Huân chương quân sự Virtuti Militari

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Huân chương quân sự Virtuti Militari
Virtuti Militari Grand Cross.jpg
Virtuti Militari Grand Cross Order Star.jpg
Được trao bởi Thủ tướng Ba Lan
Quốc gia Ba Lan
Điều kiện Quân nhân / Đơn vị quân đội
Giải thưởng cho Vinh dự trong chiến tranh
Châm ngôn Virtuti Militari
Huân chương quân sự Virtuti Militari
Order Wojenny Virtuti Militari
Những con số
Thành lập 22 tháng 6 năm 1792
Nhận đầu tiên 1792
Nhận cuối cùng 1989
Ưu tiên
Tiếp theo (cao hơn) Huân chương Đại bàng Trắng
Bằng Hoa Kỳ Huân chương Danh dự
Khối thịnh vượng chung Anh Victoria Cross
Tiếp theo (thấp hơn) Huân chương Polonia Restituta

Huân chương Quân sự Virtuti Militari (tiếng Latinh: "Vì vinh dự quân sự", tiếng Ba Lan: Order Wojenny Virtuti Militari) là huân chương quân sự cao nhất của Ba Lan cho các hành động anh hùnglòng dũng cảm khi đối mặt với kẻ thù trong chiến tranh. Huân chương được tạo ra vào năm 1792 bởi vua Ba Lan Stanisław II August và là một trong những huân chương quân sự lâu đời nhất trên thế giới vẫn còn được sử dụng.

Năm hạng mục có thể nhận được huân chương có thể kể đến các hành động anh hùng cá nhân hoặc, cho các chỉ huy, cho sự lãnh đạo. Một số vinh danh bởi huân chương Virtuti Militari được coi tương đương với Huân chương Chữ thập Victoria của Khối Thịnh vượng chung Anh,[1] Chữ thập Sắt của Đế quốc ĐứcHuân chương Danh dự của Hoa Kỳ.[2] 

Tuy nhiên, ngay sau khi được giới thiệu, khối Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva đã bị phá hủy trong cuộc phân chia Ba Lan (1795), và các cường quốc bãi bỏ và cấm sửa dụng huân chương này. Sau đó, huân chương nhiều lần được tái lập với những tên mới, và lại tiếp tục bị cấm. Số phận của Virtuti Militari phản ánh chặt chẽ những thăng trầm của người dân Ba Lan. Trong suốt thời gian tồn tại, hàng nghìn binh lính và sĩ quan, người Ba Lan và nước ngoài, một số thành phố và một con tàu đã được huân chương Virtuti Militari cho lòng dũng cảm hoặc hành động lãnh đạo xuất sắc trong chiến tranh. Kể từ năm 1989, không còn huân chương Virtuti Militari nào được trao.[3]

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật nổi bật (1792–1794)
Virtuti Militari 1792
Ksiaze Jozef

Trong lịch sử của mình, Virtuti Militari chịu nhiều thăng trầm cùng với đất nước Ba Lan khi nó nhiều lần bị hủy bỏ rồi lại được tái lập.

Huân chương lần đầu được tạo ra vào ngày 22 tháng 6 năm 1792 bởi vua Ba Lan Stanisław II August để kỷ niệm chiến thắng Zieleńce. Ban đầu, nó bao gồm hai hạng: hạng vàng cho tướng lĩnhsĩ quan, và hạng bạc cho hạ sĩ quan và binh sĩ. Đến tháng 8 năm 1792, quy chế cho nó được hoàn chỉnh phòng theo Huân chương quân sự Maria Theresa của Áo. Hình dạng của nó cũng được chuyển từ dạng tròn sang dạng thập tự và được ổn định kể từ đó. Nó cũng được tăng lên thành năm hạng thay vì hai như cũ.

Trong Chiến tranh bảo vệ Hiến pháp năm 1792, có tổng cộng 63 sĩ quan và 290 hạ sĩ quan binh sĩ được trao tặng Huân chương Virtuti Militari. Tuy nhiên, không lâu sau, dưới áp lực của Nga, Stanisław II đã gia nhập Liên minh Targowica. Virtuti Militari bị bãi bỏ ngày 29 tháng 8 năm 1792, và những người đã được trao tặng bị cấm đeo nó. Bất kỳ ai sử dụng huân chương này đều có thể bị chính quyền mới của Ba Lan giáng chức và sa thải quân đội.

