Hoàng Thế Thiện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoàng Thế Thiện
Hoàng Thế Thiện.jpg
Chân dung tướng Hoàng Thế Thiện
Tiểu sử
Biệt danh Vị tướng Chính ủy
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh 20 tháng 10 năm 1922
Hải Phòng, Liên bang Đông Dương
Mất 5 tháng 9, 1995 (72 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 19471982
Cấp bậc Vietnam People's Army Major General.jpg Thiếu tướng
Chỉ huy
  • Đảng ủy Trung đoàn Sông Lô
  • Đảng ủy Trung đoàn Tây Đô
  • Đảng ủy Trung đoàn Cửu Long
  • Chủ nhiệm, Ban Chính trị Phân Liên Khu Miền Tây Nam Bộ
  • Chủ nhiệm, Ban Chính trị Liên Khu 3
  • Đảng ủy Cục Không Quân
  • Chủ nhiệm, Ban Chính trị Sư đoàn 9
  • Đảng ủy Sư đoàn 1
  • Đảng ủy Sư đoàn 304
  • Đảng ủy Bộ tư lệnh Trường Sơn
  • Đảng ủy Quân đoàn 4
  • Trưởng ban, Ban B.68 Trung ương
  • Đảng ủy Đoàn Chuyên gia Việt Nam toàn Campuchia
  • Trưởng đoàn, Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia
Tham chiến Trận Bàu Bàng
Chiến dịch Đắc Tô I
Chiến dịch Đường 9 Nam Lào
Chiến dịch Xuân Lộc
Chiến dịch Hồ Chí Minh
Khen thưởng Hchcm.JPGMilitary Exploit Order.pngMilitary Exploit Order.pngHuan-chuong-Chien-thang.jpg
Huân chương Hồ Chí Minh
Huân chương Độc lập hạng nhất
2 Huân chương Quân công hạng nhất
Huân chương Chiến thắng hạng nhất
2 Huân chương Kháng chiến hạng nhất
Huân chương Chiến công hạng nhất
Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba
...
Công việc khác Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Trưởng ban B.68 Trung ương Đảng
Thứ trưởng thứ nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chủ tịch danh dự Làng trẻ em SOS Việt Nam

Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (19221995)[1] là một trong những tướng lĩnh nổi tiếng của Quân đội Nhân dân Việt Nam thụ phong quân hàm cấp tướng trước năm 1975. Ông nguyên là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1977-1982), từng giữ chức vụ Chính ủy của nhiều đơn vị khác nhau nên còn được mệnh danh là "Vị tướng Chính ủy".

Thân thế và quá trình tham gia cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Lưu Văn Thi, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1922 tại ngõ Mai Viên, đường Agent Blambay (nay là đường Trần Bình Trọng, phường Lương Khánh Thiện, quận Ngô Quyền), thành phố Hải Phòng, trong một gia đình dân nghèo thành thị yêu nước. Ông là con trai thứ hai của vợ chồng cụ Lưu Văn Ngữ (1892-1946) và Trịnh Thị Tạc (1897-1944). Cụ Lưu Văn Ngữ quê ở thôn Hạ, xã Lê Xá, tổng Đội Sơn, huyện Duy Tiên, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là thôn Lê Xá, xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam); là một người học Nho và là một đầu bếp giỏi ở Hải Phòng. Cụ là người có tư tưởng yêu nước, từng tham gia tổ chức đưa người sang Trung Quốc cho cụ Phan Bội Châu trong phong trào Đông Du. Gia đình cụ là cơ sở của nhà cách mạng Nguyễn Lương Bằng (sau là Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) từ thập niên 1920. Năm 1927, cụ tham gia rải truyền đơn trong vụ người ViệtHoa kiều đánh nhau ở Hải Phòng và, do đó, bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam 6 tháng. Những năm 1936-1938, cụ tham gia phong trào mặt trận Bình dân, là sáng lập viên và là Ủy viên Ban trị sự Hội Ái hữu công nhân tư gia thành phố Hải Phòng.

