Hoàng thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thứ bậc Hoàng tộc, Quý tộc và Hiệp sĩ
Mũ miện của Bá tước
Hoàng đế & Hoàng hậu
Nữ hoàng & Hoàng tế
Thái hoàng thái hậu
Hoàng thái hậu / Thái thượng hoàng hậu
Đại vương đại phi
Vương đại phi / Đại phi
Quốc vương & Vương hậu
Nữ vương & Vương phu
Vương phi
Thái tử & Thái tử phi
Thế tử & Thế tử tần
Công chúa & Phò mã
Đại Thân vương & Đại Vương phi
Đại Công tước & Đại Công tước phu nhân
Thân vươngVương phi
Phó vương & Phó vương phi
Công tước & Công tước phu nhân
Hầu tước & Hầu tước phu nhân
Bá tước & Bá tước phu nhân
Tử tước & Tử tước phu nhân
Nam tước & Nam tước phu nhân
Tòng nam tước & Tòng nam tước phu nhân
Hiệp sĩ & Nữ Tước sĩ

Hoàng thái hậu (chữ Hán: 皇太后; Kana: こうたいごうKōtaigō; Hangul: 황태후Hwang Tae Hu; tiếng Anh: Dowager Empress, Empress Dowager hay Empress Mother), thường được gọi tắt là Thái hậu (太后), là một tước vị được quy định dành cho mẹ của Hoàng đế trong các khối đồng văn Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn QuốcViệt Nam.

Về ý nghĩa chuẩn thực sự, danh hiệu này được Hoàng đế đang tại vị tấn tôn cho người vốn là Hoàng hậu của Hoàng đế tiền nhiệm. Vào thời kì đầu như nhà Hán, các sinh mẫu của Hoàng đế kế nhiệm vốn là Hoàng hậu từ trước, do vậy việc tấn tôn theo đó tiến hành quy củ, chỉ có người từng là Hoàng hậu mới có tư cách tấn tôn Hoàng thái hậu.

Dần về sau, như nhà Đườngnhà Tống, lại có hiện tượng Hoàng hậu là Đích mẫu tức là mẹ cả của Hoàng đế đang tại vị, còn sinh mẫu tức là mẹ ruột vốn chỉ là phi tần. Vào lúc này, danh vị Hoàng thái hậu gần như chỉ dành cho Đích mẫu trong trường hợp tồn tại cả hai người, nếu Đích mẫu đã mất thì mới có thể tấn tôn sinh mẫu. Sang thời nhà Minhnhà Thanh, sinh mẫu cũng có thể được đồng tấn tôn danh hiệu Hoàng thái hậu nhưng với những hạn chế đặc thù nhất định.

Chữ 「Thái; 太」, cũng giống chữ 「Đại; 大」, đều mang ý nghĩa to lớn, cộng thêm tư tưởng Lấy hiếu vị Thiên đã khiến địa vị của các Thái hậu rất đặc biệt trong triều đình của các quốc gia Đông Á, bao trùm và có khả năng ảnh hưởng đến Hoàng đế. Điều này đã khiến xuất hiện các hiện tượng Thái hậu chuyên quyền, lâm triều công khai nhiếp chính, có ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa và lịch sử, mà điển hình là Từ Hi thái hậu.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Khái luận về xuất xứ của danh xưng Thái hậu được đề cập trong Sự vật khởi nguyên (事物紀原) của Cao Thừa (高承) thời nhà Tống:「"Sử ký - Tần bản kỷ viết: Chiêu vương mẫu Mị thị, hiệu Tuyên Thái hậu. Từ đó Vương mẫu đều gọi như vậy"; 《史記秦本紀》曰:昭王母羋氏,號宣太后。王母於是始以為稱。」

Theo đó, thời Tiên Tần, khi Tần Chiêu Tương vương tôn sinh mẫu là Mị thị làm Tuyên Thái hậu, thì khi đó mới có danh vị Thái hậu dùng để gọi mẹ của quân vương. Về sau, Triệu Hiếu Thành vương cũng theo cách của nhà Tần, tôn xưng sinh mẫu là Hiếu Uy Thái hậu.

