Hoa hậu Hoàn vũ 2014

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hoa hậu Hoàn vũ 2014
Paulina Vega en la XXXVI versión de la Caminata de la Solidaridad por Colombia .jpg
Paulina Vega, Hoa hậu Hoàn vũ 2014
Ngày25 tháng 01 năm 2015
Dẫn chương trình
Giải trí
Địa điểmFIU Arena, Miami, Florida, Hoa Kỳ
Truyền thông
Tham dự88
Số lượng xếp hạng15
Bỏ cuộc
Trở lại
Người chiến thắngPaulina Vega
 Colombia
Hoa hậu thân thiệnQueen Celestine
 Nigeria
Hoa hậu ảnhGabriela Berrios
 Puerto Rico

Hoa hậu Hoàn vũ 2014 là cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ lần thứ 63 diễn ra vào ngày 25 tháng 01 năm 2015 tại FIU Arena ở Miami, Florida, Hoa Kỳ. Người chiến thắng của cuộc thi là Paulina Vega, đại diện của đất nước Colombia[1] được trao vương miện bởi Hoa hậu Hoàn vũ 2013 Gabriela Isler đến từ Venezuela.

Cuộc thi có tổng cộng 88 thí sinh tranh tài cuộc thi. Năm nay, một vương miện mới đã được sản xuất bởi Diamonds International Corporation, nhà tài trợ trang sức chính thức mới nhất của Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ. Đây là cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ cuối cùng được phát sóng trên NBC và là ấn bản cuối cùng mà Donald Trump đã từng là chủ sở hữu.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

FIU Arena, địa điểm chính thức diễn ra cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2014.
Các quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2014 và kết quả

Thứ hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả Thí sinh
Hoa hậu Hoàn vũ 2014
Á hậu 1
Á hậu 2
Á hậu 3
Á hậu 4
Top 10
Top 15

Các giải thưởng đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục truyền thống đẹp nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả Thí sinh
Chiến thắng
Top 5

Các giải thưởng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Thí sinh
Hoa hậu Thân thiện
Hoa hậu Ảnh

Nhạc nền[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giới thiệu: "Uptown Funk" của Mark Ronson, Bruno Mars
  • Mở màn cuộc thi: "Lalinea Mix" của LALINEA band (hát trực tiếp)
  • Phần thi áo tắm: "Darte un Beso" và "Stuck on a Feeling" của Prince Royce (hát trực tiếp)
  • Phần thi trang phục dạ hội: "Chains", "Teacher" và "Jealous (The Rooftop Boys Remix)" của Nick Jonas (hát trực tiếp)
  • Nhìn lại Top 5: "Finest Hour" và "Fire" của Gavin DeGraw (hát trực tiếp)

Giám khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lloyd Boston – Đạo diễn thời trang, người dẫn chương trình truyền hình và phóng viên trong chương trình "The Today Show" của đài NBC và "The Insider" của đài CBS.[2]
  • Azucena Cierco – Nữ diễn viên Latin, người dẫn chương trình truyền hình và phóng viên đặc biệt của kênh Telemundo, đặc biệt tại "Un Nuevo Dia"[3].
  • Jeneine Doucette-White – Giám đốc quản lý văn phòng tại "Access Hollywood" ở New York[4].
  • Michelle McLeanHoa hậu Hoàn vũ 1992 đến từ Namibia.
  • Jimmy Nguyen – Chuyên gia giải trí và phương tiện truyền thông kỹ thuật số, người viết blog và cố vấn công nghệ[5].
  • Corinne Nicolas – Chủ tịch Cơ quan Quản lý Người mẫu Trump[6].
  • Tyler Tixier – Trưởng đội ngũ Hàng không Delta Air Lines, được mệnh danh là Hãng Hàng không Tốt nhất Thế giới[7].

Chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kristin Cavallari – Nữ diễn viên người Mỹ, nhân vật truyền hình, nhà thiết kế thời trang[8].
  • William Levy – Người mẫu và diễn viên người Mỹ gốc Cuba, trước đây được mệnh danh là người đàn ông quyến rũ của tạp chí "People en Español's"[8].
  • Manny Pacquiao – Nhà vô địch thế giới Boxing người Philippines[8][9].
  • Louise Roe – Người dẫn chương trình truyền hình người Anh, nhà báo thời trang, chủ của "Plain Jane" của MTV International, "Fit for Fashion" của STAR World Asia.
  • Lisa Vanderpump – Ngôi sao của "The Real Housewives of Beverly Hills".
  • Emilio Estefan – Nhạc sĩ và nhà sản xuất.
  • DeSean Jackson – Cầu thủ bắt bóng của đội bóng bầu dục nổi tiếng "Washington Redskins".
  • Nina Garcia – Giám đốc của Tạp chí Marie Claire, giám khảo "Project Runway" và chuyên gia ngành công nghiệp thời trang.
  • Rob Dyrdek – Doanh nhân.
  • Giancarlo Stanton – Cầu thủ đội bóng chày Miami Marlins.

Thí sinh tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

88 thí sinh đã tham gia cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2014:[10]