Sớm ảnh hưởng tư tưởng yêu nước từ cha nên ngay từ khi còn là học sinh Trường Bonnal, Hoàng Thế Thiện đã tích cực tham gia vào các hoạt động yêu nước của phong trào Hướng đạo sinh thành phố Hải Phòng. Đầu năm 1940, ông tham gia Tiểu tổ bí mật do nhà cách mạng Vũ Quý phụ trách, tự động xây dựng lại cơ sở cách mạng bí mật tại thành phố Hải Phòng đã bị địch khủng bố tan rã trước đó. Ông tham gia hoạt động trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ từ năm 1940 và được cử làm Ủy viên Ban Trị sự Hội Truyền bá quốc ngữ thành phố Hải Phòng.

Tháng 1 năm 1942, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc và được giao nhiệm vụ xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh thành phố Hải Phòng, đồng thời phụ trách một cơ sở bí mật trong thanh niên, học sinh thành phố. Cuối năm 1942, do gia đình quá nghèo nên ông đã phải thôi học, làm gia sư rồi làm thư ký đánh máy công nhật ở Ngân hàng Đông Dương. Sau một đợt đấu tranh treo cờ, phân phát truyền đơn toàn thành phố Hải Phòng có kết quả vào cuối năm 1942, ông được giao nhiệm vụ chuẩn bị thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn thành phố và thống nhất đầu mối chỉ đạo.

Tháng 3 năm 1943, do có sự phản bội của một Việt gian được mật thám Pháp cài vào tổ chức, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Ngân hàng Đông Dương và đưa ra xử tại tòa án binh Hà Nội. Ông bị kết án 5 năm tù khổ sai, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), rồi bị đày lên nhà tù Sơn La. Trong tù, mặc dù bị tra tấn, đày ải nhưng ông không nhụt trí đấu tranh. Ông được kết nạp vào nhóm Trung Kiên ở Hỏa Lò và Hội Lao tù Cứu quốc ở Sơn La, được nhà cách mạng Trần Đăng Ninh trực tiếp huấn luyện về công tác bí mật và vận động quần chúng.

Tháng 3 năm 1945, ông vượt ngục tập thể trong nhóm của nhà cách mạng Trần Quốc Hoàn rồi về Thái Nguyên tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 4 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Đội trưởng Đội Vũ trang Tuyên truyền Cứu quốc quân huyện Vũ Nhai.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền tại thị xã Thái Nguyên. Trên cương vị là Đội trưởng Đội Vũ trang tuyên truyền Cứu quốc quân Vũ Nhai, ông đã lãnh đạo cuộc biểu tình trên 5.000 người tuần hành vũ trang thị uy tiến vào nội ô thị xã Thái Nguyên vào chiều ngày 19-08-1945, uy hiếp quân phát xít Nhật đóng ở đây, uy hiếp và làm tan rã chính quyền tay sai của Nhật, kêu gọi sự đầu hàng của lính bảo an. Lực lượng do ông dẫn đầu đã tiến vào thị xã Thái Nguyên trước ngày 20-08-1945 một ngày và tổ chức đón Giải quân phóng từ Tân Trào tiến vào bao vây đồn binh Nhật, đưa tối hậu thư và tước vũ khí của lính bảo an, tấn công quân Nhật… Trong tập hồi ức “Những chặng đường lịch sử” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1994), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Chúng tôi tới Thịnh Đán thì được tin có một đội tuyên truyền xung phong từ Võ Nhai tiến xuống hôm trước, đã đột nhập thị xã, tổ chức quần chúng tuần hành thị uy. Một đội dân quân của Phú Bình, Phổ Yên cũng đã vào thị xã lùng bắt một số tay chân của địch. Tình hình bảo an binh đang hết sức hoang mang”. Trong khởi nghĩa Thái Nguyên, cuộc biểu tình tuần hành thị uy của quần chúng trong ngày 19-08-1945 do ông lãnh đạo là bước thắng lợi có ý nghĩa quyết định đầu tiên. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời từ Tuyên Quang qua Thái Nguyên để về Hà Nội rất sớm và Giải phóng quân sớm về được Thủ đô cũng nói lên ý nghĩa quan trọng của khởi nghĩa thành công rất sớm ở Thái Nguyên [2].

