[62] Về mặt chuyên môn, bộ phim không chỉ được đánh giá cao tại Việt Nam với giải Bông sen vàng và hàng loạt giải thưởng cá nhân khác tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 5 mà còn nhận được nhiều giải thưởng tại các kỳ liên hoan phim quốc tế. Năm 1978, tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary, Mối tình đầu đã nhận được giải thưởng của Tổ chức Điện ảnh Quốc tế truyền bá các tác phẩm văn học bằng điện ảnh của UNESCO. Đến năm 1981, bộ phim tiếp tục nhận được giải bạc tại Liên hoan phim Tân hiện thực diễn ra tại Ý.[63][64]

Trong thời gian này, Việt Nam bước vào một giai đoạn mới: hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng cuộc sống mới. Hoàng Tích Chỉ cũng nhanh chóng chuyển hướng bám sát những vấn đề của cuộc sống thời bình với các kịch bản thời kỳ hậu chiến như Đứa con người hàng xóm (đạo diễn Hà Văn Trọng) hay Cuộc chia tay mùa hạ (đạo diễn Nguyễn Ngọc Trung) nói về đề tài nóng hổi lúc bấy giờ là khoán 10 trong nông nghiệp. Bên cạnh đó, ông còn bắt tay vào những đề tài khác như trinh sát hình sự với bộ phim Đêm cuối năm của đạo diễn Châu Huế, hay vấn đề an ninh xã hội với bộ phim ba tập Săn bắt cướp của đạo diễn Trần Phương.[65] Theo tư liệu ngành công an, đội SBC (săn bắt cướp) ra đời ở thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 3 năm 1978 trong bối cảnh tình hình tội phạm ở thành phố đặc biệt nghiêm trọng, cứ 40 phút lại xảy ra một vụ cướp. Thành viên Đội SBC là những cảnh sát ưu tú được đào tạo bài bản và có nhiều kỹ năng điêu luyện như lái xe, bắn súng thiện xạ, được quyền chạy xe hết tốc độ vào đường cấm, được bắn hạ tội phạm có vũ khí sau những viên đạn cảnh cáo.[66] Sau khi các đội SBC thành lập được một thời gian ngắn thì những việc họ làm đã trở thành đề tài cho sách báo, tạp chí, rồi phim ảnh, kịch nghệ. Mặc dù không phải bộ phim đầu tiên nhưng ba tập Săn bắt cướp của Trần Phương và Hoàng Tích Chỉ được đánh giá là phim chuyển thể chân thực nhất. Đến những năm gần đây, bộ phim vẫn tiếp tục được phát sóng trên truyền hình Việt Nam.[67]

Tiếp tục với đề tài chiến tranh

[sửa | sửa mã nguồn]

Là những nghệ sĩ luôn nắm bắt và phản ánh kịp thời những vấn đề của lịch sử, Hoàng Tích Chỉ và Hải Ninh luôn có mặt ở những điểm nóng quân sự như vùng Vĩnh Linh thuộc khu vực giới tuyến tại vĩ tuyến 17, Hà Nội trong chiến dịch Linebacker II, Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Đến mùa xuân năm 1979 khi chiến tranh biên giới Việt – Trung nổ ra, cặp đôi biên kịch – đạo diễn này tiếp tục có mặt ở vùng biên giới phía Bắc.[68][69] Hoàng Tích Chỉ đã đến khu vực pháo đài Đồng Đăng và được nghe những câu chuyện về những chiến sĩ đã dũng cảm ra trận bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Câu chuyện này đã trở thành cảm hứng cho kịch bản phim Đất mẹ được đạo diễn bởi nghệ sĩ Hải Ninh. Bộ phim phản ánh trực diện cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của quân dân Việt Nam, tập trung tái hiện 10 ngày đêm chiến đấu bảo vệ pháo đài Nậm Na.[70] Đất mẹ được đánh giá là bộ phim đầu tiên của điện ảnh Cách mạng Việt Nam tái hiện chân thực về cuộc chiến này.[71]