Ngày 23 tháng 11 năm 1793, Grodno Sejm (quốc hội của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva) đã tái lập lại Virtuti Militari nhưng nó lại bị cấm vào ngày 7 tháng 1 năm 1794 dưới áp lực của Nữ hoàng Nga Ekaterina. Chỉ một năm sau, Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva cũng chịu chung số phận, khi những gì còn lại của Khối thịnh vượng chung đã bị các nước láng giềng sát nhập trong cuộc phân chia Ba Lan. Stanisław II thoái vị trong cùng năm đó. Trong suốt triều đại của ông, 526 huân chương đã được trao: 440 Thập tựBạc, 85 Thập tự Vàng và 1 Thập tự Chỉ huy.

Trong số những người nhận được Virtuti Militari nổi tiếng nhất trong thời kỳ này có thể kể đến Hoàng tử Józef Antoni Poniatowski (1763–1813) và Tadeusz Kościuszko (1746–1817), cả hai đều là những chỉ huy quân sự trong Chiến tranh bảo vệ Hiến phápCuộc nổi dậy Kościuszko.

Thanh ribbon của huân chương Virtuti Militari
Virtuti Militari Ribbon.png
Thập tự Bạc
POL Virtuti Militari Złoty BAR.svg
Thập tự Vàng
POL Virtuti Militari Kawalerski BAR.svg
Thập tự Hiệp sĩ
POL Virtuti Militari Komandorski BAR.svg
Thập tự Chỉ huy
POL Virtuti Militari Wielki BAR.svg
Đại Thập tự với Ngôi sao

Công quốc Warszawa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật (1806–1815)

Hạng I (2):
• Thân vương Józef Poniatowski
Louis Nicolas Davout
Hạng II (10):
Józef Zajączek
Jan Henryk Dąbrowski
Karol Kniaziewicz
Stanisław Fiszer
Michał Sokolnicki
Aleksander Rożniecki
Józef Chłopicki
Amilkar Kosiński
Ludwik Pac
Mikołaj Bronikowski
Hạng III (504)
Hạng IV (23)

Hạng V (1130)

Năm 1806, Thân vương Józef Poniatowski được thăng làm tổng tư lệnh toàn bộ quân đội của Công quốc Warszawa, một nhà nước Ba Lan tồn tại trong thời gian ngắn liên minh với Napoléon Bonaparte. Là một trong những người đầu tiên nhận được Virtuti Militari, Poniatowski nhất quyết muốn tái lập lại huân chương. Cuối cùng vào ngày 26 tháng 12 năm 1806, Vua của SachsenCông tước Warszawa Fryderyk August Wettin chấp nhận đề nghị và lập lại Virtuti Militari như là phần thưởng quân sự cao quý nhất dành cho tất cả những người lính Ba Lan chiến đấu cùng với Pháp trong các cuộc chiến tranh Napoléon. Tên chính thức của huân chương đã được đổi thành Huân chương Quân công của Công quốc Warszawa. Tuy nhiên, những người lính vẫn trung thành với tên cũ. Sắc lệnh hoàng gia cũng giới thiệu một hệ thống phân hạng mới đã được sử dụng kể từ đó, với hạng thập tự giá tùy thuộc vào cấp bậc của người lính mà nó được trao:

  1. Hạng I - Thập tự với Ngôi sao (Krzyż Wielki z Gwiazdą), dành cho cấp tổng chỉ huy
  2. Hạng II - Thập tự Chỉ huy (Krzyż Komandorski), dành cho các chỉ huy cấp sư đoàn
  3. Hạng III - Thập tự Hiệp sĩ (Krzyż Kawalerski), dành cho chỉ huy cấp lữ đoàn, đại tá và thiếu tá)
  4. Hạng IV - Thập tự Vàng (Krzyż Złoty)
  5. Hạng V - Thập tự Bạc (Krzyż Srebrny)

Ban đầu, mỗi chỉ huy cấp cao của Quân đội có một hạn ngạch Virtuti Militari để trao cho binh lính của mình. Tuy nhiên, hệ thống đã sớm được thay đổi và kể từ đó, mệnh lệnh thường được trao tập trung cho các cá nhân có hành động dũng cảm sau khi được chuỗi chỉ huy đề cử. Theo nghị định ngày 10 tháng 10 năm 1812, mỗi người nhận được Thập tự giá vàng hoặc bạc có quyền hưởng lương hàng năm cho đến khi thăng cấp thành sĩ quan hoặc (nếu xuất ngũ) suốt đời. Ngoài ra, trong các cuộc Chiến tranh Napoléon, truyền thống hiện nay trao thưởng cho những người lính bằng Virtuti Militari trước đơn vị đã được thiết lập. Từ năm 1806 đến năm 1815, đã có 2569 cây thánh giá được trao cho những người lính Ba Lan chiến đấu trên mọi mặt trận, từ Santo Domingo đến Nga và từ Ý đến Tây Ban Nha.