Vào thời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng quy định danh vị Hoàng đế, thì sinh mẫu của Hoàng đế gọi là Hoàng thái hậu. Song sinh mẫu của Tần Thủy HoàngTriệu Cơ khi ấy qua đời trước khi ông xưng Đế, và Tần Thủy Hoàng chỉ có thể truy tôn bà làm Đế Thái hậu (帝太后). Từ thời nhà Hán, tôn vị quy định của Hoàng thái hậu rất chặt chẽ và người đầu tiên trở thành Hoàng thái hậu khi còn sống là Lữ hậu, Hoàng hậu của Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Chế độ[sửa | sửa mã nguồn]

Tấn tôn[sửa | sửa mã nguồn]

Khi sách phong cho một Hoàng thái hậu, đó gọi là 「Tấn tôn; 晉尊」, có Sách bảo (册宝) do chính Hoàng đế dẫn đầu bá quan văn võ đến dâng tiến trong đại lễ tấn tôn, quy định về tấn tôn Hoàng thái hậu cũng là một trong những đại lễ lớn nhất trong bất kì sách điển của bất kì triều đại theo hướng Đông Á nào (thời Hậu LêLịch triều hiến chương loại chí, thời nhà NguyễnKhâm định Đại Nam hội điển sự lệ).

Qua các triều đại, có rất nhiều trường hợp được phong Hoàng thái hậu. Tuy nhiên thông thường đều chia ra các quy định chính:

Vào lúc này, nếu sinh mẫu của Hoàng đế còn sống thì tôn làm Hoàng thái hậu, nếu không còn sống thì tôn người mẹ kế tức Hoàng hậu kế tiếp của Hoàng khảo Tiên đế làm Hoàng thái hậu. Một số phi tần từng nhận phủ dưỡng Hoàng đế được tôn Hoàng thái phi hoặc thậm chí là Hoàng thái hậu (như trường hợp Dương Thục phi thời nhà Tống, hay Khang Từ Hoàng thái hậu thời nhà Thanh).
Vào lúc này, Hoàng đế sẽ tấn tôn sinh mẫu làm Hoàng thái phi, còn Đích mẫu làm Hoàng thái hậu. Nếu Đích mẫu đã qua đời, thì vị sinh mẫu đó mới có thể trở thành Hoàng thái hậu (như Tiêu Thái hậu, Vương Thái hậuTrịnh Thái hậu thời nhà Đường; Linh Nhân Thái hậu thời nhà Lý). Về sau, nhà Minhnhà Thanh quy định rõ hơn: sinh mẫu có thể được cùng tôn làm Hoàng thái hậu nhưng có những quy chế về tôn xưng huy hiệu để phân biệt với Đích Thái hậuĐế mẫu. Theo đó, nhà Minh ban đầu quy định chỉ có Đích Thái hậu mới có tôn hiệu (giữa Thượng Thánh Tôn Thái hậuNgô Thái hậu thời Minh Đại Tông), về sau chỉ đơn giản là tôn hiệu khác biệt (giữa Nhân Thánh Trần Thái hậuTừ Thánh Lý Thái hậu thời Minh Thần Tông). Nhà Thanh ban đầu cũng như vậy mà noi theo, tấn tôn Đích mẫu là Nhân Hiến Hoàng thái hậu và sinh mẫu là Từ Hòa Hoàng thái hậu. Sau đó dưới thời Từ An Hoàng thái hậuTừ Hi Hoàng thái hậu mới lập nên Mẫu hậu Hoàng thái hậuThánh mẫu Hoàng thái hậu đặc thù.
Trường hợp đồng tôn như thế này từng xảy ra cuối thời nhà Nguyễn, giữa Phụ Thiên Thuần hoàng hậuHựu Thiên Thuần hoàng hậu thời Khải Định, nhưng vốn Phụ Thiên Thuần hoàng hậu là Đích mẫu, nên tấn tôn Hoàng thái hậu trước, còn Hựu Thiên Thuần hoàng hậu chỉ là Hoàng thái phi, chừng 8 năm sau đó thì mới chính thức đồng tôn với danh hiệu khác biệt là Khôn Nguyên Hoàng thái hậuKhôn Nghi Hoàng thái hậu.
  • Hoàng đế cùng vai vế với Tiên đế: tức là Hoàng đế kế vị có vai vế là anh/em trai hay thậm chí là chú/ bác với Hoàng đế tiền nhiệm.
Vào lúc này, Hoàng đế kế nhiệm sẽ dựa theo thứ bậc mà tấn tôn sinh mẫu làm Hoàng thái hậu, còn vị Hoàng hậu của Tiên đế (nếu có) thì không thể tấn tôn làm Hoàng thái hậu mà được gia tôn thêm mỹ hiệu, được lấy từ thụy hiệu hay niên hiệu của Tiên đế (như Khai Bảo hoàng hậu thời nhà Tống), hay nơi vị Hoàng hậu ấy đang ở (như Khiêm hoàng hậu thời nhà Nguyễn), hoặc là 2 từ mỹ hiệu do đích thân Hoàng đế kế nhiệm thảo luận và tấn tôn (như Ý An hoàng hậu thời nhà Minh; Gia Thuận hoàng hậu thời nhà Thanh).
  • Hoàng đế từ dòng bên nhập tự: tức là Hoàng đế kế nhiệm có cha là Hoàng tử, hoặc hoàng thân mà vốn là anh/em trai của Hoàng đế tiền nhiệm.
Vào lúc này, Hoàng đế kế nhiệm có nhiệm vụ tôn Hoàng hậu (hoặc dưỡng mẫu phi) của Hoàng đế tiền nhiệm làm Hoàng thái hậu, chứng nhận việc nhập tự, do đó về căn bản không thể tấn tôn sinh mẫu vì Hoàng đế đã trở thành con của Hoàng đế tiền nhiệm về mặt pháp lý rồi. Điều này xảy ra rất nhiều, như Hán Tuyên Đế (nhận Hiếu Chiêu Thượng Quan hoàng hậu); Hán Ai Đế (nhận Triệu Phi Yến); Thanh Đức Tông (nhận Từ An Hoàng thái hậuTừ Hi Hoàng thái hậu); Nguyễn Cung TôngNguyễn Cảnh Tông (nhận Trang Ý Hoàng thái hậu).