Tháng 9 năm 1945, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 1946, ông là người phụ trách công tác tuyên truyền và công tác vận động thanh niên (công tác thanh vận) của tỉnh Thái Nguyên. Ông được xác định là người lãnh đạo chủ chốt đầu tiên của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Thái Nguyên [3].

Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Vĩnh Yên.

Tham gia công tác trong quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 1947, ông được điều vào Quân đội Nhân dân Việt Nam làm Phái viên Chính trị Khu 10, rồi Trưởng phòng Chính trị Liên Khu 10 - Quân khu ủy viên. Từ đây, ông bắt đầu một cuộc đời binh nghiệp, tham gia chiến đấu tại nhiều chiến trường. Tháng 7 năm 1948, ông được cử làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Sông Lô.

Tháng 9 năm 1949, ông được Bộ Quốc phòng cử làm Trưởng đoàn cán bộ quân sự vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ, Nam tiến lần thứ nhất. Tháng 7 năm 1950, ông làm Phái viên Kiểm tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Tháng 11 năm 1950, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Tây Đô (Khu 9), Chỉ huy phó Chiến dịch Long Châu Hà IIChiến dịch Sóc Trăng II. Cuối năm 1951, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Cửu Long (Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ). Tháng 10 năm 1952, ông làm Trưởng phòng Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ - Quân khu ủy viên, ủy viên Ban Tuyên huấn và ủy viên Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc phụ trách Ban Đại diện miền Tây Nam Bộ. Tháng 12 năm 1955, ông làm Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 3 - Quân khu ủy viên.

Tháng 7 năm 1956, ông làm Chính ủy Ban Nghiên cứu Sân bay. Tháng 12 năm 1958, ông được phong quân hàm Thượng tá. Tháng 1 năm 1959, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Cục Không quân.

Tháng 10 năm 1964, ông trở lại chiến trường Nam Bộ trên con tàu "không số" (Đoàn 125) với bí danh là Hoàng Dân tức Tư Dân, Nam tiến lần thứ hai. Lúc này, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng có chủ trương thành lập một sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam ở miền Tây Nam Bộ. Ông về thẳng miền Tây để chuẩn bị cho việc thành lập sư đoàn này và đảm nhiệm chức vụ Chính ủy sư đoàn, nhưng vì nhiều lý do khách quan nên sư đoàn này không thành lập được.

Tháng 12 năm 1964, ông làm Phó Chính ủy Quân khu 8 (Trung Nam Bộ). Tháng 7 năm 1965, ông về miền Đông tham gia thành lập Sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam, làm Phó Chính ủy - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị đầu tiên của Sư đoàn 9.

Tháng 2 năm 1966, ông được thăng quân hàm đại tá. Tháng 8 năm 1966, ông về Mặt trận Tây Nguyên (B3) làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1, Đảng ủy viên Mặt trận B3; ông đã cùng Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng Lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô 1 trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa đông năm 1967. Tháng 1 năm 1969, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 304.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (đứng giữa hình) - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vào thăm và làm việc với Bộ Tư lệnh Trường Sơn và Bộ Chỉ huy Mặt trận 968 tại Quảng Bình cuối năm 1970, bàn mở đường tiêu chuẩn đông Trường Sơn và chuẩn bị cho chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (Hoàng Thế Thiện ngồi thứ nhất từ phải sang).

Tháng 7 năm 1970, ông được điều vào tuyến lửa Trường Sơn, làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận 968 Nam Lào rồi tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (tháng 1 năm 1971). Tháng 6 năm 1971, ông làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn (Đoàn 559) kiêm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh khu vực 470 (tương đương Sư đoàn). Tháng 5 năm 1973, ông làm Chính ủy - Phó Bí thư rồi Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Ngày 16 tháng 4 năm 1974, ông được thăng quân hàm thiếu tướng theo Lệnh số 21-LCT của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Tôn Đức Thắng.