Trong số những người nhận huy chương nổi tiếng trong thời kỳ này có Tướng Jan Henryk Dąbrowski (1755–1818), người tổ chức Quân đoàn Ba Lan trong Chiến tranh Napoléon, người đã đặt tên cho bài quốc ca Ba Lan Mazurek Dąbrowskiego, và Tướng Józef Chłopicki (1771–1854). Ngoài ra, vào ngày 20 tháng 5 năm 1809, Trung sĩ Joanna Żubr trở thành người phụ nữ đầu tiên nhận được trang trí (hạng V) cho vai trò của mình trong cuộc tấn công Zamość.  

Quốc hội Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Thập tự giá bạc của Đức vua Đức từ năm 1792

Danh sách huân chương 1830-1831:

- Hạng I (không có giải thưởng)

- Hạng II (1 được trao):

• Tướng Jan Skrzynecki (cho các trận WawerDębe Wielkie)

- Hạng III (105 được trao)

- Hạng IV (được trao tặng năm 1794) ví dụ: Antoni Patek

Hạng V (trao tặng năm 1963)

Vào năm 1815 tại Đại hội Vienna, khi các cường quốc châu Âu tổ chức lại châu Âu sau cuộc chiến tranh Napoléon, Vương quốc Ba Lan - được gọi không chính thức là "Quốc hội Ba Lan" - được thành lập. Bang này, với 1/10 diện tích của Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva và 1/5 dân số, giờ đây gắn liền với Nga trong một liên minh cá nhân. Tại Quốc hội Ba Lan, huân chương Virtuti Militari được đổi tên thành "Huân chương Quân công Ba Lan" (Medal Wojskowy Polski). Cả quy chế của Virtuti Militari và các đặc quyền được cấp cho người nhận đều được giữ nguyên. Một ủy ban đặc biệt đã được thành lập để trao giải Virtuti Militari cho các cựu binh của các chiến dịch Napoléon 1812, 1813 và 1814. Đến năm 1820, thêm 1.213 cây thánh giá của tất cả các lớp đã được trao tặng.[4] Ngoài ra, vào ngày 5 tháng 6 năm 1817, một sắc lệnh hoàng gia phong tặng tất cả các sĩ quan đã nhận được Chữ Thập Vàng.

Vào thời điểm đó, Vương quốc Ba Lan là một trong số ít các quốc gia quân chủ lập hiến ở châu Âu, với Sa hoàng của Đế chế Nga là vua Ba Lan. Quốc gia này đã được ban hành một trong những hiến pháp tự do nhất ở châu Âu thế kỷ 19, mặc dù nó rất khác với Hiến pháp Ba Lan ngày 3 tháng 5 của thời kỳ cuối của Khối thịnh vượng chung. Mong muốn tự do và tôn trọng các đặc quyền truyền thống của người Ba Lan là nguồn gốc của sự xích mích thường xuyên giữa người Ba Lan và người Nga. Vấn đề chính là các sa hoàng, người có quyền lực tuyệt đối ở Nga, cũng không muốn có hạn chế nào đối với quyền cai trị của họ ở Ba Lan. Năm 1825, Nicholas I của Nga quyết định không lên ngôi vua của Ba Lan, và ông tiếp tục hạn chế các quyền tự do của Ba Lan. Để đối phó với sự cắt giảm nhiều lần các quyền hiến pháp của Ba Lan, quốc hội Ba Lan vào năm 1830 đã phế truất Sa hoàng lên làm Vua của Ba Lan. Khi cuộc nổi dậy tháng 11 nổ ra, Sa hoàng đã phản ứng bằng cách cử quân đội Nga đến.[5][6]

Sau khi bùng nổ cuộc nổi dậy chống lại Nga, Thượng nghị viện Ba Lan đã ra sắc lệnh, vào ngày 19 tháng 2 năm 1831, rằng huân chương sẽ được khôi phục lại tên ban đầu của nó, "Order Virtuti Militari." Từ ngày 3 tháng 3 đến tháng 10 năm 1831, đã có tổng cộng 3.863 huân chương đã được trao tặng. Trong số đó bao gồm ba phụ nữ nhận được thập tự giá bạc:[7]