Tại Nhật Bản, thời Thiên hoàng Daigo trở về trước, danh hiệu Hoàng thái hậu thường nhất định chỉ dùng cho Hoàng hậu của Thiên Hoàng, hoặc là chuẩn mẫu của Thiên Hoàng kế nhiệm (như Anh Chiếu Hoàng thái hậu, chuẩn mẫu của Thiên hoàng Minh Trị). Những sinh mẫu của Thiên Hoàng không phải là Hoàng hậu hoặc chỉ là xuất thân bình dân thì đều chỉ có thể tấn tôn danh vị là 「Hoàng thái phi; 皇太妃」 và 「Hoàng Thái phu nhân; 皇太夫人」.

Tuy nhiên, sau khi Thiên hoàng Daigo đăng vị, dưỡng mẫu của ông là Đằng Nguyên Ôn Tử (藤原温子) được nhậm Trung cung chức, tuy chỉ được tôn làm Hoàng thái phu nhân, nhưng thực chất địa vị của bà khi đó đã ngang với Hoàng thái hậu. Từ đó về sau, kể cả sinh mẫu của Thiên Hoàng vốn không phải Hoàng hậu khi trước cũng đều có thể trở thành Hoàng thái hậu. Dẫu vậy, hoàng thất Nhật Bản vẫn khắc khe với sinh mẫu của Thiên Hoàng ở địa vị thấp, thậm chí không thể tấn tôn mà chỉ dùng biệt đãi, như sinh mẫu của Thiên hoàng Minh Trị là Tòng nhất vị Nakayama Yoshiko.

Trong hoàng thất Nhật Bản không chuộng định huy hiệu, nên khi xảy ra trường hợp cần phải đồng tôn thì luôn có những điểm dị thường để tránh trùng lặp. Ví dụ là thời kì Thiên hoàng Montoku, sinh mẫu của ông Đằng Nguyên Thuận Tử (藤原順子) vốn là Hoàng hậu của Thiên hoàng Ninmyō và là Đế mẫu, hoàn toàn xứng đáng được tôn Hoàng thái hậu. Nhưng khi đó trong cung đã có Thái hoàng thái hậu Quất Gia Trí Tử (橘嘉智子) và Hoàng thái hậu Chính Tử Nội thân vương (正子內親王), nên Đằng Nguyên Thuận Tử chỉ có thể được tôn làm Hoàng thái phu nhân. Sau khi Thái hoàng thái hậu Quất Gia Trí Tử qua đời, Thiên hoàng Montoku mới ở năm Tề Hành nguyên niên (854) tiến hành tấn tôn Hoàng thái hậu Chính Tử Nội thân vương làm Thái hoàng thái hậu, đưa sinh mẫu Đằng Nguyên Thuận Tử chính thức nhận danh hiệu Hoàng thái hậu.

