Huệ Túc Phu nhân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Huệ Túc Phu nhân
惠肃夫人
Hoàng thái phi nhà Trần
Thông tin chung
Tước hiệu[Phu nhân; 夫人]
[Hoàng thái phi; 皇太妃 ]
[Thái hoàng thái phi; 太皇太妃]
[Thái thái hoàng thái phi; 太太皇太妃]
Thân phụTống triều thổ quan Hoàng Bính
Thân mẫuHoàng phu nhân

Huệ Túc Phu nhân ( chữ Hán : 惠肃夫人; ? năm 1241- ?), họ Hoàng, còn gọi Huệ Túc Hoàng thái phi (惠肃皇太妃), Huệ Túc Thái hoàng thái phi (惠肃太皇太妃); là một phi tần xuất thân từ gia đình quan lại nhà Tống của Trần Thái Tông trong lịch sử Việt Nam. Bà nổi tiếng là có tài xem tướng, bấm số tử vi, đoán trước tương lai rất tài tình. Nhờ có tài năng thiên bẩm này, bà được Trần Thái Tông tuyên vào cung vào phi. Phu nhân nổi tiếng thông minh tuyệt đỉnh, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, ngôn hành khéo léo, cử chỉ đoan trang, lấy nhân đức làm trọng. Việc gia tộc bà nhập cư vào Đại Việt rồi được Trần Thái Tông hậu đãi khiến bà hoàn toàn coi mình như con dân đất Nam mà dùng khả năng của mình nhiều lần giúp đỡ cho tương lai Đại Việt, tạo nên tiếng thơm muôn đời.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Huệ Túc Phu nhân húy là Thủy Thiên (始天), khuê danh Chu Linh (朱靈), người con út trong số sáu người con và là con gái duy nhất của viên thổ quan nhà Tống Hoàng Bính (黃丙). Căn cứ theo Huệ Túc Phu nhân liệt truyện (惠肃夫人列傳), Hoàng Bính làm quan ở phương Bắc, lấy phu nhân đã sinh năm người con mà chưa sinh được người con gái nào. Phu nhân thường than thở ước ao có được một người con gái. Một đêm nọ, Hoàng Bính chiêm bao thấy một người con gái tú lệ khác phàm, tự xưng danh là Thủy. Thủy nói rằng nàng bị tên phú hào Ngô Phượng cưỡng bức khi đi ngang qua cầu nên phải cắn lưỡi tự vẫn để bảo toàn danh tiết. Nàng đau đớn khi thấy xác mình bị Ngô Phượng vứt xuống sông nên nhờ Hoàng Bính đòi lại công đạo. Tỉnh dậy, Hoàng Bính lập tức tra án xét xử, bắt Ngô Phượng đền tội bằng án trảm, còn liệm xác nàng Thủy đem chôn cất và đề văn trên bia mộ bốn chữ Trinh Liệt Thuần Chính. Sau đó, Thủy lại xuất hiện trong giấc mơ của Hoàng Bính và vái lạy tạ ơn, xin được đầu thai để báo đáp. Kết quả sau đó, phu nhân Hoàng Bính mang thai và sinh được một người con gái xinh đẹp như tiên đồng. Hoàng Bính ngẫm rằng nàng Thủy đầu thai làm con gái nên mới đặt húy cho đứa bé là Thủy Thiên.

Câu chuyện tiến cung[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Bính làm thổ quan ở nhà Tống, vốn có biệt tài bói toán. Năm đó ông lên núi cao xem thiên văn, bấm số thấy linh khí nhà Tống sắp cạn kiệt, heo hắt như ngọn đèn trước gió liền biết là nhà Tống sắp bại vong trước ngoại tộc Nguyên- Mông. Lại thấy đất Nam: " là nơi con cháu Viêm-đế trị vì, linh khí ngùn ngụt, thánh nhân giáng trần, cầm gươm đuổi ác quỷ, đó là nơi có thể an thân" bèn bàn với phu nhân, họp mặt tộc nhân và cương quyết đem 2000 tộc nhân họ Hoàng sang Đại Việt cư ngụ. Hoàng Bính nói rõ ý định của mình với vua Trần Thái Tông và xin vua cho gia tộc của mình được lưu lại đất Nam. Đương Thái Tông còn đang phân vân, Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải, năm đó mới 16 tuổi đã tâu:

" Tâu phụ hoàng. Hôm trước Vũ Thành vương (Trần Doãn) cùng gia thuộc bỏ Đại Việt sang Tống. Chính Hoàng tiên sinh bắt trả cho Đại Việt. Bây giờ Hoàng tiên sinh bỏ chạy sang ta, mà ta cho lưu ngụ, thì Tống sẽ coi ta ra gì nữa?"