  • bác sĩ phẫu thuật trưởng của Trung đoàn bộ binh tuyến 10, Józefa Kluczycka
  • trợ lý bác sĩ phẫu thuật của Trung đoàn bộ binh tuyến 10, Józefa Daniel Rostowska nhũ danh Mazurkiewicz
  • thiếu sinh quân trong Trung đoàn kỵ binh " Augustów " số 1, Bronisława Czarnowska

Sau thất bại của cuộc nổi dậy, Sa hoàng Nicholas I đã bãi bỏ huân chương và cấm sử dụng nó.[8] Vào ngày 31 tháng 12 năm 1831, nó được thay thế bằng "Dấu hiệu danh dự của người Ba Lan" (Polski Znak Honorowy), một bản sao chính xác của cây thánh giá gốc nhưng chỉ được trao cho những người Nga phục vụ cho chính quyền Nga hoàng.[9]

Cộng hòa Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách người nhận (1920-1939)

Hạng I (6 huân chương đã được trao):
Thống chế Ba Lan Józef Piłsudski
Ferdinand Foch (Pháp)
Nhà vua của Romania Ferdinand I
Vua Bỉ Albert I
Vua của người Serbia, người Croatia và người Sloven Alexander I
Quốc vương Italy Vittorio Emmanuele III
Hạng II (19 huân chương đã được trao):
• Field Marshals: Yasukata Oku (Nhật Bản)
Kageaki Kawamura (Nhật Bản)
Armando Diaz (Italy)
Gen. Zygmunt Zieliński
Stanisław Szeptycki
Maxime Weygand (Pháp)
Lucjan Żeligowski
John Pershing (Mỹ)
• Duke of Aosta Emmanuele Filiberto (Italy)
Gen.dyw. Edward Rydz
Stanisław Haller de Hallenburg
Jan Romer
Kazimierz Sosnkowski
Leonard Skierski
Władysław Sikorski
Wacław Iwaszkiewicz
• Duke of Torino Emmanuele Filiberto (Italy)
Gen.bryg. Tadeusz Jordan-Rozwadowski
Hạng III (14 huân chương đã được trao)
płk Stefan Dąb-Biernacki, ppłk Gustaw Paszkiewicz, Maj. Zygmunt Piasecki
• Hạng IV (50 huân chương đã được trao)
ppłk Gustaw Paszkiewicz, Kazimierz Rybicki, Stefan Dąb-Biernacki
• Maj. Zygmunt Piasecki
rotm Stanisław Radziwiłł (posthumously)
• Sgt. Kazimierz Sipika, Stanisław Jakubowicz
• Cùng 43 người nước ngoài
Hạng V (8,300 huân chương đã được trao)
Mieczyslaw Garsztka
Walery Sławek

• Bao gồm: 1,800 di cảo và 187 người nước ngoài
Thập giá Bạc của Huân chương Virtutu Militari
Huân chương Wojenny Virtuti Militari Tomb of the Unknown Soldier, Warsaw

Ba Lan giành lại độc lập vào năm 1918 với tư cách là Cộng hòa thứ hai của Ba Lan. Vào ngày 1 tháng 8 năm 1919, Thượng nghị sĩ Ba Lan đã giới thiệu lại Virtuti Militari dưới cái tên chính thức mới: "Huân chương Quân sự Virtuti Militari" (Order Wojskowy Virtuti Militari). Một quy chế trao huân chương mới cũng đã được thông qua và hệ thống cấp bậc từ thời Công quốc Warsaw đã được giới thiệu lại.[10] Theo quy chế mới, thánh giá của mỗi hạng mục có thể được trao cho nhiều vinh dự binh sĩ khác nhau cho những việc làm khác nhau:

  • Thập giá danh dự kèm Sao, Hạng I: "dành cho một chỉ huy đã đạt được chiến thắng trong một trận chiến có tầm quan trọng chiến lược, dẫn đến thất bại toàn diện của kẻ thù hoặc một cuộc phòng thủ thành công quyết định số phận của một chiến dịch."
  • Thập giá Chỉ Huy, Hạng II: "dành cho một chỉ huy đã đạt được một chiến thắng chiến thuật đáng chú ý hoặc một chiến thắng dũng cảm và bảo vệ thành công một vị trí khó khăn."
  • Thập giá Hiệp Sĩ - Hạng III: dành cho sĩ quan, NCO và binh lính bình thường, trước đây đã được trao tặng Chữ Thập Vàng, vì những hành động dũng cảm xuất sắc, liều mạng hoặc chỉ huy xuất sắc quân đội của mình.
  • Thập giá Vàng - Hạng IV: dành cho những sĩ quan chỉ huy quân đội của họ có bản lĩnh và dũng cảm xuất sắc, và dành cho các NCO và binh lính bình thường, trước đây đã được trao tặng Chữ Thập Bạc vì những hành động dũng cảm xuất sắc và liều mạng trên chiến trường.
  • Thập giá Bạc - Hạng V: dành cho sĩ quan, NCO và binh sĩ bình thường, vì những hành động dũng cảm xuất sắc và liều mạng trên chiến trường.

Mỗi người nhận Virtuti Militari, bất kể cấp bậc hay chức vụ, đều nhận được mức lương hàng năm là 300 złoties.[11]

Quốc huy của thành phố Lwów, với mặt dây chuyền Virtuti Militari

Các đặc quyền khác bao gồm quyền ưu tiên khi mua tài sản đất đai thuộc sở hữu nhà nước hoặc xin chức vụ nhà nước. Con cái của những người nhận được thêm điểm trong kỳ thi vào các trường tiểu học và đại học công lập. Ngoài ra, những người nhận được Virtuti Militari có quyền được chào đón bởi những người lính khác có cùng cấp bậc và NCO, và những người lính bình thường có thể được thăng lên cấp bậc cao hơn sau khi nhận giải thưởng.

Chương mới của huân chương (Kapituła Orderu Virtuti Militari) bao gồm mười hai người nhận thánh giá, bốn người thuộc mỗi lớp từ I đến IV. Người đứng đầu chương là Thống chế Ba Lan Józef Piłsudski, Cực còn sống duy nhất được trao tặng Ngôi sao Grand Cross. Với cách là Tổng tư lệnh Quân đội Ba Lan, ông có thể trao tặng các huân chương từ Hạng I đến III với sự đồng ý của Chương, và Hạng IV và V khi nhận được đơn từ chỉ huy của một sư đoàn hoặc lữ đoàn. Ngày lễ quốc gia Ba Lan 3 tháng 5 được chọn là ngày lễ của đức vua Virtuti Militari.[12]

Một Chương mới được chọn cho thời bình vào ngày 24 tháng 11 năm 1922. Năm 1923, huân chương cuối cùng của Virtuti Militari được cấp cho Chiến tranh Thế giới thứ nhất và Chiến tranh Ba Lan-Bolshevik, và các giải thưởng khác đã bị tạm dừng. Vào ngày 25 tháng 3 năm 1933, Thượng nghị sĩ đã thông qua một "Đạo luật đức hạnh Militari" mới (Ustawa o Orderze Virtuti Militari); điều này đã sửa đổi hình dạng của tất cả các cây thánh giá và mở rộng các đặc quyền được cấp cho người nhận bằng đạo luật năm 1919. Tất cả những người nhận trang trí đều có quyền mua vé đường sắt với giá 20% so với giá thông thường. Nhà nước chi trả cho việc chăm sóc y tế của những người nhận và có nghĩa vụ cung cấp cho mỗi người một công việc để họ có thể "sống một cuộc sống tử tế". Chính phủ được lệnh cung cấp tiền, thực phẩm và quần áo cho các thương binh trong suốt quãng đời còn lại của họ. Cuối cùng, mức lương hàng năm 300 zotys đã được giải phóng khỏi thuế và không thể bị buộc bởi tòa án.[13]

Ngoài ra, tiêu chuẩn để cấp thánh giá trở nên nghiêm ngặt hơn:

  • Thập giá danh dự kèm Sao - Hạng I: dành cho tổng tư lệnh đã chiến thắng trong một cuộc chiến tranh hoặc cách khác, dành cho những người chỉ huy quân đội hoặc mặt trận đã đạt được chiến công xuất sắc trong các chiến dịch khác nhau của cuộc chiến.
  • Thập giá Chỉ Huy - Hạng II: dành cho chỉ huy quân đội hoặc mặt trận (trong những trường hợp đặc biệt, đồng thời là chỉ huy của một nhóm, sư đoàn hoặc lữ đoàn) chỉ huy dũng cảm và gan dạ trong một cuộc hành quân có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả của cuộc chiến, hoặc cho các sĩ quan khác đã góp phần vào chiến thắng.
  • Thập giá Hiệp sĩ - Hạng III: dành cho chỉ huy các đơn vị quy mô tối đa quân đội, vì khả năng lãnh đạo, sáng kiến hoặc dũng cảm xuất sắc của họ; cách khác, đối với các sĩ quan tham mưu vì sự hợp tác của họ với chỉ huy của họ dẫn đến chiến thắng cuối cùng trong một trận chiến hoặc cuộc chiến.
  • Thập giá Vàng - Hạng IV: dành cho một quân nhân hoặc sĩ quan, người trước đây đã được trao tặng Chữ Thập Bạc và đạt được thành công xuất sắc trên chiến trường nhờ vào bản lĩnh cá nhân hoặc chỉ huy xuất sắc của một sư đoàn hoặc một đơn vị nhỏ hơn.
  • Thập giá Bạc - Hạng V: dành cho những chỉ huy đã thực hiện các chỉ huy táo bạo và dũng cảm đối với quân đội của họ, hoặc cho những người lính bình thường đã ảnh hưởng đến đồng đội của họ bằng lòng dũng cảm của họ, do đó làm tăng thêm chiến thắng cuối cùng trong một trận chiến.

Thập giá Bạc cũng có thể được trao cho các đơn vị quân đội, thành phố và dân thường. Tất cả các hạng huy chương Virtuti Militari được trao tặng bởi tổng tư lệnh trong chiến tranh hoặc cựu tổng tư lệnh sau khi kết thúc chiến tranh. Các hạng I đến III được trao sau khi được Chương đề cử; Các cấp IV và V được đề cử thông qua chuỗi chỉ huy (thường là bởi chỉ huy của một sư đoàn hoặc lữ đoàn). Ngoài mười hai thành viên của Chương, tất cả những người nhận Cấp I đều có quyền tham gia biểu quyết.

Thế chiến thứ II[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Phòng thủ Ba Lan năm 1939, sự tiến công nhanh chóng của Đức và Liên Xô (lãnh thổ Ba Lan đã bị kẻ thù tràn ngập trong 5 tuần kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược) đã ngăn cản việc trao tặng các huân chương. Thay vào đó, chỉ huy các sư đoàn và lữ đoàn thường thưởng cho sự dũng cảm của binh sĩ bằng những cây thánh giá của họ nhận được trước chiến tranh. Đó là trường hợp của Trung đoàn Uhlan Pomeranian 18, được trao tặng Huân chương Quân đội Đức của Tướng Stanisław Grzmot-Skotnicki sau trận Krojanty, nơi các bính lính của trung đoàn đã thành công trong việc trì hoãn cuộc tiến công của bộ binh Đức vào ngày 1 tháng 9, ngày đầu tiên của Chiến tranh thế giới thứ hai.

Sau sự sụp đổ của Ba Lan vào năm 1939, phần lớn Quân đội Ba Lan được di tản sang Pháp, nơi nó được tái thiết dưới sự chỉ huy của Tướng Władysław Sikorski. Vào tháng 1 năm 1941, Chính phủ Ba Lan lưu vong đã giới thiệu Virtuti Militari là huân chương quân sự cao nhất của Quân đội Ba Lan lưu vong. Cơ sở pháp lý cho việc bầu chọn Chương mới là Đạo luật năm 1933. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Virtuti Militari cũng thường được ban tặng cho các sĩ quan quân đội cấp cao của quân đội đồng minh, bao gồm Tướng người Anh Bernard Montgomery; Tư lệnh tối cao của lực lượng Đồng minh Hoa Kỳ, Dwight D. Eisenhower; Tướng Pháp Jean de Lattre de Tassigny; Nguyên soái Liên Xô Georgy Zhukov; và thủ lĩnh du kích người Serbia Draža Mihailović.