Năm 1985, ông một lần nữa quay về với đề tài chiến tranh với Tọa độ chết – bộ phim hợp tác chính thức đầu tiên giữa hai nền điện ảnh Việt Nam và Liên Xô. Kịch bản "Mắt bão 1972" của Hoàng Tích Chỉ vốn hình thành từ những ngày quân đội Mỹ phong tỏa thủy lôi ở Hải Phòng năm 1972. Sau khi thăm Bảo tàng Giao thông và chứng kiến sự khốc liệt của trận chiến cũng như sự hy sinh của 850 người thủy thủ, Hoàng Tích Chỉ đã quyết tâm viết một tác phẩm về "con đường mòn biển Đông" này. Kịch bản sau đó đã được nhà biên kịch Liên Xô Aleksandr Lapshin cộng tác và đổi tên thành "Ký sự bất diệc". Đây chính là sườn để tạo nên bộ phim Tọa độ chết (tiếng Nga: Координаты смерти).[69][72] Bộ phim do đạo diễn Samvel Vladimirovich Gasparov (en) của Liên Xô cùng đạo diễn Nguyễn Xuân Chân hợp tác thực hiện với sự tham gia của các diễn viên từ cả Việt Nam và Liên Xô.[73][74]

Công tác quản lý và giai đoạn cuối đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1989, Xưởng phim truyện 1 thuộc Hãng Phim truyện Việt Nam dần được tách thành hãng phim độc lập. Hoàng Tích Chỉ lúc bấy giờ đang đảm nhiệm Xưởng trưởng cũng trở thành Giám đốc đầu tiên của Hãng Phim truyện I vừa được thành lập.[75] Đây cũng là giai đoạn điện ảnh Việt Nam bắt đầu vào cơ chế thị trường. Nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, Hoàng Tích Chỉ tiếp tục khẳng định vai trò của mình với vai trò mới: đạo diễn.[76] Trên cương vị mới, ông vẫn phát huy thế mạnh của một nhà biên kịch khi tự viết kịch bản cho bộ phim đầu tiên của mình với 4 tập của Người đàn bà bị săn đuổi.[77] Những bộ phim thời kỳ kinh tế thị trường của ông như Mối tình người câm, Gọi tình yêu quay về, cũng như nhiều bộ phim cùng thời kỳ, đều không tạo được nhiều tiếng vang. Nhưng ông vẫn không nản lòng và tiếp tục sự nghiệp sáng tác của mình. Kịch bản phim Bông hoa rừng Sác ra đời vào năm 1987 cho đến khi được đưa vào sản xuất vào năm 1995, suốt 8 năm ông liên tục di chuyển giữa hai miền Nam Bắc với quyết tâm hoàn thành bộ phim dù sức khỏe đã không còn tốt. Bộ phim đã thành công tái hiện lại câu chuyện những người lính đặc công rừng Sác trong những năm chiến tranh ác liệt.[65] Trong suốt những năm đảm nhiệm vai trò Giám đốc Hãng phim cho đến khi về hưu vào năm 1996, ông đã để lại nhiều dấu ấn đặc biệt đối với hãng phim.[78]

Sau khi về hưu, ông vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tác và tham gia sản xuất phim. Tuy nhiên đến khoảng năm 2005, ông bị một đợt tai biến nặng. Mặc dù sức khỏe bắt đầu giảm sút, ông vẫn tiếp tục với đam mê sáng tác. Giai đoạn này, ông đã hoàn thành đề án cho bộ phim dã sử dài 50 tập mang tên Thượng thư và Đào nương về Nguyễn Công Trứ và kịch bản phim Takano và đóa phù dung về một người hàng binh Nhật.[9][59] Khoảng năm 2020, sức khỏe của ông ngày càng xuống dốc. Ông bị bệnh phổi và phải liên tục ra vào bệnh viện.[79] Ngày 20 tháng 3 năm 2022, Hoàng Tích Chỉ qua đời, thọ 90 tuổi. Tang lễ đã diễn ra tại Nhà tang lễ số 5 của Hà Nội.[80]