Lúc này ở điện chầu, ngoài Hoàng Bính thì có một tộc nhân họ Hoàng khác chính là cô nương 16 tuổi Hoàng Chu Linh. Chu Linh nghe Chiêu Minh Đại vương nói vậy liền bất giác bật cười.

Hoàng thái tử Trần Hoảng ( tức Trần Thánh Tông sau này) thấy nàng cười bèn hỏi bằng tiếng Hoa:

" Hoàng cô nương, không biết xá đệ nói gì không hợp tình sao?"

Chu Linh hữu lễ chắp tay, nói bằng tiếng Việt:

" Thái tử, tiểu nữ vừa từ Trung Nguyên đến Đại Việt, đã được diện kiến long nhan, cùng chư vị anh hùng, e rằng cung kính còn sợ chưa đủ lễ, có đâu dám vô phép? Có điều tiểu nữ thấy tướng của Chiêu Minh vương tốt quá, nhịn không được, mà thốt ra tiếng suýt. Rất mong lượng cả bao dung."

Quang Khải thấy vậy bèn hỏi:

" Vậy là cô nương thấy số của cô gia tốt. Vậy chẳng hay sự nghiệp sau này sẽ ra sao ?"

Chu Linh nói:

" Nếu vương gia cho tiểu nữ được hay biết giờ, ngày, tháng, năm sinh, tiểu nữ hợp Tử-vi với tướng mệnh thì có thể trả lời hết các câu hỏi của vương gia."

Thái tử Hoảng vội đáp thay cho Quang Khải:

" Cô gia sinh ngày 9 tháng 11 năm Tân Sửu, giờ Dậu."

Chu Linh bấm tay rồi nói:

" Hôm nay tiểu nữ đã được xem số tướng của một anh hùng phương Nam. Các anh hùng sinh ra đều không gặp thời, nhưng vương gia thì lại sinh rất đúng thời. Trước hết mệnh của vương gia đóng tại Mão, Cự, Cơ thủ mệnh, có Hóa lộc phù trì đó là cái cách của bậc tể thần, cách của một văn thần. Thế nhưng cung quan tại Mùi, ngộ Hình. Hình là thanh kiếm, trong khi mệnh ngộ Tang môn. Thế thì vương gia còn có tài đại tướng bách chiến, bách thắng. Thêm Lộc tồn cư thiên di, là cái cách song lộc, văn chương quán thế."

Thái tử Hoảng nghe vậy liền hỏi Chiêu Minh vương có thể giống Khai Quốc vương Lý Long Bồ, con trai thứ hai của Lý Thái Tổ triều Lý hay không. Chu Linh lắc đầu nói:

" Tiểu nữ không nói thế. Tiểu nữ xin so sánh. Hai vị đều là con một minh quân sáng nghiệp. Hai vị cùng có tài nghiêng trời lệch đất, muốn đem tài đó ra phù tá anh minh, hầu làm cho dân giầu nước mạnh. Khai Quốc vương thâm nhiễm Phật pháp. Còn Chiêu Minh vương lại uyên thâm đạo Thánh. Khai Quốc vương bị anh là vua Lý Thái Tông ghen tài, nghi ngờ, chèn ép. Ngược lại Chiêu Minh vương với Thái tử thì anh em thân với nhau như cá với nước, mỗi lời, mỗi ý vương bàn với Thái tử, đều đươc Thái tử nghe theo. Khai Quốc vương có tài đại tướng, nhưng không có văn tài, lại không thi thố được cái tài đại tướng. Ngược lại, Chiêu Minh vương khi ngồi tại triều, phò tá thiên tử, lúc nhàn rỗi, lại bầu rượu túi thơ, ngao du sơn thủy; cũng có lúc ngồi trên mình ngựa, xông pha ngoài trận, thỏa chí nam nhi. Hỡi ơi! Cuộc đời vương gia thực là cuộc đời xẻ núi, lấp sông. Sau này, vạn vạn năm, danh của vương gia ghi trong thanh sử. Nam nhi đại trượng phu được như vương gia, trong thế gian có mấy người."