Quốc gia/Lãnh thổ Thí sinh Tuổi Chiều cao Quê quán
 Albania Zhaneta Byberi 19 5 ft 10 in (1,78 m) Tirana
 Angola Zuleica Wilson 21 5 ft 8 in (1,73 m) Cabinda
 Argentina Valentina Ferrer 23 5 ft 10 in (1,78 m) Córdoba
 Aruba Digene Zimmerman 21 5 ft 7 in (1,70 m) Oranjestad
 Úc Tegan Martin 23 5 ft 10 in (1,78 m) Newcastle
 Áo Julia Furdea 20 5 ft 7 in (1,70 m) Vienna
 Bahamas Tomii Culmer 24 5 ft 11 in (1,80 m) Nassau
 Bỉ Anissa Blondin 22 5 ft 7 in (1,70 m) Brussels
 Bolivia Claudia Tavel 25 5 ft 8 in (1,73 m) Santa Cruz
 Brazil Melissa Gurgel 20 5 ft 5 in (1,65 m) Fortaleza
 Quần đảo Virgin (Anh) Jaynene Jno Lewis 26 5 ft 7 in (1,70 m) Tortola
 Bulgaria Kristina Georgieva 23 5 ft 9 in (1,75 m) Sofia
 Canada Chanel Beckenlehner 27 5 ft 8 in (1,73 m) Caledon
 Chile Hellen Toncio 20 5 ft 8 in (1,73 m) Santiago
 Trung Quốc Karen Hu 24 5 ft 11 in (1,80 m) Bắc Kinh
 Colombia Paulina Vega 22 5 ft 9 in (1,75 m) Barranquilla
 Costa Rica Karina Ramos 21 5 ft 8 in (1,73 m) San José
 Croatia Ivana Mišura 26 5 ft 7 in (1,70 m) Zagreb
 Curaçao Laurien Angelista 27 5 ft 7 in (1,70 m) Willemstad
 Cộng hòa Séc Gabriela Franková 21 5 ft 7 in (1,70 m) Prague
 Cộng hòa Dominican Kimberly Castillo 26 5 ft 10 in (1,78 m) Higüey
 Ecuador Alejandra Argudo 22 5 ft 9 in (1,75 m) Portoviejo
 Ai Cập Lara Debbana 21 5 ft 9 in (1,75 m) Cairo
 El Salvador Patricia Murillo 22 5 ft 6 in (1,68 m) San Salvador
 Ethiopia Hiwot Mamo 24 5 ft 7 in (1,70 m) Addis Ababa
Phần Lan Phần Lan Bea Toivonen 22 5 ft 10 in (1,78 m) Helsinki
 Pháp Camille Cerf 20 5 ft 11 in (1,80 m) Coulogne
 Gabon Maggaly Nguema 22 5 ft 6 in (1,68 m) Libreville
 Georgia Ana Zubashvili 22 5 ft 9 in (1,75 m) Tbilisi
 Đức Josefin Donat 21 5 ft 6 in (1,68 m) Leipzig
 Ghana Abena Appiah 21 5 ft 9 in (1,75 m) Accra
 Anh Quốc Grace Levy 25 5 ft 11 in (1,80 m) London
 Hy Lạp Ismini Dafopoulou 26 5 ft 8 in (1,73 m) Athens
 Guam Brittany Bell 27 5 ft 9 in (1,75 m) Barrigada
 Guatemala Ana Luisa Montufar 21 5 ft 8 in (1,73 m) Thành phố Guatemala
 Guyana Niketa Barker 24 5 ft 9 in (1,75 m) Georgetown
 Haiti Christie Desir 25 5 ft 10 in (1,78 m) Port-Au-Prince
 Honduras Gabriela Ordoñez 21 5 ft 9 in (1,75 m) Comayagua
 Hungary Henrietta Kalemen 21 5 ft 7 in (1,70 m) Budapest
Ấn Độ Ấn Độ Noyonita Lodh 21 5 ft 6 in (1,68 m) Bangalore
 Indonesia Elvira Devinamira 21 5 ft 9 in (1,75 m) Surabaya
 Ireland Lisa Madden 23 5 ft 9 in (1,75 m) Cork
 Israel Doron Matalon 21 5 ft 9 in (1,75 m) Beit Aryeh-Ofarim
 Ý Valentina Bonariva 25 5 ft 9 in (1,75 m) Milan
 Jamaica Kaci Fennell 23 5 ft 9 in (1,75 m) Kingston
 Nhật Bản Keiko Tsuji 21 5 ft 6 in (1,68 m) Nagasaki
 Kazakhstan Aiday Issayeva 25 5 ft 9 in (1,75 m) Almaty
 Kenya Gaylyne Ayugi 21 5 ft 7 in (1,70 m) Nairobi
 Hàn Quốc Yoo Ye-bin 22 5 ft 6 in (1,68 m) Daegu
 Kosovo Artnesa Krasniqi 23 5 ft 8 in (1,73 m) Pristina
 Lebanon Saly Greige 25 5 ft 7 in (1,70 m) Beirut
 Lithuania Patricija Belousova 19 5 ft 5 in (1,65 m) Vilnius
 Malaysia Sabrina Beneett 24 5 ft 10 in (1,78 m) Kuala Lumpur
 Mauritius Pallavi Gungaram 21 5 ft 6 in (1,68 m) Vacoas-Phoenix
 Mexico Josselyn Garciglia 24 5 ft 8 in (1,73 m) La Paz
Myanmar Myanmar Sharr Htut Eaindra 20 5 ft 7 in (1,70 m) Yangon
 Hà Lan Yasmin Verheijen 21 5 ft 10 in (1,78 m) Amsterdam
 New Zealand Rachel Maree Millns 24 5 ft 11 in (1,80 m) Wellington
 Nicaragua Marline Barberena 27 5 ft 6 in (1,68 m) Chichigalpa
 Nigeria Queen Celestine 22 5 ft 10 in (1,78 m) Lagos
 Na Uy Elise Dalby 19 5 ft 11 in (1,80 m) Hamar
 Panama Yomatzy Hazlewood 23 5 ft 8 in (1,73 m) Thành phố Panama
 Paraguay Sally Jara 21 5 ft 6 in (1,68 m) Asuncion
 Peru Jimena Espinoza 26 6 ft 0 in (1,83 m) Lima
 Philippines Mary Jean Lastimosa 27 5 ft 7 in (1,70 m) Tulunan
 Ba Lan Marcela Chmielowska 23 5 ft 9 in (1,75 m) Warsaw
Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha Patrícia Da Silva 25 5 ft 9 in (1,75 m) Lisbon
 Puerto Rico Gabriela Berrios 24 5 ft 9 in (1,75 m) San Juan
 Nga Yulia Alipova 24 5 ft 10 in (1,78 m) Moskva
 Serbia Anđelka Tomašević 21 5 ft 7 in (1,70 m) Zubin Potok
 Singapore Rathi Menon 24 5 ft 8 in (1,73 m) Singapore
 Slovakia Silvia Prochádzková 23 5 ft 10 in (1,78 m) Bratislava
 Slovenia Urška Bračko 21 5 ft 10 in (1,78 m) Maribor
Cộng hòa Nam Phi Nam Phi Ziphozakhe Zokufa 23 5 ft 8 in (1,73 m) Cape Town
 Tây Ban Nha Desirée Cordero 22 5 ft 9 in (1,75 m) Seville
 Sri Lanka Avanti Marianne 25 5 ft 10 in (1,78 m) Colombo
 St. Lucia Roxanne Didier-Nicholas 23 5 ft 7 in (1,70 m) Castries
 Thụy Điển Camilla Hansson 26 5 ft 8 in (1,73 m) Stockholm
 Thụy Sĩ Zoé Metthez 21 5 ft 8 in (1,73 m) Zurich
 Tanzania Nale Boniface 22 5 ft 6 in (1,68 m) Dodoma
 Thái Lan Pimbongkod Chankaew 20 5 ft 11 in (1,80 m) Băng Cốc
 Trinidad và Tobago Jevon King 26 5 ft 10 in (1,78 m) Diego Martin
 Thổ Nhĩ Kỳ Dilan Çiçek Deniz 20 5 ft 10 in (1,78 m) Istanbul
 Turks và Caicos Shanice Williams 22 5 ft 9 in (1,75 m) Grand Turk Island
 Ukraine Diana Harkusha 20 5 ft 9 in (1,75 m) Kharkiv
 Uruguay Johana Riva 24 5 ft 10 in (1,78 m) Montevideo
 Hoa Kỳ Nia Sanchez 24 5 ft 8 in (1,73 m) Las Vegas
 Venezuela Migbelis Castellanos 19 5 ft 9 in (1,75 m) Cabimas

