Hoa của quỷ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Flower of Evil
Áp phích quảng cáo
Tên gốc
Hangul악의 꽃
Thể loại
Sáng lậpMonster Union
Studio Dragon
Kịch bảnYoo Jung-hee
Đạo diễnKim Cheol-kyu
Diễn viên
Quốc gia Hàn Quốc
Ngôn ngữtiếng Hàn
Số tập16 (Hàn Quốc)
Sản xuất
Giám chếYoo Sang won
Nhà sản xuấtJung Hae-ryong

Jang Shin-ae

Kim Dae-ho
Biên tậpYoungjoo Kim
Thời lượng70 phút
Đơn vị sản xuấtMonster Union
Studio Dragon
Nhà phân phốitvN
Trình chiếu
Kênh trình chiếutvN
Định dạng hình ảnh1080i (HDTV)
Định dạng âm thanhDolby Digital
Phát sóng29 tháng 7 năm 2020 (2020-07-29) - 23 tháng 9 năm 2020
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

Hoa của quỷ (Tiếng Hàn악의 꽃; RomajaAkui Kkot; tên tiếng Anh: Flower of Evil) là một phim truyền hình Hàn Quốc với sự tham gia của Lee Joon-gi, Jang Hee-jin, Moon Chae-won và Seo Hyun-woo.[1][2][3] Bộ phim được phát sóng trên đài truyền hình tvN vào thứ Tư và thứ Năm hàng tuần lúc 22:50 (KST) bắt đầu từ ngày 29 tháng 7 cho đến tập cuối vào ngày 23 tháng 9 năm 2020.[4]

Tại Việt Nam, bộ phim được mua bản quyền công chiếu trên nền tảng dịch vụ xem phim trực tuyến FPT Play và được công chiếu phiên bản lồng tiếng với độ dài 27 tập lúc 20h từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần từ ngày 06 tháng 12 năm 2022 đến ngày 08 tháng 1 năm 2023 trên kênh truyền hình TodayTV. Lee Joon-giMoon Chae-won trước đây đã đóng vai chính trong bộ phim Hành vi phạm tội, và đây cũng là lần trở lại màn ảnh truyền hình của Lee Joon-gi sau hai năm.[5]

Tóm tắt[sửa | sửa mã nguồn]

Baek Hee sung (Lee Joon-gi) là một người đàn ông đã che giấu thân phận và quá khứ của mình với người vợ là Cha Ji won (Moon Chae-won), một cảnh sát. Bề ngoài, họ có vẻ là một gia đình hoàn hảo: một cặp vợ chồng yêu thương nhau cùng với một cô con gái xinh đẹp và luôn hiếu thuận với cha mẹ. Cha Ji Won và các đồng nghiệp của cô bắt đầu điều tra một loạt vụ giết người không lời giải thích và phải đối mặt với thực tế rằng dường người chồng hoàn hảo của cô đang che giấu một điều gì đó với cô.[6]

Câu chuyện xoay quanh Do Hyun Soo (Lee Joon-gi), con trai của kẻ giết người hàng loạt, Do Min Seok, (Choi Byung Mo), ông được cho rằng đã tự sát trước khi bị cảnh sát bắt. Dân làng nghĩ rằng con trai của ông, Do Hyun Soo là người đã hỗ trợ cho cha mình trong các vụ án giết người hàng loạt, chính vì vậy khi trưởng làng được phát hiện đã chết, Do Hyun Soo được xem là thủ phạm của vụ án. Điều này khiến anh và chị gái của mình, Do Hae Su, phải chạy trốn khỏi thị trấn và bị chia cắt kể từ đó.

Nhiều năm trôi qua, Do Hyun Soo hiện đang dùng danh tính giả của mình là Baek Hee Sung, anh đã kết hôn với Cha Ji Won và họ đã cùng có với nhau một cô con gái. Anh đã che giấu quá khứ của mình với vợ mặc dù vợ anh chính là một cảnh sát. Mọi chuyện trở nên rắc rối khi một vụ án giết người được cho rằng giống với vụ giết người hàng loạt do Do Min Seok thực hiện 18 năm trước xảy ra. Cha Ji Won sau đó đã nhanh chóng điều tra ra được danh tính thật của chồng, nhưng cô lại giấu Do Hyun Soo và không cho đồng nghiệp biết. Do Hyun Soo được cho rằng bị mắc chứng rối loạn cảm xúc phức tạp, anh nghĩ rằng mình không có khả năng cảm nhận được tình cảm, nhưng những cảm xúc anh chia sẻ với vợ dường như là thật.