Thái tử Hoảng cùng Quang Khải nghe vậy gật gù, chỉ vào Vũ Uy vương Trần Nhật Duy (武威王陳日維), một Hoàng tử của Trần Thái Tông, nói rõ ngày tháng giờ sinh của Hoàng tử, rồi xin nhờ Chu Linh xem số. Nàng nói:

" Mừng cho Thái tử. Xưa Hậu chúa Lưu Bị có người em kết nghĩa là Trương Phi phò tá mà thành đại nghiệp. Ngày nay Thái tử có em ruột nhất tâm, nhất trí khuông phò. Thực là trời đem vương ban cho Thái tử. Số của vương gia hơi giống số của Trương Phi thời Tam quốc. Vương gia tuổi Nhâm Dần. Mệnh của vương lập tại Dần.Thất sát thủ mệnh. Cái cách Thất sát tại Dần, Tử vi kinh gọi là Thất sát triều đẩu. Nhất sinh tước lộc vinh xương. Đúng ra Thất sát thủ mệnh thì da vương gia đen như nhọ chảo. Nhưng vì vương gia sinh giờ Thân, có Văn xương thủ mệnh, thành ra da trắng trẻo. Thất sát là thượng tướng tinh đẩu, nên dù Văn ương thủ mệnh, vương gia vẫn thích luyện võ hơn là học văn, cho nên võ công vương gia cao thâm không biết đâu mà lường. Cung Thiên di có Tử, Phủ trấn ngự, mà tuổi Nhâm, nên được cả Hóa lộc, Hóa quyền phù trợ...Thì hỡi ơi ! Số vương gia là số anh hùng, cả đời ngồi trên mình ngựa, ba thước gươm xông pha ngoài chiến trường, mà lưu danh muôn thủa."

Nghe Chu Linh nói xong, cả triều khâm phục, các thần tử đều nhanh chóng nói ra ngày tháng giờ sinh để nàng xem tướng. Trong đó nổi bật nhất là gia đình Phú Lương hầu (富良侯), bao gồm Hầu gia Trần Tử Đức (陳子德), Hầu phu nhân Bùi Thiệu Hoa (裴紹華) và muội muội ruột của Trần Tử Đức là Ý Ninh Quận chúa (懿寧郡主).

Đối với Phú Lương hầu Trần Tử Đức, Chu Linh cho rằng thiên cơ bất khả lộ, lộ thì tổn hại âm đức. Nàng chỉ xin Thái Tông ban cho giấy mực, rồi viết một bài thơ cung kính dâng lên vua:

Ô hô !

Trung khả hữu nhị,

Nghĩa bất quá tam.

Anh hùng vi đệ nhất.

Sinh vi tướng, tử vi thần.

Vạn thế danh lưu thanh sử,

Nam thiên đại đại tồn chính khí ».

(Than ôi ! Trung như người này có thể kiếm được hai, nghĩa khí như người này không tìm được quá ba. Người này sinh làm tướng, chết làm thần. Tên ghi lại thanh sử, chính khí thời thời lưu lại ở trời Nam ).

Vua khen hay, nói rằng đây là điều mà tất cả thần tử đều mong ước. Vì vậy triều thần mặc dù không biết Chu Linh đã viết gì, nhưng cũng đoán được rằng số tướng của Phú Lương hầu rất tốt. Nàng lại quay ra chỗ Hầu phu nhân Bùi Thiệu Hoa:

" Ái chà! Kể ra trong giới nữ lưu, mấy người được như phu nhân. Này nhé, nhan sắc nghiêng thành, đổ núi, võ công cao tuyệt đỉnh, văn học uyên bác. Hiện nay phu nhân cùng quân hầu, ngồi trên mình nựa, trấn ngự biên cương. Hào hùng thay. Sự nghiệp của phu nhân sau này đâu có thua gì công chúa nữ tướng Lê Chân thời Lĩnh Nam."

Ý nàng Hoàng rằng Thiệu Hoa sẽ cùng chồng tuẫn quốc, nhưng hiện diện không ai hiểu ý của nàng. Chu Linh ví Thiệu Hoa giống Thánh Chân Công chúa Lê Chân, nữ tướng của Hai Bà Trưng là dự đoán tương lai ở trận Phù Lỗ chống quân Mông Nguyên năm 1258, Phú Lương hầu Trần Tử Đức anh dũng chặn giặc cứu giá cho vua Thái Tông mà hi sinh, phu nhân Thiệu Hoa làm lễ tế chết theo chồng. Hai vợ chồng đều là anh hùng lưu danh thiên cổ của Đại Việt. Trần Tử Đức sau này được truy phong làm Nghĩa Hoài vương ( 義懷王) và phu nhân Bùi Thiệu Hoa được truy tặng làm Hiếu Khang Linh Anh Trinh Nhất Công chúa (孝康靈英貞一公主).

Ngoài ra, Chu Linh còn nhìn sang Ý Ninh Quận chúa, em gái của Phú Lương hầu mà nói rằng:

" Quận chúa, sự nghiệp của người vẻ vang không kém danh tướng đâu."

Ý Ninh Quận chúa từ nhỏ được rèn luyện võ công, sau này cũng anh trai đi đánh giặc Mông Nguyên lập công lớn, được phong làm Hồng Đức Trang Duệ Vũ Thắng Công chúa (洪德莊睿武明公主). Bà là Vương phi của Vũ Uy vương Trần Nhật Duy và chính là thân mẫu của Hoài Văn vương Trần Quốc Toản.

