Huyết thanh học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Huyết thanh học là bộ môn nghiên cứu khoa học về huyết thanh và các chất dịch cơ thể khác. Trong thực tế, thuật ngữ thường đề cập đến việc xác định chẩn đoán các kháng thể trong huyết thanh.[1] Các kháng thể này thường được hình thành để đáp ứng với nhiễm trùng (chống lại một loại vi sinh vật nhất định),[2] chống lại các protein ngoại lai khác (ví dụ, phản ứng với truyền máu không khớp) hoặc với protein của chính mình (trong trường hợp bệnh tự miễn).

Các xét nghiệm huyết thanh học có thể được thực hiện cho mục đích chẩn đoán khi nghi ngờ nhiễm trùng, trong các bệnh thấp khớp và trong nhiều tình huống khác, chẳng hạn như kiểm tra nhóm máu của một cá nhân.[1] Xét nghiệm máu huyết thanh học giúp chẩn đoán bệnh nhân bị thiếu hụt miễn dịch nhất định liên quan đến việc thiếu kháng thể, chẳng hạn như bệnh agammaglobulinemia liên kết với X. Trong những trường hợp như vậy, xét nghiệm tìm kháng thể sẽ liên tục âm tính.

Phương pháp huyết thanh học là phương pháp chẩn đoán được sử dụng để xác định kháng thể và kháng nguyên trong mẫu bệnh nhân là huyết thanh và huyết tương. Có một số phương pháp huyết thanh học cổ điển như Kết tụ và Kết tủa được sử dụng để xác định các bệnh truyền nhiễm và xác định nhóm máu người.[3]

Có một số kỹ thuật huyết thanh học có thể được sử dụng tùy thuộc vào các kháng thể được nghiên cứu. Chúng bao gồm: ELISA, ngưng kết, kết tủa, cố định bổ sung và kháng thể huỳnh quang và gần đây là phát quang hóa.

Một số xét nghiệm huyết thanh không giới hạn trong huyết thanh, nhưng cũng có thể được thực hiện trên các chất dịch cơ thể khác như tinh dịchnước bọt và dịch não tủy (CSF) có thể chứa kháng thể.

Các xét nghiệm huyết thanh học cũng có thể được sử dụng trong huyết thanh học pháp y, đặc biệt đối với một bằng chứng (ví dụ, liên kết một kẻ hiếp dâm với mẫu tinh dịch).

Khảo sát huyết thanh học[sửa | sửa mã nguồn]

Các khảo sát huyết thanh học thường được sử dụng bởi các nhà dịch tễ học để xác định tỷ lệ mắc bệnh trong dân số. Các khảo sát như vậy đôi khi được thực hiện bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên, ẩn danh từ các mẫu được lấy cho các xét nghiệm y tế khác hoặc để đánh giá mức độ phổ biến của kháng thể của một sinh vật cụ thể hoặc hiệu giá kháng thể trong quần thể. Các khảo sát huyết thanh thường được sử dụng để định lượng tỷ lệ người hoặc động vật trong quần thể dương tính với một kháng thể cụ thể hoặc hiệu giá hoặc nồng độ của kháng thể. Những khảo sát này có khả năng là kỹ thuật trực tiếp và nhiều thông tin nhất có sẵn để suy ra tính năng động của tính nhạy cảm và mức độ miễn dịch của dân số.[4]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng thí nghiệm y tế
  • Chuyển đổi huyết thanh
  • Serovar
  • Kỹ thuật viên y tế
  • Tiến sĩ Geoffrey Tovey, nhà huyết thanh học
  • Huyết thanh pháp y

Ghi chú và tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ryan KJ, Ray CG biên tập (2004). Sherris Medical Microbiology (ấn bản 4). McGraw Hill. tr. 247–9. ISBN 978-0-8385-8529-0. 
  2. ^ Washington JA (1996). Baron S và đồng nghiệp, biên tập. Principles of Diagnosis: Serodiagnosis. in: Baron's Medical Microbiology (ấn bản 4). Univ of Texas Medical Branch. ISBN 978-0-9631172-1-2. 
  3. ^ https://portal.fmed.uniba.sk/articles.php?aid=231. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  4. ^ Sử dụng các khảo sát huyết thanh học để tạo ra những hiểu biết chính về tình hình bệnh truyền nhiễm đang thay đổi C Jessica E Metcalf, Jeremy Farrar, Felicity T Cutts, Nicole E Basta, Andrea L Graham, Justin Lessler, Neil M Ferguson, Donald S Burke, Bryan T Grenfell

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]