Lâm triều xưng chế[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Hoàng đế còn quá nhỏ tuổi, người mẹ của vị Hoàng đế ấy thường sẽ có quyền nhiếp chính trong một khoảng thời gian nhất định đến khi Hoàng đế đến tuổi trưởng thành. Hiện tượng mẹ của quân chủ nhiếp chính bắt đầu từ khi Tuyên Thái hậu Mị Bát Tử, sinh mẫu của Tần Chiêu Tương vương, người được tôn làm Thái hậu và tham gia triều chính, mở đầu hiện tượng Thái hậu chuyên quyền trong suốt chiều dài lịch sử các quốc gia Đông Á.

Sang thời nhà Hán, Lữ Thái hậu nhân lúc Hán Huệ Đế bạo bệnh, chính thức lâm triều, ra chiếu chỉ tự xưng mình là "Chế" (制), mở đầu cho một hiện tượng mà các sử gia gọi là Lâm triều xưng chế (临朝称制) của các vị Hoàng thái hậu. Vào thời điểm đó, các Thái hậu có thể lên triều nghị chính một cách công khai như các vị Hoàng đế quân chủ.

Vốn dĩ, "Lâm triều" ý là xử lý quốc chính, tương đương Thiên tử lâm triều, còn "xưng chế" là tiến hành quyền quản lý quốc chính như Thiên tử. Trong Hậu Hán thư, cuốn thứ 3 - "Túc Tông Hiếu Chương hoàng đế bản kỷ", có ghi lại rằng:「Đế thân xưng chế lâm quyết, như Hiếu Tuyên Cam Lộ Thạch Cừ cố sự, tác Bạch Hổ nghị tấu; 帝親稱制臨決,如孝宣甘露石渠故事,作白虎議奏。」. Như vậy, Lâm triều tức là đăng vị giải quyết quốc xự, mà hậu phi cung tần vốn dĩ không có quyền tham chính, nếu như có quyền đó, thì tức là "xưng Chế", hàm ý hành xử đều tương đương quyền lực của Hoàng đế.

Đến thời của Võ Tắc Thiên, bà thường hay ngồi sau một bức mành (liêm tử; 帘子) để nghe triều thần nghị luận việc nước sau lưng Đường Cao Tông, thì mới khai sinh ra một khái niệm gọi là Thùy liêm thính chánh (垂帘听政), còn gọi là "Buông rèm nghe chính", nghĩa là ngồi sau bức mành mà nghe chính sự. Điều này có ghi trong Cựu Đường thư:

Từ đó, các đời Hoàng thái hậu hoặc Hoàng hậu, nữ quyến nhiếp chính đều ngồi sau bức mành nghe việc, làm cho cụm từ "Thùy liêm thính chánh" từ đó ám chỉ việc phụ nữ tham dự triều chính. Theo quy chế thời Bắc Tống, nghi thức của Thái hậu nhiếp chính đều tương tự Hoàng đế[1], Thái hậu hạ thánh chỉ thì tự xưng là 「; 予」, trên triều đường thì tự xưng 「Ngô; 吾」, mà không thể tự xưng từ chỉ chuyên dùng cho Hoàng đế là 「Trẫm; 朕」.

Nho gia Tuân Tử, đem nữ chủ, trá thần, tham lại xưng là 「Tam loạn; 三亂」[2], do đó ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về sau của việc nữ chủ tham gia chính sự, điển hình là từ thời Nam Tống, đã lấy Tân Nho học của Chu Hi vốn chịu ảnh hưởng từ lý thuyết của Tuân Tử để phán ánh gay gắt việc nữ chủ lâm triều và độc bá triều cương. Các triều đại về sau dần hạn chế việc cho phép Thái hậu tham gia chính sự, khi các Hoàng đế còn nhỏ thì các hội đồng nhiếp chính lập ra đều có Thân vương và quan đại thần đứng đầu phụ chính, điển hình như chế độ của nhà Minhnhà Thanh.

Các trường hợp khác[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Tây Hán, các Hoàng tử đều có đất phong và nhận tước Vương, thì sinh mẫu của các Hoàng tử đó được gọi là Vương quốc Thái hậu (王國太后), như Bạc Cơ từng là 「Đại Thái hậu; 代太后」 khi con trai bà là Hán Văn Đế Lưu Hằng được phong làm 「Đại vương; 代王」. Sang thời Đông Hán, danh hiệu "Vương quốc Thái hậu" được thay thế bằng phong vị Vương quốc Thái phi (王國太妃), và từ đó danh hiệu "Thái hậu" chỉ dùng để gọi sinh mẫu các Hoàng đế.