Để thử tài Hoàng Chu Linh một lần nữa, Trần Thái Tông cho vời Thái sư Trần Thủ Độ cùng Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung đến và nhờ Thái sư giả làm một ông lão nhà quê ăn mặc y phục rách rưới tên Vũ Thủy, nói dối đây là lão nhân đồng hương trông coi vườn Thượng Uyển, nhờ Hoàng cô nương xem tướng số sống được mấy năm nữa. Chu Linh tủm tỉm cười, như ánh nắng ban mai, nhờ vua cho ngày tháng năm sinh, rồi nói :

" Cứ như tướng tiên sinh: Dáng đi như con diều hâu rình mồi, mắt hổ, đầu lân, tay vượn...Thì e tiên sinh chỉ ngồi dưới một người, mà trên vạn vạn người. Còn số Tử vi, để tiểu nữ tính xem. Số với tướng đều giống nhau. Nếu đúng tiên sinh là người làm vườn thì tài tiểu nữ không tới. Tiểu nữ chẳng dám đem ra bàn, e mất thời giờ vàng ngọc của đấng chí tôn, của chư vị anh hùng.

Nhà vua thấy chuyện vui vui, ngài tiếp:

"Giả như số đó là đúng của lão Vũ Thủy. Vậy cô nương thử đoán cho lão ít câu."

Từ đầu đến cuối Hoàng Bính để cho con gái mình đối đáp. Bây giờ ông mới nói với Trần Thủ Độ:

"Thưa tiên sinh, giả như Linh nhi đoán đúng hết thân thế, sự nghiệp của tiên sinh, thì tiên sinh tính sao?

"Thì tôi phải chiều cô ấy ba việc."

"Còn như Linh nhi đoán sai, thì toàn gia chúng tôi xin trở về Tống."

Triều đình giật mình, vì không ngờ Hoàng Bính dám đánh cuộc lớn quá như vậy. Nhà vua định bảo Trần Thủ Độ bỏ cuộc, nhưng Thái sư vẫn đánh cuộc tiếp.

Chu Linh bấm tay tính nhẩm, rồi nói:

" Mệnh của tiên sinh lập tại Dần, Tử, Phủ thủ mệnh. Tử-vi, Thiên-phủ đều là đế tinh. Vì vậy tiên sinh thuộc loại mệnh cực lớn. Tiên sinh sinh ra đúng thời, là người tạo ra thời thế. Tất cả thăng trầm của Đại Việt trong vòng 50 năm qua, đều do một tay tiên sinh nắn bóp thành voi, thành hổ, tùy ý.Tiên sinh tuổi Dần, mệnh lập tại Dần, thì trong người có đến hai ông kễnh thủ mệnh, lại thêm sao Thiên-hình phù trì. Tử-vi kinh nói: Hình hổ cư Dần, hổ đới kiếm hùng, tương phùng đế cách, ư Giáp Kỷ nhân, uy vũ trấn động. Nghĩa là: Người có Thiên-hình, với Bạch-hổ, hay tuổi Dần, là cách hổ đeo kiếm hùng. Người tuổi Giáp, tuổi Kỷ, uy vũ trấn động. Có điều tiên sinh được Lộc-tồn thủ mệnh, Hóa-lộc cư quan, là cách song lộc, thì là người chuyên quyền."

Thái sư vội nói:

" Lão phu là người làm vườn thì chuyên quyền với ai?"

" Tiên sinh khỏi chối. Này tiên sinh ơi! Ví như tiên sinh làm người chèo đò, thì tiên sinh cũng chỉ huy ngược lại người chủ. Tiên sinh làm phó lý thì cũng áp chế lý trưởng. Có điều Thiên hình miếu địa ở mệnh, thì dù tiên sinh chịu ơn ai một bát cơm, sau sẽ trả bằng một kho thóc. Bị ai mắng một câu, sau này tiên sinh sẽ tru di tam tộc nhà người ta."

Chu Linh liếc mắt thấy Khâm Thiên Đại vương Trần Nhật Hiệu, Vũ Uy vương Trần Nhật Duy và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đều gật đầu lia lịa, tỏ ý đồng tình.