Tháng 2 năm 1975, ông được điều vào chiến trường B2 (Nam Bộ), Nam tiến lần thứ ba, làm Chính ủy đầu tiên - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 4, Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận phía Đông thuộc Bộ Tư lệnh B2. Ông trực tiếp chỉ huy hướng tiến công Dầu Tiếng - Chơn Thành. Tháng 4 năm 1975, ông tham gia chỉ huy cánh quân hướng Đông - một trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tháng 12 năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV.

Tháng 4 năm 1977, ông làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế - Bí thư Đảng ủy Tổng cục.

Từ tháng 10 năm 1978 đến tháng 6 năm 1982, ông làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Ban B.68 Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Đảng ủy Đoàn Chuyên gia Việt Nam toàn Campuchia, Cố vấn cho Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Phó Tổng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, Phó Tư lệnh Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia kiêm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia (đoàn 478).

Trở về công tác dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 1982, ông được điều về nước làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội.

Tháng 5 năm 1983, ông được bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa II.

Tháng 2 năm 1987, ông làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Ông là người đại diện cho Chính phủ Việt Nam đàm phán với Làng trẻ em SOS Quốc tế về việc thành lập Làng trẻ em SOS Việt Nam năm 1987 và là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Làng trẻ em SOS Việt Nam (1987-1990).

Tháng 7 năm 1989, ông được nghỉ hưu.

Sau khi nghỉ hưu, ông tham gia công tác Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đầu thành lập trên cương vị là Chủ tịch đầu tiên của Hội Cựu chiến binh Quận 1 (1990-1993).

Ông mất hồi 14 giờ 40 phút ngày 5 tháng 9 năm 1995 tại Viện Quân y 175, Thành phố Hồ Chí Minh sau một cơn bạo bệnh, thọ 73 tuổi.

Phần mộ ông tại khu 6, Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh (nghĩa trang Lạc Cảnh), phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Lịch sử thụ phong quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thụ phong 1958 1966 1974
Quân hàm Vietnam People's Army Colonel.jpg Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg Vietnam People's Army Major General.jpg
Cấp bậc Thượng tá Đại tá Thiếu tướng

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Do những công lao đóng góp và thành tích cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, ông đã được nhà nước Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng năm 2002), Huân chương Độc lập hạng nhất, 4 Huân chương Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba), Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba), 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy hiệu Vì nghĩa vụ quốc tế, Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc, và nhiều huy chương, kỷ niệm chương, huy hiệu khác.

Ông còn được Ban Lãnh đạo Viện Hermann Gmeiner thuộc tổ chức Làng trẻ em SOS Quốc tế trao tặng giải thưởng "Kim vàng Danh dự" do đã có những đóng góp đặc biệt cho tổ chức này.

Tên và tiểu sử của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện đã được đưa vào Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (xuất bản năm 1996, tái bản năm 2004).

Hình ảnh, tượng đồng và kỷ vật kháng chiến của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện hiện được lưu giữ, trưng bày tại nhiều bảo tàng trên cả nước Việt Nam: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Hà Nội), Bảo tàng Phòng không - Không quân (Việt Nam) tại (Hà Nội), Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh (Hà Nội), Bảo tàng Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ (TP. Hồ Chí Minh), Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh (TP. Hồ Chí Minh), Bảo tàng Quân đoàn 4 (Việt Nam) tại Bình Dương, Bảo tàng các lực lượng vũ trang nhân dân đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ), Bảo tàng Hải Phòng, Khu di tích nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), Khu di tích Nhà tù Sơn La...

Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa tên Hoàng Thế Thiện vào Quỹ đặt, đổi tên đường của thành phố (Nghị quyết số 66/2006/NQ-HĐND ngày 12-12-2006 thông qua danh sách bổ sung Quỹ đặt, đổi tên đường của thành phố do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình tại kỳ họp lần thứ 9 khóa VII, gồm 190 tên nhân vật lịch sử và địa danh).

Tên Hoàng Thế Thiện đã được đưa vào Quỹ đặt, đổi tên đường của một số địa phương: thành phố Đà Nẵng, tỉnh Khánh Hòa, thành phố Cần Thơ[4], tỉnh Thừa Thiên - Huế, tỉnh Hà Nam, thành phố Hà Nội, tỉnh Quảng Nam (Nghị quyết số 164/2015/NQ-HĐND ngày 07-07-2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam khóa 8, kỳ họp 14[5]), tỉnh Sơn La (Quyết định số 2552/QĐ-UBND ngày 28-10-2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La [6]), tỉnh An Giang [7]...