Vào lúc Hán Huệ Đế băng, Hoàng thái hậu Lữ Trĩ lập Hán Tiền Thiếu Đế Lưu Cung kế vị. Vào lúc đó, tuy Hiếu Huệ Trương hoàng hậu là sinh mẫu của Tân đế nhưng vẫn giữ danh vị Hoàng hậu mà không phải Hoàng thái hậu. Từ đó cũng là trường hợp Đế mẫu hiếm hoi không được tấn tôn Hoàng thái hậu trong lịch sử.

Thời Hán Ai Đế Lưu Hân, do Hán Ai Đế là nhận Hán Thành Đế làm hoàng phụ, trở thành Thái tử, nên khi lên ngôi ông nhận Đích tổ mẫu là Vương Chính Quân làm Thái hoàng thái hậuHoàng hậu Triệu thị của Hán Thành Đế làm Hoàng thái hậu. Nhưng ông vẫn tôn kính sinh mẫu Đinh Cơ và tổ mẫu là Phó Thái hậu, luôn tìm cách nâng địa vị của họ. Thời kì này vẫn chưa có hệ thống huy hiệu hoàn chỉnh, do vậy Hán Ai Đế đã liên tiếp nghĩ ra nhiều dị thể từ danh hiệu Hoàng hậu và Hoàng thái hậu vốn có, và cuối cùng tạo nên một thời kì mà trong cung có một lúc 4 vị Thái hậu với những danh hiệu chưa từng có:

  • Hoàng thái hậu Vương Chính Quân là 「Thái hoàng thái hậu; 太皇太后」;
  • Thành Đế hoàng hậu Triệu Phi Yến trở thành 「Hoàng thái hậu; 皇太后」;
  • Tổ mẫu Phó thị được tôn làm 「Cung Hoàng thái hậu; 恭皇太后」; sau là 「Đế thái thái hậu; 帝太太后」 rồi 「Hoàng thái thái hậu; 皇太太后」;
  • Sinh mẫu Đinh Cơ được tôn làm 「Cung Hoàng hậu; 恭皇后」, rồi là 「Đế thái hậu; 帝太后」;

Suốt thời Ngũ Hồ Thập lục quốc, nhiều quốc gia xưng Vương và họ tôn mẹ mình làm Vương thái hậu. Thời Bắc Ngụy, các vị Hoàng đế ngoài vị Hoàng thái hậu là Đích mẫu (do quy định Tử quý mẫu tử nên sinh mẫu đều bị xử tử), thì người nhũ mẫu chăm sóc các vị Hoàng đế từ bé cũng được hiển quý, gọi là 「Bảo Thái hậu; 保太后」.

Thời Hậu Đường, Hậu Đường Trang Tông có Đích mẫu là Lưu thị, nhưng lại bất chấp lễ pháp, tấn tôn sinh mẫu Tào thị làm Hoàng thái hậu, còn Lưu thị chỉ là Hoàng thái phi. Đây là trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử khi thứ bậc đích-thứ lẫn lộn đến cực điểm.

Thời nhà Liêu, Thừa Thiên Thái hậu vốn là em gái Liêu Nhân Tông. Khi Liêu Nhân Tông băng, con trai kế vị còn nhỏ, do đó trong di chiếu mệnh em gái có quyền nhiếp chính, xưng Thừa Thiên Thái hậu. Đó là vị Thái hậu duy nhất trong lịch sử Trung Quốc không phải mẹ của Hoàng đế, mà là cô của Hoàng đế.

Trong lịch sử Nhật Bản, thời Thiên hoàng Go-Reizei, trong cung lập 1 lúc 3 vị chính phối, là Hoàng hậu Đằng Nguyên Hoan Tử (藤原歡子), Trung cung Đằng Nguyên Khoan Tử (藤原寬子) còn có Chương Tử Nội thân vương (章子內親王), được sắc phong danh hiệu Hoàng thái hậu. Đây trở thành trường hợp cực hiếm trong lịch sử khi danh vị Hoàng thái hậu lại phong cho một chính thất của Thiên Hoàng.

Chuyển nghĩa từ phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

tiếng Anh, cụm từ Empress DowagerEmpress Mother đều có thể dịch tương đương với Hoàng thái hậu. Riêng từ Queen Dowager hay Queen Mother chỉ có thể được dịch là Vương thái hậu.