" Phu nhân của tiên sinh có Phá-quân, ngộ Hóa-quyền, Thai, lại bị Kiếp, Không chiếu thì duyên tình của tiên sinh rối như mớ bòng bong. Cho đến giờ này cũng chưa xong, còn chạy như ngựa nhong nhong. Năm trên mười tuổi, tiên sinh gặp một người. Rồi hai người thề non, hẹn biển, định cuộc trăm năm, không cần mai mối, cũng chẳng thỉnh mệnh cha mẹ. Mà dù cha mẹ có cản trở, tiên sinh cũng không nghe nào! Thế rồi không hiểu vì lý do gì, hai người xa nhau. Nàng tuân lệnh cha mẹ lấy chồng. Tiên sinh hóa điên, hóa khùng, nhưng nhất quyết trung thành với nàng. Vì vậy khi chồng nàng qua đời, tiên sinh với nàng nối lại tình xưa. À, có một điều tiểu nữ nói tiên sinh đừng giận. Kể về uy quyền, thì tiên sinh thuộc loại vương bất vi vương, bá bất vi bá, nhi quyền khuynh thiên hạ.Nghĩa rằng tiên sinh chẳng là vua, cũng chẳng là bá, mà quyền nghiêng thiên hạ. Thế nhưng, bất cứ một người ở địa vị cao sang cũng năm thế bẩy thiếp. Riêng tiên sinh thì chỉ biết có một phu nhân mà thôi"

Nghe xong cả triều đình đều bật cười. Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung nghe xong vui vẻ nói:

" Về chuyện phòng the, tiên sinh này cũng sợ vợ nhất Đại Việt."

Chu Linh nói tiếp:

" Cung quan của tiên sinh có Liêm-trinh, Thiên-tướng, thì tiên sinh là người võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Danh tiếng bốn bể. Nhưng tiếc rằng cung quan ngộ Thiên-không, nên tiên sinh hành sự bất chấp luật pháp, chẳng kể đạo lý. Có lúc tiên sinh thành người nửa chính, nửa tà, nửa ma, nửa quỷ. Tiểu nữ e muôn nghìn năm sau còn bị dị nghị. Nhưng... dù ai dị nghị, thì chỉ dị nghị về cá nhân tiên sinh. Còn đối với đất nước, quả thật công nghiệp cũng như tấm lòng của tiên sinh sáng như trăng rằm, không ai chê trách được.Thưa tiên sinh, xét số tiên sinh, thì tiên sinh chính là Thái sư Trần Thủ Độ."

Trần Thái Tông thấy vậy cao hứng tuyên chỉ:

" Thái sư thua Hoàng cô nương rồi. Ngài phải làm cho nàng ấy ba điều ước đi thôi."

Linh Từ Quốc mẫu nhìn Hoàng Chu Linh đánh giá:

" Trong nội cung ta mà có một thiếu nữ thông kim, bác cổ như Hoàng cô nương, kể cũng là điều tốt."

Dựa vào ba điều trong vụ đánh cược, Hoàng Chu Linh đã thành công định cư gia tộc Hoàng thị ở Đại Việt. Hoàng Bính muốn tỏ lòng thân phục Trần triều, bèn theo thánh ý mà đang con gái. Tháng 6 năm Nguyên Phong (1257), Hoàng Chu Linh tiến cung, được phong Huệ Túc Phu nhân, rất được vua Thái Tông xem trọng, yêu quý. Khi phu nhân nhập cung thì từ tư thái, ngôn ngữ, cư xử khác phàm. Từ Hoàng hậu đến cung nga, thái giám không ai mà không nể phục, còn được tin tưởng giao cho dạy dỗ các cung phi trong hậu cung. Phu nhân không sinh một người con nào cho Thái Tông nhưng vẫn giữ ngôi vị như chủ lục cung, khi Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu Lý thị qua đời từ lâu.

Giúp Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn giữ chức Quốc công tiết chế[sửa | sửa mã nguồn]

Ai cũng hay việc Thái sư Trần Thủ Độ đã ép gả Thuận Thiên Hoài Vương phi, vốn là phu nhân của Hoài vương Trần Liễu cho Thái Tông Trần Cảnh, buộc Thái Tông phải bỏ thê tử Chiêu Thánh Hoàng hậu. Việc ép hôn loạn luân quá trắng trợn này khiến Trần Liễu không chịu nổi phẫn uất bị cướp vợ mà ra sông Cái làm loạn, tuy cuối cùng bị thua và ban cho vùng đất An Sinh, nhưng Trần Liễu vẫn ôm mối hận đều cuối đời, còn dặn Trần Quốc Tuấn, con trai của mình, là phải cướp lại bằng được ngôi báu của nhà Trần. Lời nói trước lúc lâm chung của Trần Liễu làm Thái Tông rất kiêng kị. Một hôm Thái Tông ngồi thưởng ngoạn với Huệ Túc Phu nhân, vờ nói:

" Phu nhân mới muời sáu tuổi mà làu thông Bách gia, Chư tử, Cửu lương, Tam giáo, không biết có lời nào dạy cho quả nhân chăng?"