Thông tin về các cuộc thi quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Trở lại[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ định[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Ethiopia – Hiwot Mamo được chỉ định làm "Hoa hậu Hoàn vũ Ethiopia 2014". Cô là Á hậu 1 trong cuộc thi Hoa hậu Thế giới Ethiopia 2014.
  •  Hy Lạp – Ismini Dafopoulou được chỉ định làm "Hoa hậu Hoàn vũ Hy Lạp 2014" sau khi một cuộc tuyển chọn đã diễn ra.
  •  HaitiChristie Desir được chỉ định làm đại diện cho Haiti bởi Magali Febles, giám đốc quốc gia Hoa hậu Hoàn vũ ở Haiti.
  •  Ba Lan – Marcela Chmielowska được chỉ định làm "Hoa hậu Hoàn vũ Ba Lan 2014", do việc sắp xếp lại lịch tổ chức cuộc thi "Miss Polonia 2014" (Hoa hậu Ba Lan 2014) vào tháng 12 năm 2014. Trước đây cô là Á hậu 2 trong cuộc thi "Miss Polonia 2011" (Hoa hậu Ba Lan 2011).
  •  Thụy Sĩ – Zoé Metthez được chỉ định làm "Hoa hậu Hoàn vũ Thụy Sĩ 2014" bởi François Matthey, giám đốc quốc gia Hoa hậu Hoàn vũ ở Thụy Sĩ.