Trong văn hóa phương Tây, Hoàng thái hậu chỉ đơn giản là Hoàng hậu của Hoàng đế tiền nhiệm, họ là một cựu Hoàng hậu hoặc là sinh mẫu của Hoàng đế kế nhiệm, do vậy không có sự tấn tôn, mà chỉ có địa vị trong gia đình hoàng thất rất cao. Một điều rằng các Empress Dowager nhất định phải từng là Hoàng hậu (Empress consort), nếu chỉ là Đế mẫu (chưa từng làm Hoàng hậu) thì chỉ có tôn xưng kính nể, chứ không có danh hiệu, như sinh mẫu của Hoàng đế Napoleon I của Đế quốc PhápLetizia Ramolino được tôn xưng là 「Madame Mère de l'Empereur; Đức Hoàng mẫu bệ hạ」.

Thời Đế quốc Ottoman, sinh mẫu của một Sultan được tôn là 「Valide Sultan; والده سلطان‎」, đây là một danh hiệu có nghĩa là "Mẹ của Sultan" và chỉ được dành cho người mẹ đang còn sống của vị Sultan trị vì. Địa vị của một Valide Sultan rất lớn không chỉ trong hậu cung của Sultan mà thậm chí là nền chính trị của toàn đế quốc. Thời kỳ cuối cùng của Đế quốc Ottoman diễn ra dưới sự nhiếp chính của các Valide Sultan, khi các Sultan còn quá nhỏ, thì Valide Sultan đã dùng danh nghĩa nhiếp chính thao túng toàn diện nền chính trị.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hàn Quốc, nhà Cao Ly vẫn có ý ngang hàng với Trung Hoa khi ấy là nhà Tống, họ tôn các mẹ của Quân vương là 「Vương thái hậu; 王太后」 như điển chế cổ. Sang đó nhà Triều Tiên xưng làm Quốc vương, và nhận làm chư hầu nhà Minh, nên mẹ của Quốc vương nhà Triều Tiên được gọi là Vương đại phi. Không giống như Trung Quốc, nhà Triều Tiên coi trọng đích-thứ, nếu Quốc vương kế vị là thứ xuất, thì sinh mẫu không thể tôn làm Vương đại phi, thậm chí cả truy phong cũng cấm, mà chỉ có thể duy trì phong hiệu cũ, hoặc gọi là 「Cung; 宮」.

Khi Đế quốc Đại Hàn thành lập, lịch sử Hàn Quốc mới xuất hiện một vị Hoàng thái hậu đầu tiên và duy nhất, đó là Kế phi của Triều Tiên Hiến TôngHiếu Định Thành hoàng hậu Nam Dương Hồng thị, khi tấn tôn được gọi là 「Minh Hiến Thái hậu; 明憲太后; 명헌태후」

Trong khi đó, lịch sử Việt Nam thời Lê Trung hưng, các Chúa Trịnh chưởng quyền lấn át các Hoàng đế họ Lê, đã đặt ra danh vị để tỏ ra ngang hàng với Hoàng thất. Các Chúa Trịnh tôn sinh mẫu là 「Vương thái phi; 王太妃」, tổ mẫu của chúa là 「Thái tôn thái phi; 太尊太妃」. Một vài vị Vương thái phi có công dưỡng đối với Hoàng đế nhà Lê, hoặc vì cả nể Chúa Trịnh, mà được tấn tôn với danh hiệu 「Quốc mẫu; 國母」 hay 「Quốc thái mẫu; 國太母」