Phu nhân tâu:

" Thánh dạy: Nam tại ngoại, nữ tại nội. Thiếp đã được hầu bệ hạ và Hoàng hậu thì xin chỉ bàn chuyện trong nhà mà thôi. Khi thiếp mới đến đất Nam đã nghe thấy chuyện huynh đệ tương tranh."

Thái Tông phán:

" Trẫm đang đau đầu về việc ấy đây. Phu nhân có cao kiến gì chăng?"

Phu nhân tâu:

" Thiếp nghe An Sinh vương (Trần Liễu) trước khi quy tiên nói : 'Dòng họ Đông A nhà ta trải qua ba đời, ngôi mộ tổ Ngũ đại để vào chỗ đất nóng nên phải qua ba đời Võ cách phát liên Hầu Bá, duy hiềm tử thương trận địa. Từ đời thứ tư đất nguội mới phát đế vương. Nhờ bà cô (Trần Thị Dung) mới lấy được thiên hạ. Sau này Thái sư làm chuyện trái đạo. Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.'."

Lại nói :

" Bệ hạ nhận ngôi trời là do phúc trạch nhiều đời để lại và công lao vào ra sinh tử của Tiên Vương, phú quý nên để anh em cùng hưởng. Thái Sư đã làm chuyện không đúng, bệ hạ phải chuộc lại. An Sinh Vương huynh có phẫn hận khi lâm chung cũng không có gì là quá đáng. Xưa kia Ngụy Võ Đế vì câu nói “ta thà phụ người, chớ không để người phụ ta” mà phải tốn không biết bao nhiêu xương máu mà cũng không quang phục nổi. Chiêu Liệt Đế vì câu nói “Ta thà chịu người phụ, chớ không nỡ phụ người” mà lấy được Tam Xuyên. Nay bệ hạ lấy đó làm gương. Xin bệ hạ hãy quên đi lời trối của An Sinh Vương huynh, mà trọng dụng các thế tử của người để chuộc lỗi lầm do Thái Sư gây ra. Mai này nếu họ làm chuyện đại nghịch thì ngôi trời cũng vẫn còn trong tay họ Đông A. Còn họ nhất tâm khuôn phò xã tắc thì đó là điều đại phúc nhà ta. Thiếp xem Tử Vi cho các thiếu niên trong Hoàng Tộc thấy họ đều là các vị anh hùng xã tắc mai sau. Sự nghiệp của Quang Khải, Quốc Tuấn mai sau rực rỡ vô cùng. Số của Quốc Tuấn là số của một vị anh hùng, là bậc thánh nhân chắc không có việc tạo phản đâu. Trong số các vị thái tử, thiếp chỉ lo có số của Đệ tứ Hoàng tử Trần Ích Tắc thông minh, nhưng sau này hình khắc lục thân, trôi nổi …"

Thái Tông nghe phu nhân nói xong cảm thán cho là phải, bèn phong Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, tổng chỉ huy của Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt, mặc cho trong ngoài gièm pha, bàn luận, ngăn cản. Quả nhiên sau này Trần Quốc Tuấn không hề cướp ngôi nhà Trần như người cha Trần Liễu dặn mà còn hết lòng tận trung vì nước, xông pha trận mạc, vào sinh ra tử trên chiến trường, lập được chiến công hiển hách, uy danh lẫy lừng. Còn Trần Ích Tắc sau này quả nhiên là kẻ tham vọng, cướp ngôi không thành đành phải lưu vong sang nước Nguyên, cuộc đời bấp bênh, trôi nổi. Ở thời Trần Thánh Tông, Huệ Túc Phu nhân được tôn làm Huệ Túc Hoàng thái phi (惠肃皇太妃), và ở thời Trần Nhân Tông thì là Huệ Túc Thái hoàng thái phi (惠肃太皇太妃).

Cứu mạng Đoàn Nhữ Hài[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Nhữ Hài vốn là một danh thần của nhà Trần. Năm Mậu Tuất (1298), tháng sáu, mùa hạ, nhằm niên hiệu Hưng Long thứ 6, Đoàn Nhữ Hài may gặp được vua Trần Anh Tông phong cho chức Xử Mật Viện. Lúc này ở trong cung, Huệ Túc Phu nhân đã được tôn phong làm Huệ Túc Thái thái hoàng thái phi ( 惠肃太太皇太妃), với tư cách là phu nhân của Trần Thái Tông, kế mẫu của Trần Thánh Tông, nội tổ mẫu của Trần Nhân Tông và cụ bà của Trần Anh Tông. Vì Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu Lý thị đã băng thệ từ lâu, nên Huệ Túc Thái thái hoàng thái phi hiển nhiên ngồi ở ngôi cao nhất lục cung, được các vua kính trọng nhất. Lúc này thì Đoàn Nhữ Hài đương vào cung bái yết Khâm Từ Hoàng hậu ( lúc này chính là Bảo Thánh Hoàng thái hậu, vợ của Nhân Tông) cùng Bảo Từ Hoàng hậu Trần thị ( vợ của Anh Tông). Bảo Thánh Hoàng thái hậu nói với Nhữ Hài:

" Ta tuy là Thái hậu, nhưng ở trên còn có Huệ Túc Thái thái hoàng thái phi. Khanh cùng ta đi bái kiến ngài ấy đã."