Trong số những người nhận huân chương nổi tiếng nhất trong thời kỳ này là Tadeusz Kutrzeba, người tạo ra kế hoạch phản công Bzura và là người tham gia bảo vệ Warsaw trong Cuộc xâm lược Ba Lan; Władysław Anders, tư lệnh Quân đoàn 2 Ba Lan; Tadeusz Bór-Komorowski, chỉ huy của phong trào kháng chiến lớn Armia Krajowa và lãnh đạo của Cuộc nổi dậy Warsaw; và Stanisław Maczek, một trong những chỉ huy thiết giáp giỏi nhất trong cuộc chiến, người đã nghĩ ra chiến lược chống pháo kích đầu tiên vào đầu năm 1940 và là chỉ huy của Lữ đoàn kỵ binh cơ giới số 10, được coi là đơn vị Ba Lan duy nhất không có thua một trận duy nhất vào năm 1939, và từ năm 1942 trở thành chỉ huy của Sư đoàn Thiết giáp Ba Lan số một.

Cộng hòa nhân dân Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng số huân chương đã trao 1943-1989

Hạng I (13):

Nguyên soái Ba Lan Konstanty Rokossowski

• Nguyên soái Michał Rola-Żymierski

• Tổng quát Aleksei Antonov

• Marshal Leonid Brezhnev (thu hồi năm 1990)

Thống chế Nam Tư Josip Broz Tito

• Thiếu tướng Nikolai Bulganin

• Nguyên soái Andriey Grechko

• Nguyên soái Ivan Koniev

• Nguyên soái Alexander Vasilievski

• Nguyên soái Georgy Zhukov

Thống chế Bernard Montgomery

• Tổng quát Ludvík Svoboda

• Tổng quát Karol Świerczewski (di cảo)

Cầu ORP Błyskawica được trang trí bằng Huân chương Virtuti Militari hạng IV

Hạng II (18):

• Trung tướng Stanisław Popławski

• Tướng quân Juliusz Rómmel

• Tướng quân Karol Świerczewski

• Thiếu tá Henryk Sucharski

Hạng III (57)

Trung tướng Bolesław Kieniewicz

• Trung tướng Władysław Korczyc

• Trung tướng Marian Spychalski

Hạng IV (227)

• Chỉ huy Władysław Raginis (di cảo)

Hạng V (4852)

Quân đội Ba Lan do Liên Xô chống lưng chiến đấu ở Mặt trận phía Đông cũng được trao tặng giải thưởng Virtuti Militari. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1943, Tướng Zygmunt Berling đã trao tặng Thập tự giá Bạc cho mười sáu cựu binh của Trận chiến Lenino. Vào ngày 22 tháng 12 năm 1944, Ủy ban Giải phóng Dân tộc Ba Lan do Liên Xô hậu thuẫn đã thông qua "Đạo luật Giải thưởng Quân đội Đức", trong đó chấp nhận huân chương là vật trang trí quân sự cao nhất của cả Tập đoàn quân 1 của Hồng quân Ba Lan và tổ chức kháng chiến Armia Ludowa.  

Mặc dù sắc lệnh của Ủy ban Giải phóng Quốc gia Ba Lan dựa trên đạo luật của Thượng nghị viện Ba Lan năm 1933, quyền độc quyền trao trang trí cho binh lính đã được trao cho Hội đồng Quốc gia Nội địa. Năm 1947, quyền được chuyển cho Tổng thống Ba Lan, sau đó cho Hội đồng Nhà nước Ba Lan sau khi cơ quan đó thay thế chức vụ tổng thống. Từ năm 1943 đến năm 1989, chính quyền Cộng hòa Nhân dân Ba Lan đã trao tặng huân chương cho 5.167 người và tổ chức. Một số cây thánh giá đã được trao cho các sĩ quan và lãnh đạo của Hồng quân và của các quân đội khác liên minh với Liên Xô trong và sau Thế chiến thứ hai.[14]

Trong số những người nhận được Thập tự giá vàng (Hạng IV) có tàu khu trục ORP Błyskawica, có lẽ là tàu chiến duy nhất trên thế giới được trao tặng huân chương quốc gia hạng cao nhất.[15] Błyskawica Tiếp nhận Hạng V của Virtuti Militari bao gồm các đơn vị quân đội, bao gồm hai sư đoàn bộ binh, sáu trung đoàn bộ binh, ba trung đoàn pháo binh, bốn trung đoàn xe tăng, ba trung đoàn không quân, cũng như các đơn vị nhỏ hơn.[15]

Sau 1989[sửa | sửa mã nguồn]

1 - Thập giá bạc, 2 - Thập giá vàng, 3 - Thập giá hiệp sĩ, 4 - Thập giá chỉ huy, 5 - Thập giá danh dự kèm Sao