Thay thế[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Bỉ – Laurence Langen đã được thay thế bởi Á hậu 1 cuộc thi Hoa hậu Bỉ 2014 Anissa Blondin, do cô có vấn đề với Tổ chức Hoa hậu Bỉ.
  •  Trung Quốc – Nora Xu đã từ chức danh hiệu của mình, tiếp tục công việc học tập thay vì tham gia cuộc thi. Cô được thay thế bởi Á hậu 1 là Yanliang Hu.
  •  Serbia – Anđelka Tomašević đã thay thế Arnela Zeković do Arnela Zeković đã từ chức danh hiệu của mình vì lý do cá nhân.
  •  Nam PhiRolene Strauss được trao vương miện Hoa hậu Nam Phi 2014, nhưng sau khi cô được trao vương miện Hoa hậu Thế giới 2014, cô không thể tham dự Hoa hậu Hoàn vũ 2014. Ziphozakhe Zokufa là Á hậu 1 đã thay thế Strauss làm đại diện cho Nam Phi tại cuộc thi năm nay.
  •  Tanzania – Carolyne Bernard đã không thể tham gia cuộc thi sau khi bị chấn thương chân trong một tai nạn xe hơi. Cô được thay thế bởi Á hậu 1 Nale Boniface.
  •  Thái Lan – Weluree Ditsayabut ban đầu đại diện cho Thái Lan tham gia cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2014, nhưng đã từ chức danh hiệu Hoa hậu Hoàn vũ Thái Lan 2014 vào ngày 9 tháng 6 năm 2014 sau khi kêu gọi những người ủng hộ Thủ tướng Thái Lan bị hành quyết. Á hậu 1 Pimbongkod Chankaew đã thay thế cô để đại diện cho Thái Lan trong cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2014.
  •  Ukraine – Anna Andres đã từ chức danh hiệu của mình vì lý do cá nhân. Á hậu 1 Diana Harkusha đã được chọn để đại diện cho Ukraine trong cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ và đạt danh hiệu Á hậu 2.

Bỏ cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Không tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Quần đảo Virgin (Mỹ) – Vào ngày 02 tháng 01, Hoa hậu Quần đảo Virgin (Mỹ) 2014, Angela Gabriel đã đến Florida để tham gia cuộc thi, nhưng cô bị chấn thương cánh tay và không tham gia thi đấu.
  •  Việt Nam – Không có cuộc thi quốc gia nào được tổ chức do thiếu tài trợ. Nguyễn Lê Diễm Trang, Á hậu 2 Hoa hậu Việt Nam 2014 được chỉ định làm đại diện cho Việt Nam tại Hoa hậu Hoàn vũ 2014 nhưng đã rút lui vào phút chót do thiếu thời gian chuẩn bị cho cuộc thi. Phiên bản tiếp theo của Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam sẽ được tổ chức vào năm 2015.

Thông tin cuộc thi[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đàm phán giữa Bộ trưởng Bộ Du lịch bang Ceará, Brazil và Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ bắt đầu vào cuối tháng 9 năm 2013, khi giám đốc của tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ (MUO) tới Fortaleza để bắt đầu cuộc đối thoại và sắp xếp các hoạt động của cuộc thi ở thành phố. Vào ngày 11 tháng 1 năm 2014, Bismarck Maia, Bộ trưởng Bộ Du lịch, công bố thông tin mới nhất với tờ báo hàng đầu thị trường Fortaleza, Diário do Nordeste, xác nhận rằng sự kiện này sẽ được tổ chức tại Centro de Eventos do Ceará, ở thủ phủ của bang Ceará[11].

Vào ngày 27 tháng 3 năm 2014, Annette Cammer, giám đốc giấy phép quốc gia của Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ, đã trả lời câu hỏi qua thư điện tử về chỉ thị rằng cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2014 sẽ không được tổ chức tại thủ phủ Ceará như đã thông báo và công bố của chính quyền địa phương[12]. Bốn thành phố khác của Brazil - Rio de Janeiro, Ribeirão Preto, Porto AlegreManaus đã được MUO xem xét thay thế[13].