Hài đến cung, Huệ Túc Phu nhân đón ở lầu Tinh các (lầu nghiên cứu thiên văn). Hài sụp xuống khấu đầu, Phu nhân phán:

" Sáng nay thấy thủy tiên nở mười cánh, ta bấm độn biết là có đại thần đến viếng, tiếc rằng ta đón trễ, e không đủ lễ với bậc trung lương."

Bảo Thánh Hoàng thái hậu tâu:

"Tâu tổ mẫu, tiểu hài nhi (chỉ vua Anh Tông) vì say rượu suýt bị tội. Được Đoàn tiên sinh đây dùng văn tài tạ tội cho mới thoát."

Phu nhân phán:

"Thủa hoàng thượng (chỉ vua Anh Tông) mới ra đời, ta tính số thấy Đồng, Lương, Tang, Mã ở Mệnh thêm Hình …ta đã biết có việc này rồi. Đồng, Lương ham chơi có thể gây ra tai họa. Nhưng là phúc tinh thì không bao giờ bị truất ngôi cả. Có Tang, Hình đắc địa thì sau này càng lớn càng nghiêm cẩn, uy nghi tài ba, Thái hậu đừng lo."

Thái hậu lại tâu:

" Đoàn tiên sinh được Thái thượng Hoàng (Trần Nhân Tông) và Hưng Nhượng Vương xem số cho phê là: văn mô, vũ lược, chí cả, tâm hùng."

Lại quay lại bảo Hài:

" Này Đoàn tiên sinh, Thượng hoàng nhà ta ( ý chỉ Trần Nhân Tông) và Hưng Nhượng Vương (Trần Quốc Tảng) đều được Thái thái hoàng thái phi đây truyền dạy về Tử Vi Đẩu Số đấy."

Hài trình lên niên canh: Tuổi Kỷ Mão, tháng 9, ngày 1, giờ Mão.

Phu nhân nói:

"Cái cách của tiên sinh gọi là Nhật Nguyệt tịnh minh thì thế nào cũng phò tá đế vương. Bậc cao nhất là tể tướng. Lại có Xương, Khúc, Long, Phượng, Kỵ thì văn tài xuất chúng. Có Kình miếu thì vũ lược siêu quần, vì thế mà Thượng Hoàng mới phê là văn mô vũ lược, chí cả tâm hùng."

Thái hậu hỏi:

"Thần thấy tiên sinh có cách “Tam hợp minh châu, đa chiết quế”. Ngoại hợp có Khoa, cư trung Xương, Khúc sao tiên sinh không đậu đại khoa? Không đậu đại khoa làm sao lên tới tể tướng được?"

Phán:

"Số trời cả. Có bao giờ vua bị học trò túm áo đâu? Tại sao Đoàn tiên sinh lại túm áo vua? Lão Thái Sư (Thủ Độ) có đậu đạt gì đâu mà cũng là tể tướng? Sự nghiệp tiên sinh đây sau này làm tới Hầu, Bá là đàng khác. Còn tại sao tiên sinh không đậu? là vì hạn còn xấu quá. Hạn xấu thì làm sao mà đậu được. Trong khi số lại có công danh sớm, nên nay có danh mà không có khoa vậy."

Thái hậu hỏi:

" Cung Nô của tiên sinh tại Tý có Tham là Phiếm Thủy Đào Hoa, lại thêm Quyền, Tả, Hồng có gì đáng lo chăng?"

Đáp:

"Tham cư Nô tại Tý thì thế nào cũng có ngày tỳ thiếp làm rối kỷ cương. Quyền, Tả chế được. Tham 3 độ, Đào 3 độ, Hồng 3 độ ở cùng chung nhau thành 27 độ xấu. Quyền 3 độ, Tả 3 độ thành 9 độ không đủ chế 27 độ xấu. Nhưng Mệnh có Xương, Khúc, Kình thì bình thường chế được mà gia cang vững. Sợ là khi hạn gặp các dâm tinh thì như giặc ngoài đột nhập, trong nhà khó giữ nổi kỷ cương. Sang năm tới đây, đại hạn tiên sinh ở Tỵ, có Cơ, Hình, Mã, Đà, Tang. Tiểu hạn tại Dậu có Riêu, Hao, Hỏa, Hư. Lưu Kình nhập Mệnh, lưu Đà nhập đại hạn. Dâm tinh quá mạnh, cung Nô phát dậy thế nào cũng vì má đào mà gây họa nguy khốn. Phải nhờ lưu Thái Tuế gặp Thái Âm thành Quyền tinh tại cung Hợi giải cho nên thoát nạn."