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Hi Thái hậu - vị Nữ hoàng không ngai của Trung Quốc.
Đại Thắng Minh Hoàng Hậu Dương thị - vị Hoàng thái hậu đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.
Hương Thuần Hoàng thái hậu - vị Hoàng thái hậu gần nhất trong lịch sử Nhật Bản. Bà là sinh mẫu của Thiên hoàng Akihito.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lữ Thái hậu - chính thất của Hán Cao Tổ Lưu Bang và là Hoàng hậu đầu tiên của Trung Quốc. Sau làm Hoàng thái hậu nhiếp chính (195 TCN – 180 TCN) dưới thời Hán Huệ Đế, Hán Tiền Thiếu ĐếHán Hậu Thiếu Đế. Nổi tiếng trong lịch sử vì là người phụ nữ đầu tiên nắm giữ quyền lực tối cao của Trung Hoa trong một thời gian dài.
  2. Đậu Thái hậu - Hoàng hậu của Hán Văn Đế Lưu Hằng, sinh mẫu của Hán Cảnh Đế Lưu Khải, tổ mẫu của Hán Vũ Đế Lưu Triệt. Bà sống trong triều đại huy hoàng bậc nhất trong lịch sử nhà Hán. Có nhiều ý kiến quan trọng trong những năm đầu Hán Vũ Đế cai trị và lúc Văn Cảnh trị vị, góp phần xây dựng triều đại rực rỡ nhất trong lịch sử nhà Hán.
  3. Hiếu Nguyên Hoàng thái hậu - Hoàng hậu của Hán Nguyên Đế Lưu Thích, sinh mẫu của Hán Nguyên Đế Lưu Ngao. Bà là vị Thái hậu tuổi thọ cao bậc nhất trong lịch sử. Là cô ruột của đại thần Vương Mãng, người gián đoạn nhà Hán lập ra nhà Tân.
  4. Hòa Hi Đặng Thái hậu - Hoàng hậu của Hán Hòa Đế Lưu Triệu, trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính trong các đời sau. Bà được đánh giá là một nhà cai trị hiệu quả và đức hạnh, cùng với Minh Đức thái hậu trở thành biểu tượng của phụ nữ đức cao vọng trọng.
  5. Bắc Ngụy Phùng Thái hậu - Hoàng hậu của Bắc Ngụy Văn Thành Đế, nhiếp chính thời Bắc Ngụy Hiến Văn ĐếBắc Ngụy Hiếu Văn Đế. Bà là một chính trị gia lỗi lạc thời Nam Bắc triều, khiến Bắc Ngụy đi vào con đường Hán hóa mạnh mẽ.
  6. Tắc Thiên Thái hậu - Hoàng hậu của Đường Cao Tông Lý Trị, sinh mẫu của Đường Trung Tông Lý Hiển và Đường Duệ Tông Lý Đán, tổ mẫu của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ. Là vị Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc.
  7. Chương Hiến Lưu Thái hậu - Hoàng hậu của Tống Chân Tông Triệu Hằng, nhiếp chính đời Tống Nhân Tông Triệu Trinh. Bà được đánh giá tài năng vượt trội, ngang hàng với Lữ hậuVõ hậu.
  8. Từ Thánh Tào Thái hậu - Hoàng hậu của Tống Nhân Tông Triệu Trinh, nhiếp chính thời Tống Anh Tông Triệu Thự và Tống Thần Tông Triệu Hú. Nổi tiếng nhân từ và đức độ, bà là người đầu tiên đứng đầu phái Cựu đảng, phản đối tân pháp của Vương An Thạch.
  9. Tuyên Nhân Cao Thái hậu - Hoàng hậu của Tống Anh Tông Triệu Thự, sinh mẫu của Tống Thần Tông Triệu Húc, tổ mẫu của Tống Triết Tông Triệu Hú. Được xưng là "Nữ trung Nghiêu Thuấn", bà là hình mẫu một Hoàng hậu hiền minh thời nhà Tống.
  10. Chiêu Thánh Thái hậu - phi tần của Hoàng Thái Cực, sinh mẫu của Thanh Thế Tổ Thuận Trị Đế, tổ mẫu của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế. Được tin là có quan hệ luyến ái với Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn.
  11. Từ Hi Thái hậu - phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế, sinh mẫu của Thanh Mục Tông Đồng Trị Đế. Nhiếp chính tiếp dưới thời Thanh Đức Tông Quang Tự Đế. Được xem là người phụ nữ có quyền lực và dã tâm lớn nhất nhà Thanh.
  12. Long Dụ Thái hậu - Hoàng hậu của Thanh Đức Tông Quang Tự Đế. Bà là Hoàng thái hậu cuối cùng của Trung Quốc.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đại Thắng Minh hoàng thái hậu Dương Vân Nga - Hoàng hậu (hoặc phi tần) của Đinh Tiên Hoàng, sinh mẫu của Đinh Phế Đế, sau đó làm Hoàng hậu của Lê Đại Hành, tổ mẫu của Lý Thái Tông.