Thông qua các cuộc điều tra sâu hơn và diễn biến cốt truyện, sự thật được tiết lộ rằng Do Hyun Soo không phải là kẻ giết trưởng làng khi đó cũng như không liên quan đến vụ án giết người bây giờ. Bằng chứng về việc Do Min Seok có đồng phạm được tiết lộ, dẫn đến việc phát hiện ra một tổ chức buôn người liên quan đến những vụ giết người hàng loạt. Do Hyun Soo sau đó đã có tìm ra kẻ đồng phạm để giải oan cho bản thân mặc dù thân phận của anh đã được bại lộ.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Vai chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lee Joon-gi vai Baek Hee-sung / Do Hyun-soo.[7]
    • Park Hyun-joon vai young Do Hyun-soo lúc trẻ.
    • Cha Sung-je vai Hyun-soo năm 10 tuổi.
  • Moon Chae-won vai Cha Ji-won, vợ của Huyn-soo.[8]
  • Jang Hee-jin vai Do Hae-soo, chị gái của Hyun-soo.[9]
    • Lim Na-young vai Hae-soo lúc trẻ.[10]
    • Lee Chae-yoon vai Hae-soo năm 11 tuổi.
  • Seo Hyun-woo vai Kim Moo-jin.[11]
    • Jeong Taek-hyun vai young Moo-jin lúc trẻ.[12]

Vai phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Baek Hee-sung và Cha Ji-won[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jung Seo-yeon vai Baek Eun-ha, con gái của Hee-sung và Ji-won[13]
  • Son Jong-hak vai Baek Man-woo, cha của Hee-sung[14]
  • Nam Gi-ae vai Gong Mi-ja, mẹ của Hee-sung[15]
  • Jo Kyung-sook vai Moon Young-ok, mẹ của Ji-won[16]

Sở cảnh sát Kangsoo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Choi Dae-hoon vai Lee Woo-cheol, lãnh đạo Đội Điều tra Án mạng[15]
  • Choi Young-joon vai Choi Jae-sub, thám tử kỳ cựu[15]
  • Kim Soo Oh vai Im Ho-joon, thành viên nhỏ tuổi nhất đội[15]
  • Lim Chul-hyung vai Yoon Sang-pil, trưởng bộ phận[15]
  • Hong Seo-joon vai Oh Young-joon, đội trưởng cảnh sát

Tạp chí Hanjoogan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yang Hye-jin vai Gang Pil-young, phóng viên chính[15]
  • Ju Ye-eun vai ký giả Joo

Các nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Choi Byung-mo vai Do Min-seok, bố của Hae-soo và Hyun-soo.
  • Kim Ji-hoon vai Baek Hee-sung.
    • Choi Kwon-soo trong vai Hee-sung lúc trẻ
  • Lee Kyu-bok vai Nam Soon-gil.
  • Kim Geon vai Kim In-seo.
  • Lee Yun Seol vai Park Seo-young.
  • Han Soo-yeon vai Jung Mi-sook.
  • Yoon Byung-hee vai Park Kyung-choon, tài xế taxi và chồng của Jung Mi-sook.
  • Park Seung-tae vai Oh Bok-ja.
  • Kim Ki-cheon vai Dr. Lee Hyun-suk.

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phần 1[sửa | sửa mã nguồn]

Phát hành ngày 6 tháng 8 năm 2020 (2020-08-06)
STTTựa đềPhổ lờiPhổ nhạcNghệ sĩThời lượng
1."Psycho"DOKO, Son Jae-minDOKO, Son Jae-minDOKO3:07
2."Psycho" (Inst.) DOKO, Son Jae-min 3:07
Tổng thời lượng:6:14

Phần 2[sửa | sửa mã nguồn]

Phát hành ngày 19 tháng 8 năm 2020 (2020-08-19)
STTTựa đềPhổ lờiPhổ nhạcNghệ sĩThời lượng
1."In My Heart"Kim MinKim MinLim Yeon3:49
2."In My Heart" (Inst.) Kim Min 3:49
Tổng thời lượng:7:38

Phần 3[sửa | sửa mã nguồn]

Phát hành ngày 3 tháng 9 năm 2020 (2020-09-03)
STTTựa đềPhổ lờiPhổ nhạcNghệ sĩThời lượng
1."Feel You"Kim MinKim Min, TaylorShin Yong-jae (2F)03:28
2."Feel You" (Inst.) Kim Min, Taylor 03:28
Tổng thời lượng:6:56