Sau khi Ba Lan lật đổ chế độ Cộng sản vào năm 1989, một số giải thưởng Virtuti Militari do chính quyền cộng sản trao đã gây ra các cuộc tranh cãi. Ngày 10 tháng 7 năm 1990, Tổng thống Wojciech Jaruzelski đã thu hồi Thánh giá danh dự được trao cho Leonid Brezhnev vào ngày 21 tháng 7 năm 1974. Vào ngày 16 tháng 10 năm 1992, Thượng nghị viện Ba Lan đã thông qua Đạo luật Virtuti Militari mới, dựa trên đạo luật năm 1933. Đao luật khôi phục lại Chương về Virtuti Militari đã bị chính quyền cộng sản bãi bỏ, đồng thời công nhận tất cả huân chương được ban tặng bởi cả chính phủ Ba Lan lưu vong và chính quyền được Liên Xô hậu thuẫn ở Ba Lan.[16]

Năm 1995, Tổng thống Lech Wałęsa đã thu hồi Huân chương trao cho Ivan Serov, người bị cáo buộc chịu trách nhiệm về cái chết của hàng nghìn người Ba Lan.[17] Năm 2006, Tổng thống Lech Kaczyński đã thu hồi Thập tự giá trao cho Wincenty Romanowski, người đã tra tấn các chiến binh chống Cộng.[17]

Kể từ năm 1989, không có giải thưởng mới nào của Virtuti Militari, và một đạo luật mới của quốc hội đã đưa ra một quy định đặt ra thời hạn cuối cùng cho các giải thưởng là "không muộn hơn năm năm sau khi chấm dứt chiến tranh." [18]

Trong thời chiến, Tổng thống Cộng hòa Ba Lan có thể trao tặng OWVM cho chủ nghĩa anh hùng trong trận chiến.[19]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “My Polish father-in-law did more for Britain than any graffiti-spraying racist”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  2. ^ “Historical dictionary of Poland, 966-1945”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  3. ^ "Niegodni" Virtuti Militari. W Kancelarii Prezydenta przegląd orderów nadanych w PRL”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  4. ^ “Virtuti Militari. Njwyższe odznaczenie wojskowe”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  5. ^ “W nocy z 29 na 30 listopada 1830 r. wybuchło Powstanie Listopadowe”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  6. ^ “Wybuch Powstania Listopadowego”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  7. ^ “Kulczycka Józefa” (PDF). Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  8. ^ “225. rocznica ustanowienia Orderu Virtuti Militari”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  9. ^ “Polski Znak Honorowy 1831 – wzorowana na Virtuti Militari odznaka rosyjska za stłumienie Powstania Listopadowego”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  10. ^ “II Rzeczpospolita przywróciła Order Orła Białego i Krzyż Virtuti Militari, przy tym jednak ustanowiła kilka zupełnie nowych odznaczeń”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  11. ^ “Virtuti Militari. Njwyższe odznaczenie wojskowe”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  12. ^ “Virtuti Militari – z cyklu "Droga do niepodległości". Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  13. ^ “OKRES 1918–1939”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  14. ^ “Order Virtuti Militari przyznawano również wrogom Polski”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  15. ^ a ă “80 lat ORP”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  16. ^ “Order Virtuti Militari przyznawano również wrogom Polski”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  17. ^ a ă "Niegodni" Virtuti Militari. W Kancelarii Prezydenta przegląd orderów nadanych w PRL”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  18. ^ “Ustanowienie Orderu Virtuti Militari”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  19. ^ “225. rocznica ustanowienia Orderu Virtuti Militari”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Zdzisław P. Wesołowski (1992). The Order of Virtuti Militari and its cavaliers: 1792–1992. Miami, FL: Hallmark Press. LCCN 97168637. OCLC 31364118. 
  • Tadeusz Jeziorowski (1993). Order wojenny Virtuti Militari. Poznań, Muzeum Narodowe. ISBN 978-83-85296-17-1. 
  • Bogusław Polak (1999). Virtuti Militari 1919–1997: wybór źródeł. Koszalin, Wydawnictwo Uczelniane Politechniki Koszalińskiej. ISBN 978-83-87424-87-9. 
  • Elżbieta Zawacka; Dorota Kromp; Maria Biernacka (2004). Słownik biograficzny kobiet odznaczonych Orderem Wojennym Virtuti Militari. Toruń, Archiwum i Muzeum Pomorskie Armii Krajowej oraz Wojskowej Służby Polek. ISBN 978-83-88693-03-8.