Thành phố Hải Phòng đã đặt tên Hoàng Thế Thiện cho một tuyến phố dài 700m, rộng 7m tại phường Đông Hải 1, quận Hải An (bên cạnh Cục Hải quan thành phố Hải Phòng) theo Nghị quyết số 08/2015/NQ-HĐND ngày 22-07-2015 của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng khóa 14, kỳ họp 12[8].

Tỉnh Quảng Nam đã đặt tên Hoàng Thế Thiện cho một con đường dài 300m, rộng 11,5m tại thị trấn Khâm Đức, huyện Phước Sơn theo Nghị quyết số 204/NQ-HĐND ngày 26-04-2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam khóa 8, kỳ họp 16 và theo Quyết định số 1882/QĐ-UBND ngày 31-05-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về việc đặt tên một số tuyến đường tại thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc; thị trấn Khâm Đức, huyện Phước Sơn; thị trấn Đông Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Tỉnh Hà Nam đã đặt tên Hoàng Thế Thiện cho một tuyến phố dài 750m, rộng 27m nằm trong khu Đô thị Sinh thái Thương mại và Dịch vụ Lam Hạ, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý theo Nghị quyết số 19/2016/NQ-HĐND ngày 29-07-2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Nam về việc đặt tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Phủ Lý[9] (Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Nam khoá XVIII kỳ họp thứ hai thông qua ngày 29-07-2016 và có hiệu lực từ ngày 08-08-2016) và theo Quyết định số 31/2016/QĐ-UBND ngày 22-08-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam[10].

Thành phố Đà Nẵng đã đặt tên Hoàng Thế Thiện cho một con đường dài 800m, rộng 7,5m nằm trong khu Đô thị Sinh thái Hòa Xuân, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ theo Nghị quyết số 75/2016/NQ-HĐND ngày 08-12-2016 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc đặt, đổi tên một số đường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2016[11] (Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khoá IX kỳ họp thứ ba thông qua ngày 08-12-2016 và có hiệu lực từ ngày 19-12-2016).

Tỉnh Đắk Lắk đã đặt tên Hoàng Thế Thiện cho một con đường dài 800m, rộng 18m tại phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột theo Nghị quyết số 17/2016/NQ-HĐND ngày 14-12-2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk khóa IX, kỳ họp thứ ba về việc đặt, đổi tên đường trên địa bàn, đợt 4 [12] (Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk khoá IX, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 14-12-2016 và có hiệu lực từ ngày 01-01-2017).