  2. Thượng Dương cung Hoàng thái hậu - Hoàng hậu của Lý Thánh Tông, bị Linh Nhân Thái hậu bức tử cùng 72 thị nữ.
  3. Linh Nhân hoàng thái hậu - phi tần của Lý Thánh Tông, sinh mẫu của Lý Nhân Tông. Hai lần lâm triều nhiếp chính, can thiệp chính trị thời Lý Nhân Tông.
  4. Linh Chiếu Thái hậu - phi tần của Lý Thần Tông, sinh mẫu của Lý Anh Tông. Có quan hệ tình ái với phụ chính đại thần là Đỗ Anh Vũ, và Đỗ Anh Vũ đã giúp con trai bà Lý Anh Tông lên ngôi kế vị sau khi Lý Thần Tông qua đời.
  5. Kiến Gia hoàng thái hậu - Hoàng hậu của Lý Cao Tông, sinh mẫu của Lý Huệ Tông, tổ mẫu của Lý Chiêu Hoàng. Bà có vai trò quan trọng trong việc xen vào chính sự thời Lý Huệ Tông. Có quan hệ không tốt đẹp với Linh Từ quốc mẫu.
  6. Hiến Từ Thái hậu - Hoàng hậu của Trần Minh Tông, sinh mẫu của Trần Dụ Tông. Sử gọi là Nữ trung Nghiêu Thuấn, được đánh giá cao vì thân thế và đức hạnh. Bà có vai trò đưa Dương Nhật Lễ lên ngôi, sau đó bị giết chết trong cung.
  7. Tuyên Từ Thái hậu - phi tần của Lê Thái Tông, sinh mẫu của Lê Nhân Tông. Nhiếp chính trong vòng 10 năm dưới thời Lê Nhân Tông. Về sau cùng Lê Nhân Tông bị Lê Nghi Dân giết chết vì cung biến.
  8. Trường Lạc Thái hậu - phi tần của Lê Thánh Tông, sinh mẫu của Lê Hiến Tông, tổ mẫu của Lê Túc TôngLê Uy Mục. Có thuyết cho rằng bà là con gái của Nguyễn Trãi. Về sau bị cháu nội là Lê Uy Mục giết chết trong cung.
  9. Nhân Tuyên Thái hậu - phi tần của Nguyễn Thế Tổ Gia Long, sinh mẫu của Nguyễn Thánh Tổ Minh Mạng và là tổ mẫu của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị. Bà là một trong những Thái hậu thọ nhất Nhà Nguyễn.
  10. Từ Dụ Thái hậu - nguyên phối của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị, sinh mẫu của Nguyễn Dực Tông Tự Đức. Bà là vị Thái hậu thọ nhất và tại vị lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.
  11. Trang Ý Thái hậu - nguyên phối của Nguyễn Dực Tông Tự Đức, nuôi dạy Nguyễn Cung Tông Dục Đức.
  12. Đoan Huy Thái hậu - còn gọi Đức Từ Cung, là sinh mẫu của Bảo Đại. Bà là vị Hoàng thái hậu cuối cùng của lịch sử Việt Nam.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Quang Minh Hoàng thái hậu - Hoàng hậu của Thiên hoàng Shōmu, vị Hoàng thái hậu chính thức đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản.
  2. Đàn Lâm Hoàng thái hậu Quất Gia Trí Tử - Hoàng hậu của Thiên hoàng Saga.
  3. Thượng Đông Môn viện Đằng Nguyên Chương Tử - Hoàng hậu của Thiên hoàng Ichijō và là sinh mẫu của Thiên hoàng Go-IchijōThiên hoàng Go-Suzaku
  4. Kiến Xuân Môn viện Bình Tư Tử - phi tần của Thiên hoàng Go-Shirakawa và là sinh mẫu của Thiên hoàng Takakura.
  5. Tân Đãi Hiền Môn viện A Dã Liêm Tử - phi tần của Thiên hoàng Go-Daigo và là sinh mẫu của Thiên hoàng Go-Murakami.
  6. Thanh Khỉ Môn viện Nhị Điều Xá Tử - Nữ ngự của Thiên hoàng Sakuramachi và là sinh mẫu của Thiên hoàng Go-Sakuramachi.
  7. Cung Lễ Môn viện Nhất Điều Phú Tử - Nữ ngự của Thiên hoàng Momozono và là sinh mẫu của Thiên hoàng Go-Momozono.
  8. Hân Tử Nội thân vương - Trung cung của Thiên hoàng Kōkaku.
  9. Anh Chiếu Hoàng thái hậu - Nữ ngự của Thiên hoàng Kōmei và là chuẩn mẫu của Thiên hoàng Minh Trị.
  10. Chiêu Hiến Hoàng thái hậu - Hoàng hậu của Thiên hoàng Minh Trị.
  11. Trinh Minh Hoàng thái hậu - Hoàng hậu của Thiên hoàng Taishō và là sinh mẫu của Thiên hoàng Chiêu Hòa.
  12. Hương Thuần Hoàng thái hậu - Hoàng hậu của Thiên hoàng Chiêu Hòa và là sinh mẫu của Đương kim Thiên hoàng Akihito.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《宋史紀事本末》第24卷: 仁宗天聖元年五月庚寅,議皇太后儀衛,制同乘輿。
  2. ^ 《荀子‧強國》篇謂:「……女主亂之宮,詐臣亂之朝,貪吏亂之官。」