Tác phẩm

[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách phim

[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm văn học

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tác phẩm Thể loại Đồng tác giả Ghi chú Nguồn
1961 Con đường thập đạo Truyện ngắn [81]
1964 Chiến sĩ nhân dân Truyện phim [82]
1967 Tập truyện phim: Biển gọi, Én bạc Truyện phim Hữu Mai [b] [83]
1974 Bão tuyến Truyện phim [c]
Em bé Hà Nội Truyện phim Hải Ninh, Vương Đan Hoàn [d] [84]
1978 Tập truyện phim: Đêm bến tre, Mối tình đầu Truyện phim Bành Châu, Bạch Diệp, Hải Ninh
1979 Chị Thiện Truyện vừa Tô Thi
1985 Mắt bão Truyện ký [e] [85]
1992 Bóng ma rừng Sác Tiểu thuyết Võ Khắc Nghiêm [f]
1993 Tướng cướp hoàn lương Tiểu thuyết [g]
Quan họ gọi Kịch bản
Mưa vàng Kịch bản
Mối tình người xa xứ Kịch bản
2005 Takano và đóa phù dung Kịch bản [h] [9]
2009 Thượng thư và Đào nương Kịch bản [i] [59]
2017 Mùa xuân hát ví thương nhau: Xuân mà hát ví điếp căn Âm nhạc [j]

Thành tựu

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Tích Chỉ được xem là biên kịch chuyên nghiệp đầu tiên của điện ảnh cách mạng Việt Nam.[86] Mặc dù ông chưa từng nhận Giải thưởng Biên kịch xuất sắc nhất tại các kỳ Liên hoan phim Việt Nam, nhưng những bộ phim ra đời từ kịch bản của ông đã đem lại những Giải thưởng trong nước và quốc tế.[76] Năm 2012, ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật với kịch bản phim Trên vĩ tuyến 17, Biển gọi, vai trò biên kịch thứ nhất ba bộ phim truyện Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Em bé Hà Nội, Mối tình đầu, và vai trò biên kịch thứ nhất của bộ phim tài liệu Thành phố lúc rạng đông. Ông cũng trở thành nhà biên kịch đầu tiên nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh.[87][88] Năm 2016, ông được vinh danh thành tựu trọn đời tại Giải Cánh diều 2015.[89][90]

Giải thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Lễ trao giải Hạng mục Tác phẩm Kết quả Nguồn
1970 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 1 Phim truyện điện ảnh Trên vĩ tuyến 17 Bông sen bạc [14]
Biển gọi Bông sen bạc [91]
1973 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 Vĩ tuyến 17 ngày và đêm Bông sen bạc [92]
Liên hoan phim quốc tế Moskva lần thứ 8 Giải thưởng Vàng (Golden Prize) Đề cử [93]
Giải thưởng của Hội đồng Hòa bình Thế giới Đoạt giải
Giải của Đoàn Thanh niên Cộng sản Lenin Phim có giá trị giáo dục lớn cho thế hệ trẻ Đoạt giải [24]
1975 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 3 Phim truyện điện ảnh Em bé Hà Nội Bông sen vàng [94][95]
Liên hoan phim quốc tế Moskva lần thứ 9 Bằng khen [51][96]
Liên hoan phim Leipzig (en) (CHDC Đức) Giải thưởng lớn (Grand Prix) Thành phố lúc rạng đông Bồ câu vàng [97][98]
1978 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 4 Phim tài liệu Bông sen vàng [99][100]
Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary Giải UNESCO Mối tình đầu Đoạt giải [101][102]
1979 Liên hoan phim quốc tế Damascus (en) lần thứ 1 Giải thưởng của Mặt trận giải phóng Palestine Em bé Hà Nội Đoạt giải [31][103]
1980 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 5 Phim truyện điện ảnh Mối tình đầu Bông sen bạc [104][62]
1981 Liên hoan phim Tân hiện thực lần thứ 21 (Ý) Chiếc thuyền bạc [101][102]
1983 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6 Phim truyện điện ảnh Đất mẹ Bằng khen [105][106]

Gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Tích Chỉ có bốn người anh trai đều thuộc tầng lớp tri thức. Anh cả của ông là nhà báo Hoàng Tích Chu, Chủ bút báo Đông Tây, thuộc thế hệ trí thức hàng đầu trong việc cách tân báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Người anh thứ hai là họa sĩ Hoàng Tích Chù, một bậc thầy trong lĩnh vực tranh sơn mài và đã từng nhận giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000. Người anh thứ ba của ông là nhà viết kịch Hoàng Tích Linh, một trong những nhà văn dự Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957 và tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 1. Và người anh kế Hoàng Tích Chỉ là bác sĩ ngoại khoa cao cấp Hoàng Tích Tộ.[16]

Vợ Hoàng Tích Chỉ thua ông một tuổi và công tác trong ngành dệt.[107] Hai người có tất cả 4 người con, trong đó người con gái cả là Hoàng Thị Định làm việc tại Hãng phim truyện Việt Nam, người con gái thứ hai là bác sĩ Hoàng Thị Hoa và người con gái thứ ba là họa sĩ Hoàng Hà. Người con trai duy nhất của ông là NSƯT Hoàng Tích Thiện đã đi theo con đường nghệ thuật của cha và trở thành nhà quay phim của Hãng phim truyện Việt Nam.[108]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Một số nguồn chép ông sinh năm 1931.[1]
  2. Truyện phim "Biển gọi" dựng thành phim cùng tên.
  3. Dựng thành phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm
  4. Dựng thành phim cùng tên.
  5. Dựng thành phim Tọa độ chết
  6. Dựng thành phim Bông hoa rừng Sác
  7. Dựng thành phim S.B.C
  8. Về người hàng binh Nhật tên Takano.
  9. Về Thượng thư Nguyễn Công Trứ và người tình.
  10. Song ngữ Tày–Việt