Tỷ lệ người xem[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa của quỷ : Người xem Hàn Quốc theo mỗi tập (ngàn)
MùaSố tậpTrung bình
12345678910111213141516
180664075291275279793293780385188712121092121012121349947
Nguồn: Thống kê lượng người xem được đo lường và đánh giá bởi Nielsen Media Research.[17]
Xếp hạng lượng người xem truyền hình trung bình
Tập Ngày phát sóng Tỷ lệ người xem trung bình
AGB Nielsen[18]
Toàn quốc Seoul
1 29 tháng 7 năm 2020 3.357% 4.248%
2 30 tháng 7 năm 2020 2.860% 3.155%
3 5 tháng 8 năm 2020 3.116% 3.570%
4 6 tháng 8 năm 2020 3.735% 4.357%
5 12 tháng 8 năm 2020 2.973% 3.060%
6 13 tháng 8 năm 2020 3.615% 4.030%
7 19 tháng 8 năm 2020 3.526% 4.030%
8 20 tháng 8 năm 2020 3.863% 4.358%
9 26 tháng 8 năm 2020 3.539% 4.142%
10 27 tháng 8 năm 2020 3.659% 4.701%
11 2 tháng 9 năm 2020 3.844% 4.250%
12 9 tháng 9 năm 2020 4.729% 5.234%
13 10 tháng 9 năm 2020 4.456% 4.853%
14 16 tháng 9 năm 2020 4.767% 5.246%
15 17 tháng 9 năm 2020 5.083% 5.536%
16 23 tháng 9 năm 2020 5.715% 6.639%
Trung bình 3.927% 4.463%
Tập đặc biệt 3 tháng 9 năm 2020 2.342% 2.797%
  • Trong bảng trên đây, số màu xanh biểu thị cho tỷ lệ người xem thấp nhất và số màu đỏ biểu thị cho tỷ lệ người xem cao nhất.
  • Bộ phim này được phát sóng trên hệ thống các kênh truyền hình cáp/trả phí nên số lượng người xem thấp hơn so với truyền hình miễn phí (ví dụ như KBS, SBS, MBC hay EBS).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lee, Ge-eun (ngày 14 tháng 1 năm 2020). “이준기X문채원, tvN '악의 꽃' 출연 확정...부부로 호흡[공식]”. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  2. ^ Song, Seung-jin (ngày 18 tháng 5 năm 2020). “장희진, 드라마 '악의 꽃' 출연 확정”. Sunday Seoul (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  3. ^ Choi, Jin-sil (ngày 19 tháng 5 năm 2020). “서현우, '악의 꽃' 주연 합류…'믿보배'가 온다”. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ Tháng 10 3, 2020. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  4. ^ Lee, Su-ji (ngày 3 tháng 7 năm 2020). “문채원·이준기 '악의 꽃', 1주일 미룬 29일 첫 방”. newsis (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2020.
  5. ^ {{chú thích. web|url=https://channels.vlive.tv/BF37FF/celeb/1.12591057%7Ctitle=Lee Joon Gi comes back to small screen with "The Flower of Evil" after 2 years of absence|date=ngày 15 tháng 1 năm 2020|website=My Daily}}
  6. ^ “Hoa Của Quỷ (Flower of Evil)”. KBS World. Truy cập 10 tháng 8 năm 2020.
  7. ^ Lee, Ge-eun. “이준기X문채원, tvN '악의 꽃' 출연 확정...부부로 호흡[공식]”. Sports Seoul. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  8. ^ “이준기X문채원, tvN '악의 꽃' 출연 확정...부부로 호흡[공식]”. Sports Seoul. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  9. ^ “장희진, 드라마 '악의 꽃' 출연 확정”. Sunday Seoul. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  10. ^ “임나영, 이준기X문채원 ´악의 꽃´ 출연”. Ilgan Sports. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  11. ^ “서현우, '악의 꽃' 주연 합류…'믿보배'가 온다”. http://www.sportsseoul.com/news/read/917464. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020. Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)
  12. ^ “정택현, tvN 새 수목 드라마 '악의 꽃' 캐스팅”. Sports Donga. ngày 22 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  13. ^ Jo, Yoo-kyung (ngày 5 tháng 6 năm 2020). '샤이니 키 뮤즈' 주예은, tvN '악의 꽃' 캐스팅…주간지 기자 역할”. Sports Donga (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  14. ^ Yoon, Yong-seop (ngày 30 tháng 5 năm 2020). “[드라마] 배우 손종학, tvN 새 수목드라마 `악의꽃` 신스틸러 활약”. Yeongnam (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  15. ^ a b c d e f “악의 꽃 | 인물 소개”. tvN (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
  16. ^ Kim, Hee-seo (ngày 21 tháng 5 năm 2020). “조경숙, tvN 새 드라마 '악의 꽃' 문채원 엄마役 출연 확정 [공식]”. The Celuv (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2020.
  17. ^ “Nielsen Korea”. AGB Nielsen Media Research (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  18. ^ “Nielsen Korea”. AGB Nielsen Media Research (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]