Hài tâu:

" Thượng Hoàng xem số bảo thần vì má đào mà bị trảm, nên xé bìa kinh Kim Cương viết cho mấy chữ: “Tứ đại giai không. Miễn tử” để khi hữu sự thì dùng đến."

Phu nhân phán:

– Thượng Hoàng cũng là Nô cung của tiên sinh đấy, tờ giấy ấy là Tả, Quyền đấy, tiên sinh đưa cho ta giữ cho.

Tháng tư niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299) trong nội cung khám phá ra chuyện tình giữa Đoàn Nhữ Hài và Thứ phi Giao Châu, vốn là phi tử của vua Trần Anh Tông. Triều đình nghị án trảm cả hai.

Phu nhân hay được bèn ngự tới sân rồng. Triều đình đồng bái lạy, Phu nhân nói:

" Xin Hoàng thượng và triều đình cho ta góp vài lời quê mùa nên chăng?"

Vua Anh Tông phán:

"Hài nhi kính cẩn xin nghe lời nghiêm huấn của Thái tổ mẫu."

Phán:

" Thái Tông nhà ta đức rộng như biển. An Sinh Vương dặn Thượng Phụ (Hưng Đạo Vương) cướp ngôi, ngài biết cả. Thế mà vẫn trọng dụng Thượng Phụ, nên họ Đông A mới làm nên đại nghiệp phá Thát đát. Nay Giao Châu bất quá 16 tuổi, Đoàn tiên sinh bất quá 21 tuổi. Tiên sinh chưa vợ. Giao Châu tiến cung đã 6 tháng không gặp thiên tử. Trai tài gái sắc họ cảm nhau là chuyện thường. Nay vì chút ít kỷ cương mà giết một công thần tài đức, làm mất đi đức bao dung của Tiên đế không? Sao bằng tác hợp cho Đoàn tiên sinh đây và Giao Châu thành phu phụ để tuyên đức bao dung của triều đình. Trọn đời họ là kẻ chịu ơn triều đình, nhất tâm khuôn phò xã tắc, quý thay."

Anh Tông nói:

" Hài nhi không chủ trương được việc này. Hình pháp đã định."

Phu nhân phán:

"Giao Châu là cung phi, thì để cho nội cung xử. Ta là phu nhân của Thái Tông, bậc cao nhất nội cung, để ta lãnh xử. Còn Đoàn tiên sinh làm Xử Mật Viện là người của họ Đông A hơn của triều đình, xin giao cho Thân Vương xử."

Vua Anh Tông và triều đình cúi đầu vâng mệnh. Giao Châu phục xuống ôm chân phu nhân mà khóc. Lệ nhà Trần là các Thân Vương về ấp ở, mỗi tháng có một vị ở triều đại diện mà thôi. Tháng tư đến lượt Trấn Bắc Đại Tướng quân Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản . Hầu kính cẩn thưa:

"Thánh đức của Thái Tôn nhà ta nên giữ lấy. Thần xin tác hợp cho Đoàn tiên sinh và Giao Châu."

Triều đình nhất nhất tuân theo. Bấy giờ, Phu nhân mới rút trong tay áo ra tấm bìa kinh Kim Cương có bút tích của Thái thượng hoàng: “Tứ đại giai không. Miễn tử” đưa ra. Anh Tông và cả triều đình tung hô vạn tuế.

Sau khi qua đời, Huệ Túc Phu nhân để lại bộ Đông A Di Sự (東阿怡事) viết chân thực về nội cung triều Trần. Sau này cuốn sách được viết tiếp bởi Tư đồ Trần Nguyên Đán.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

1.      http://dongafengshui.vn/chuyen-muc/phong-thuy-ly-so-khao-luan/hue-tuc-phu-nhan-liet-truyen/

2.      https://trithucvn.net/van-hoa/ly-ky-chuyen-nguoi-da-giup-tran-quoc-tuan-giu-chuc-quoc-cong-tiet-che-danh-bai-quan-nguyen-mong.html

3.      https://trithucvn.net/van-hoa/sinh-vi-tuong-tu-vi-than-loi-tien-doan-ve-vi-anh-hung-chong-quan-mong-co-lan-1.html