Nhận định, đánh giá về Hoàng Thế Thiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Đồng chí Hoàng Thế Thiện là một cán bộ cao cấp của Đảng, một vị tướng của Quân đội. Đồng chí đã từng đảm nhiệm những chức vụ quan trọng, suốt đời chiến đấu vì sự nghiệp của Đảng, của Dân tộc. Đồng chí có ưu điểm nổi bật là dù ở cương vị nào cũng là tấm gương đoàn kết và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được đồng chí, đồng đội tin yêu".
  • Thượng tướng - Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo: "Anh Thiện có nhiều kinh nghiệm về công tác chính trị và có kiến thức quân sự. Anh chiến đấu rất dũng cảm. Anh Thiện đã cùng anh Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô I trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa Đông năm 1967... Điểm đặc biệt của anh Thiện: tuy là Chính ủy nhưng rất chú ý đến quân sự và nghiên cứu về tình hình địch. Một Chính ủy như thế quả là hơi hiếm".
  • Thiếu tướng - Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trịnh Vương Hồng, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: "Cuộc đời và sự nghiệp của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện là một tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, một vị tướng trưởng thành từ cơ sở, qua nhiều cương vị, là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội đứng mũi chịu sào của nhiều đơn vị. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí đã được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ vào chiến trường Nam Bộ trong những thời điểm khó khăn nhất, nhưng đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trên 50 năm hoạt động cách mạng, gần 40 năm chiến đấu và công tác trong Quân đội, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ chính trị - quân sự trung kiên, dũng cảm, trung thực, liêm khiết, sống gần gũi với đồng chí, đồng bào, nghiêm khắc với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa. Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện đã có nhiều công lao trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Là một vị tướng có uy tín của Quân đội, công lao và thành tích xuất sắc của đồng chí đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội ta ghi nhận. Lịch sử hai cuộc kháng chiến vĩ đại của Dân tộc ta và lịch sử quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng còn mãi mãi ghi đậm hình ảnh và công lao vị tướng có tài tổ chức và chỉ huy chiến đấu, một Chính ủy kiên trung, mẫu mực, một đảng viên ưu tú của Đảng".
  • Thượng tướng - Phó Giáo sư Nguyễn Hữu An: "Anh Hoàng Thế Thiện - Chính ủy là người toàn năng, không chỉ giỏi về chính trị mà còn là người hiểu biết về quân sự, khá sâu những vấn đề có liên quan đến cương vị của mình và rất xứng đáng là nhân vật trung tâm của Sư đoàn".
  • Thiếu tướng Hoàng Đan: "Tuy là Chính ủy nhưng anh Hoàng Thế Thiện có trình độ cao về nghệ thuật quân sự, về cách đánh của nhiều hình thức tác chiến khác nhau. Vì vậy, anh không chỉ đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị mà anh còn thực sự là một cán bộ chỉ huy quân sự, đi sâu vào tác chiến... Điều làm gương cho chúng tôi và cán bộ quân sự nói chung là địch tìm mọi cách chống lại ta thì anh luôn tìm cách để đánh thắng địch. Đây là một điểm rất đặc biệt ở anh Thiện, một Chính ủy mà cũng là một nhà quân sự. Địch có cách này thì ta có cách khác hay hơn nó để đánh thắng nó. Đây là điều rất cần thiết trong chiến tranh".
  • Đại tá - Tiến sĩ Sử học Hồ Sơn Đài: "Có thể nói rằng, chặng đường chiến đấu của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện ở Nam Bộ gắn liền với các đơn vị chủ lực, với quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của lực lượng vũ trang chủ lực ở Nam Bộ, từ trung đoàn đến cấp quân đoàn. Ông có mặt ở hầu khắp các chiến trường Nam Bộ, từ miền Tây, miền Trung lên miền Đông và thành phố Sài Gòn, từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến kháng chiến chống đế quốc Mỹ và những ngày tháng sôi động sau khi đất nước hòa bình, thống nhất. Những gì ông để lại cho lực lượng vũ trang Nam Bộ là hình ảnh một cán bộ chính trị - quân sự kiên trung, tận tụy, sâu sắc, mực thước và dung hậu. Với tư cách một người lính cầm súng, trên dọc đường hành quân đánh giặc, Nam Bộ là nơi ông dừng chân nhiều nhất, cũng là nơi ông dừng lại sau cùng".
  • Trung tướng - Phó Giáo sư Lê Hữu Đức: "Qua hai cuộc kháng chiến, tôi được làm việc với nhiều đồng chí chính ủy trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn, quân đoàn, quân khu, học viện. Với anh Hoàng Thế Thiện tôi giữ mãi những kỷ niệm về tình người ấm áp của anh. Quả là một đồng chí Chính ủy sư đoàn đích thực và xuất sắc!".
  • Thiếu tướng Bùi Đức Tạm: "Anh là một cán bộ nhiệt tình, sôi nổi, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đâu cần là anh có mặt".
  • Nhà báo Phan Hoàng: "Hoàng Thế Thiện là hình ảnh Chính ủy tiêu biểu trên chiến trường. Ông là một con người đa năng, có trình độ toàn diện, một vị tướng có mặt trên khắp các chiến trường, làm công tác chính trị, quân sự, kinh tế và cả việc đền ơn đáp nghĩa. Dù ông đã mãi mãi đi xa nhưng hình ảnh và công lao của vị tướng có tài tổ chức và chỉ huy chiến đấu, một Chính ủy kiên trung, mẫu mực, một trái tim nhân hậu, nghĩa tình vẫn còn in đậm trong tâm khảm mọi người".
  • Thiếu tướng - Nhà thơ Nguyễn Đan Thành: "... Kháng chiến gian lao nên vất vả / Nam Bắc bôn ba chẳng nản lòng / Đất nước thanh bình vang tiếng hát / Thân cò lặn lội vẫn bên sông / Non nước tang bồng âu là thế / Hạt cát phù sa thế cũng xong...".
  • Đại tá Hoàng Ngọc Giao: "Tháng năm dài thế kỷ / Mòn Bắc chiến - Nam chinh / Lửa nhuộm trái tim hồng / Sẵn sàng nơi bão tố / Mến thương người đồng chí / Tóc bạc tâm hồn xanh / Đường Trường Sơn máu lửa / Còn mãi dấu chân anh..."
  • Nữ sĩ Thuận Bằng: "Thiếu hai sáu nữa mới tròn trăm / Chiến trận tung hoành bốn chục năm / Tuổi Đảng năm mươi tròn khí tiết / Giờ đây thanh thản với hương trầm."