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Từ "Trên vĩ tuyến 17" đến "Thành phố lúc rạng đông"". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 13 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  2. Nguyễn Thị Thu Hà (ngày 23 tháng 3 năm 2022). "Hoàng Tích Chỉ - nhà biên kịch hàng đầu của Điện ảnh cách mạng Việt Nam". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  3. Hội Điện ảnh Việt Nam (2000), tr. 75.
  4. Nguyễn Quang Ân (2002), tr. 306.
  5. 1 2 3 Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2020), tr. 161.
  6. Lê Thị Bích Hồng (ngày 18 tháng 1 năm 2021). "Hoàng Tích Chỉ - Đến các chiến trường để viết kịch bản phim". Báo Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  7. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 68.
  8. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 69.
  9. 1 2 3 4 Ngô Thanh Hằng (ngày 24 tháng 10 năm 2005). "Từ một trinh sát Công an đến nhà biên kịch nổi tiếng". Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  10. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 69–70.
  11. 1 2 Ngô Hồng Vân (2003), tr. 70.
  12. 1 2 Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2020), tr. 162.
  13. Thảo Duyên (ngày 24 tháng 7 năm 2009). "NSƯT Lưu Xuân Thư: Buồn vui ngoài ô cửa". Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2023.
  14. 1 2 Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 242.
  15. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 70-71.
  16. 1 2 Tuấn Phong (ngày 2 tháng 4 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Một đời tận hiến cho điện ảnh". Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  17. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 71.
  18. Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 244–245.
  19. Bành Bảo (1986), tr. 182.
  20. Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 242 & 247.
  21. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 71–72.
  22. 1 2 PV (ngày 27 tháng 8 năm 2005). "Đạo diễn - NSND Hải Ninh: Thời gian là thước đo giá trị của bộ phim". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  23. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 72.
  24. 1 2 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2005), tr. 862.
  25. Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 262.
  26. Bích Hiệp (ngày 6 tháng 2 năm 2013). "Vĩnh biệt NSND Hải Ninh, cây đại thụ của điện ảnh Việt Nam". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  27. Nguyễn Thị Hồng Ngát (ngày 21 tháng 3 năm 2022). "Mãi nhớ và tôn kính nhà biên kịch điện ảnh Hoàng Tích Chỉ". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  28. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 72–73.
  29. Lê Ngọc Minh (ngày 12 tháng 3 năm 2008). "Ðiện ảnh Việt Nam trước câu hỏi lớn". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  30. 1 2 Ngô Hồng Vân (2003), tr. 73.
  31. 1 2 3 Thanh Hằng (ngày 18 tháng 12 năm 2012). "Phim "Em bé Hà Nội" hay tiếng nói thức tỉnh lương tri". Công an nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  32. Bạch Dương (ngày 21 tháng 3 năm 2022). ""Cha đẻ" phim "Em bé Hà Nội", "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" qua đời". Báo Giao thông. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  33. Bằng Việt & Trần Quốc Vượng (1996), tr. 236.
  34. Nhật Thu (ngày 22 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ 'cần mẫn trên cánh đồng điện ảnh'". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  35. Lê Thị Bích Hồng (ngày 24 tháng 3 năm 2022). "Kính biệt nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Người xa khuất, tác phẩm còn ngân mãi". Thể thao & Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  36. "Lòng nhân ái của người Hà Nội trong chiến dịch rải thảm B52". Đại biểu nhân dân. ngày 27 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  37. Báo Nhân Dân (ngày 24 tháng 3 năm 2022), "Mãi nhớ nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ", YouTube, truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025
  38. Việt Phong (ngày 6 tháng 4 năm 2019). "NSND Lan Hương và vai diễn "Em bé Hà Nội"". Văn nghệ Quân đội. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  39. "NSND Lan Hương và những chuyện chưa kể về 'Em bé Hà Nội'". Báo Dân sinh. ngày 12 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  40. Cesari & Rigney (2014), tr. 219.