Vào ngày 22 tháng 8 năm 2014, Donald Trump đã đăng lên Twitter rằng Miami và các thành phố khác đang "chiến đấu để tổ chức cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ" và rằng sẽ có thông báo sớm; đặc biệt đề cập đến thành phố Miami đã khiến nhiều người theo dõi cuộc thi tin rằng cuộc thi năm nay sẽ được tổ chức tại thành phố này của bang Florida kể từ lần gần nhất là vào năm 1997[14]. Vào ngày 9 tháng 9 năm 2014, tờ Puerto Rican, El Nuevo Dia, và tờ El Nacional của Venezuela, từng in một bài báo nói rằng các thí sinh tham gia sẽ ở tại một khách sạn của Trump ở Miami; tiếp tục thúc đẩy tin đồn rằng cuộc thi sẽ được tổ chức tại Miami vào tháng 12[15][16].

Vào ngày 12 tháng 9 năm 2014, Luigi Boria, thị trưởng Doral, Florida thông báo qua Twitter rằng cuộc thi sẽ diễn ra tại Doral vào ngày 18 tháng 1 năm 2015, dẫn đến một số tranh cãi trong số những người hâm mộ[17][18]. Điều này đã được xác nhận vào cuối tháng 9. Vì cuộc thi này đã tổ chức vào năm 2015 nên năm 2014 là năm đầu tiên trong lịch sử Hoa hậu Hoàn vũ mà cuộc thi không được tổ chức trong suốt một năm. Tuy nhiên, cuộc thi vẫn được gọi là Hoa hậu Hoàn vũ 2014.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/218577/nguoi-dep-colombia-dang-quang-hoa-hau-hoan-vu-2014.html
  2. ^ Miss Universe Organization. “Lloyd Boston”. MISS UNIVERSE. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  3. ^ http://www.missuniverse.com/news/view/518#.VL7vKUfF-WE
  4. ^ Miss Universe Organization. “Jeneine Doucette-White”. MISS UNIVERSE. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  5. ^ Miss Universe Organization. “Jimmy Nguyen”. MISS UNIVERSE. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  6. ^ Miss Universe Organization. “Corinne Nicolas”. MISS UNIVERSE. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  7. ^ Miss Universe Organization. “Tyler Tixier”. MISS UNIVERSE. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  8. ^ a ă â “Miss Universe 2014: Celebrity judges announced”. International Business Times. 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2016. 
  9. ^ Zonio, Aquiles Z. (9 tháng 1 năm 2015). “Pacquiao ‘honored’ to judge at Miss Universe pageant”. Philippine Daily Inquirer. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2016. 
  10. ^ “Miss Universe 2014 contestants”. Miss Universe Organization. 
  11. ^ Prestigious Beauty Pageant (1 tháng 2 năm 2014). “Events Center of Ceara Brazil to host Miss Universe 2014”. Prestigious Beauty Pageants. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014. 
  12. ^ Belleza Venezolana (27 tháng 3 năm 2014). “Miss Universo 2014 No Será en Brasil”. bellezavenezolana.net. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2014. 
  13. ^ O Povo (20 tháng 5 năm 2014). “Miss Universo 2014 não será mais em Fortaleza”. O Povo. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2014. 
  14. ^ “BREAKING NEWS – D.Trump: "A DECISION WILL BE MADE VERY SOON". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014. 
  15. ^ “Miami podría ser sede de Miss Universe 2014 – El Nuevo Día”. El Nuevo Dia. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014. 
  16. ^ “Miami podría ser sede del Miss Universo 2014”. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014. 
  17. ^ “OFFICIAL: MISS UNIVERSE 2014/2015 WILL BE HELD IN DORAL, FL”. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014. 
  18. ^ “Miss Universe Pageant Coming to Doral in 2015”. NBC Miami. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]