Tác phẩm và hồi ức về Hoàng Thế Thiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Nhớ Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện" - Hồi ức, ký của nhiều tác giả - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2005.
  • "Nhân vật lịch sử Hải Phòng tập II" - Nhà xuất bản Hải Phòng, 2001.
  • "Trái tim thắp lửa (10 Danh Tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam)" - Chi Phan - Nhà xuất bản Thanh niên, 2007.
  • "Quê hương và đồng đội" - Bút ký của Trần Thế Tuyển - Nhà xuất bản Trẻ, 2004.
  • "Người Chính ủy Quân đội Nhân dân Việt Nam" - Đại tướng Chu Huy Mân chủ biên - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2006.
  • "Pháo binh miền Trung Trung Bộ - Tây Nguyên thời đánh Mỹ" - Hồi ức của nhiều tác giả - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2000.
  • "Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện - Ba lần Nam tiến" - Phim tài liệu - Hãng phim Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (TFS) sản xuất năm 2005.
  • Tượng chân dung bán thân "Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện" - tượng đồng của nhà điêu khắc Tạ Duy Đoán, sáng tác năm 2005.

Hồi ức của Hoàng Thế Thiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Việt Nam Giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu" - Hồi ức của nhiều tác giả - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1995; tái bản năm 2004.
  • "Bác của chúng ta" - Hồi ức của nhiều tác giả - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1985.
  • "Khắc sâu lời Bác" - Hồi ức của nhiều tác giả - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2001.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thông tin và hình ảnh trong bài viết này do ông Hoàng Anh Thi, con trai cố Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện cung cấp (Địa chỉ: Nhà lưu niệm Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, số 2/47 đường Phan Thúc Duyện, Phường 4, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Tel: (08)38111467 / 0918636791)
  2. ^ Lê Hồng Lĩnh. “Giành chính quyền ở Thái Nguyên trong Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945”. Tạp chí Xưa & Nay số 241 - tháng 8 năm 2005, trang 7, 8, 33. 
  3. ^ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Thái Nguyên (2012). “Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào Thanh niên tỉnh Thái Nguyên (1938-2012)”. Tỉnh Thái Nguyên. 
  4. ^ “CƠ SỞ DỮ LIỆU TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ”. 
  5. ^ “Công báo tỉnh Quảng Nam”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 
  6. ^ “Công báo tỉnh Sơn La”. 
  7. ^ “Cổng thông tin Sở KNCN tỉnh An Giang”. 
  8. ^ Theo thông tin từ Cổng thông tin điện tử Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng (http://dbndhaiphong.gov.vn).
  9. ^ “Văn bản QPPL Hà Nam”. 
  10. ^ “Cổng TTĐT thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam”. 
  11. ^ “Nghị quyết HĐND thành phố Đà Nẵng”. 
  12. ^ “Cổng TTĐT tỉnh Đắk Lắk”.