  41. Băng Châu, Mai Trang (ngày 4 tháng 7 năm 2017). "Dàn diễn viên phim "Em bé Hà Nội" sau 43 năm công chiếu". Dân trí. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  42. 1 2 Phương Ngọc (ngày 20 tháng 10 năm 2014). "Em bé Hà Nội - Bản hùng ca nhân văn". Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  43. Dương Phương Vinh (ngày 26 tháng 12 năm 2012). "Một thời đạn bom một thời hòa bình (P1): Ký ức 'Em bé Hà Nội'". Tiền phong. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  44. "Sức sống Em bé Hà Nội". Báo Gia Lai. Sài Gòn Giải Phóng. ngày 26 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  45. Phan Quang Vũ (ngày 20 tháng 1 năm 2019). "Phim Việt trong dòng chảy thời gian". Giáo dục và Thời đại. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  46. 1 2 Bodemer, Margaret B. (Mùa thu 2021). "The Little Girl of Hanoi (Em Bé Hà Nội)" (PDF). Education About Asia (bằng tiếng Anh). 26 (2): 54, 55. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2022.
  47. Thế Công (ngày 18 tháng 7 năm 2022). "Xây dựng thương hiệu quốc gia qua điện ảnh: Phải có một tầm nhìn xa, chiến lược cụ thể và sự đầu tư rất bài bản". Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  48. Ngô Phương Lan (1998), tr. 301.
  49. "Liên hoan phim Việt Nam lần thứ III". Thế giới Điện ảnh. ngày 3 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  50. Nhiều tác giả (1983), tr. 107.
  51. 1 2 "1975 year" [Năm 1975]. moscowfilmfestival.ru (bằng tiếng Anh). Liên hoan phim quốc tế Moskva. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  52. Đỗ Quyên (ngày 30 tháng 1 năm 2016). "'Em bé Hà Nội' Lan Hương bây giờ ra sao?". Tiền phong. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  53. Hồng Vân (ngày 25 tháng 6 năm 2019). "Công nghiệp văn hoá: Điện ảnh - Tấm gương phản chiếu". Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  54. Phong Điệp (ngày 26 tháng 4 năm 2024). "Tiến sĩ, Nghệ sĩ Ưu tú Nguyễn Thị Thu Hà: Đó là những khoảnh khắc vô giá..." Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
  55. Phương Hồ (ngày 28 tháng 4 năm 2019). "Sài Gòn ơi, ta đã về đây!". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  56. Hải Ninh (2003), tr. 195.
  57. Hoài Hương (ngày 19 tháng 4 năm 2016). ""Binh chủng đặc biệt" nào góp phần làm nên chiến thắng 30/4?". Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  58. Thành Nguyễn (ngày 2 tháng 9 năm 2025). "Điện ảnh Việt Nam với ngày thống nhất đất nước". Báo Khánh Hòa. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.[liên kết hỏng]
  59. 1 2 3 Ngọc Anh (ngày 16 tháng 9 năm 2009). "Tác giả kịch bản "Vĩ tuyến 17, ngày và đêm": Day dứt vì chưa tìm lại được nguyên mẫu của chị Dịu". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  60. Ngô Hồng Vân (2003), tr. 78.
  61. 1 2 Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2020), tr. 163.
  62. 1 2 3 Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 216.
  63. 1 2 Ngô Hồng Vân (2003), tr. 74.
  64. Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 217.
  65. 1 2 Ngô Hồng Vân (2003), tr. 76.
  66. Thảo Vy (ngày 16 tháng 5 năm 2016). "Cần SBC, chứ không chỉ những Lục Vân Tiên". Báo Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  67. Văn Bảy (ngày 1 tháng 6 năm 2016). "SBC - làn sóng mãnh liệt trên màn ảnh". Báo Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  68. Trần Mỹ Hiền (ngày 22 tháng 12 năm 2015). "NSND Hải Ninh và NSND Thanh Vân: Cha và con cùng cháy bỏng đam mê". Báo Công an nhân dân. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  69. 1 2 Ngô Hồng Vân (2003), tr. 75.
  70. Hoàng Anh (ngày 17 tháng 2 năm 2017). "Các phim điện ảnh lấy bối cảnh chiến tranh biên giới 1979". VnExpress. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  71. Hà Tùng Long (ngày 16 tháng 2 năm 2019). "Nhìn lại cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc qua một số tác phẩm điện ảnh". Báo điện tử Dân Trí. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  72. Huy Minh (ngày 3 tháng 12 năm 2016). "Ký Sự Bất Diệt". Báo Lao Động. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  73. Thảo Duyên (ngày 24 tháng 8 năm 2006). "Xung quanh việc xét tặng danh hiệu nghệ sĩ: Phải chăng có sự lãng quên?". Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  74. Đỗ Lệnh Hồng Tú (ngày 6 tháng 2 năm 2013). "Thương tiếc NSND Hải Ninh: Đâu ai muốn nắng vàng kia khép lại!". Báo Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  75. Hà Phương (ngày 23 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ lặng lẽ tỏa sáng với điện ảnh". Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  76. 1 2 Nguyễn Thị Thu Hà (ngày 23 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ - Cây bút hàng đầu của Điện ảnh Cách mạng Việt Nam". Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  77. Minh Anh (ngày 23 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Cả đời lặng thầm cống hiến". VietnamPlus. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  78. Tuấn Phong (ngày 2 tháng 4 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Một đời tận hiến cho điện ảnh". Báo Công an nhân dân. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  79. Minh Anh (ngày 21 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch phim Em bé Hà Nội Hoàng Tích Chỉ qua đời". VietnamPlus. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  80. Lê Thị Bích Hồng (ngày 24 tháng 3 năm 2022). "Kính biệt nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Người xa khuất, tác phẩm còn ngân mãi". Báo Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
  81. Lại Nguyên Ân, Trần Thiện Khanh & Đoàn Ánh Dương (2013), tr. 211.
  82. Lại Nguyên Ân, Trần Thiện Khanh & Đoàn Ánh Dương (2013), tr. 418.
  83. Lại Nguyên Ân, Trần Thiện Khanh & Đoàn Ánh Dương (2013), tr. 642.
  84. Lại Nguyên Ân, Trần Thiện Khanh & Đoàn Ánh Dương (2013), tr. 1029.
  85. Trần Mạnh Thường (2003), tr. 286.
  86. Vĩnh Hà (ngày 22 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Một cây bút, một trái tim". Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2025.
  87. "Hoàng Tích Chỉ - nhà biên kịch đầu tiên nhận giải thưởng Hồ Chí Minh". VietnamPlus. ngày 22 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
  88. Vĩnh Hà (ngày 22 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Một cây bút, một trái tim". Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  89. Huy Phương (ngày 31 tháng 3 năm 2016). "Giải Cánh diều 2015: Loại phim Việt có kịch bản từ nước ngoài". Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  90. PV (ngày 20 tháng 4 năm 2016). "Phim truyện điện ảnh Trúng số đoạt Giải Cánh diều vàng 2015". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  91. Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 508.
  92. Nhiều tác giả (2007), tr. 68.
  93. "8th Moscow International Film Festival (1973)". MIFF. Bản gốc lưu trữ tháng 1 16, 2013. Truy cập tháng 12 25, 2012.
  94. Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 276.
  95. "Giải thưởng Bông sen vàng qua 16 kỳ LHPVN". Thế giới Điện ảnh. ngày 5 tháng 12 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  96. "The little girl of Hanoi". MUBI. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  97. Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 32.
  98. Lưu Thảo (ngày 10 tháng 4 năm 2022). "Nhà biên kịch, đạo diễn Hoàng Tích Chỉ: Người gieo hạt vàng trên cánh đồng điện ảnh". Báo Hà Nội Mới. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  99. Đỗ Thị Hồng (ngày 6 tháng 4 năm 2005). "Những thước phim tài liệu quý giá về Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2025.
  100. Nguyễn Thị Thu Hà (ngày 18 tháng 4 năm 2025). "Thành tựu điện ảnh Việt Nam sau nửa thế kỷ đất nước thống nhất". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2025.
  101. 1 2 Ngô Thanh Hằng (ngày 20 tháng 7 năm 2005). ""Mối tình đầu" và những gương mặt nghệ sỹ tài danh". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2025.
  102. 1 2 Linh Khánh (ngày 28 tháng 4 năm 2025). "Công chiếu "Nửa thế kỷ phim Việt Nam về chiến tranh" tại Liên hoan phim châu Á-Đà Nẵng". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2025.
  103. Thu Nguyên (ngày 18 tháng 3 năm 2007). "Đạo diễn Hải Ninh nhớ "Em bé Hà Nội"". Dân trí. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  104. Lê Minh (1995), tr. 391.
  105. Nhiều tác giả (2007), tr. 805.
  106. Minh Ngọc (ngày 5 tháng 2 năm 2013). "Vĩnh biệt NSND Hải Ninh". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2025.
  107. Nhật Thu (ngày 22 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ 'cần mẫn trên cánh đồng điện ảnh'". VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  108. Hiểu Nhân (ngày 21 tháng 3 năm 2022). "Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ qua đời". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]