Ân Thi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Huyện Ân Thi)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ân Thi
Huyện
Địa lý
Diện tích 128,2 km²
Dân số (1999)  
 Tổng cộng 125.500 người
Dân tộc Kinh
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Hồng
Tỉnh Hưng Yên
Huyện lỵ thị trấn Ân Thi
Phân chia hành chính 1 thị trấn, 20 xã
Website http://www.anthi.hungyen.gov.vn/

Ân Thihuyện nằm ở phía đông của tỉnh Hưng Yên, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ân Thi là một huyện nằm ở phía đông của tỉnh Hưng Yên - tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí địa lý:

Diện tích tự nhiên của huyện là 128,22 km2 và dân số năm 1999 là 125.500 người.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Ân Thi có 1 thị trấn và 20 xã, gồm thị trấn Ân Thi (huyện lỵ) và 20 xã: Bắc Sơn, Bãi Sậy, Cẩm Ninh, Đa Lộc, Đặng Lễ, Đào Dương, Hạ Lễ, Hồ Tùng Mậu, Hoàng Hoa Thám, Hồng Quang, Hồng Vân, Nguyễn Trãi, Phù Ủng, Quảng Lãng, Quang Vinh, Tân Phúc, Tiền Phong, Vân Du, Văn Nhuệ, Xuân Trúc.

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Âm Thi là một huyện đồng bằng thuần nông, chuyên canh lúa nước, dân trí tương đối cao, dân cư chủ yếu là dân tộc Kinh, chủ yếu theo đạo Phật, đạo Mẫu (số ít theo Thiên chúa giáo).

Trên địa bàn huyện có nhiều di tích văn hóa, lịch sử như: đền thờ Đế Thích ở Cẩm Ninh, đền thờ Đạo Đức Thiên Tôn ở Hồng Vân, đền thờ Thừa tướng Lữ Gia, tướng Lang Công, Cao Biền, Tả AoNam Trì (Đặng Lễ), đền thờ Phạm Ngũ Lão ở Phù Ủng...

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Trên địa bàn huyện có 3 quốc lộ đi qua, gồm: quốc lộ 38, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (hoàn thành năm 2015) và quốc lộ 39 mới (dự án).

Đường quốc lộ 38 chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, từ thị trấn Kẻ Sặt huyện Bình Giang, cắt ngang huyện, qua thị trấn Ân Thi, sang nối với đường quốc lộ 39 ở Kim Động.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ân Thi thời Hùng Vương thuộc bộ Dương Tuyền. Sau là huyện Thiên Thi thuộc lộ Khoái Châu xứ Sơn Nam rồi Sơn Nam Thượng.

Trước kia, dọc đường 38 địa phận xã Tân Phúc có dấu vết Thánh Gióng đánh giặc Ân trong truyền thuyết là các ao nhỏ (vết chân ngựa) và những bụi tre ngà (vũ khí) liên tiếp trên cánh đồng.

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), tỉnh Hưng Yên được thành lập, Thiên Thi trở thành một huyện của tỉnh Hưng Yên.

Năm Tự Đức thứ 15 (1862), đổi tên các huyện để tránh chữ Thiên thuộc diện các chữ tôn kính, chẳng hạn như huyện Thiên Bản đổi thành Vụ Bản (nay thuộc Nam Định), huyện Thiên Lộc đổi thành Can Lộc (nay thuộc Hà Tĩnh), vua ra lệnh đổi huyện Thiên Thi thành huyện Ân Thi.

Ngày 25 tháng 2 năm 1890, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Bãi Sậy. Một số xã của huyện Ân Thi được cắt sang đạo Bãi Sậy.

Năm 1891, bãi bỏ đạo Bãi Sậy, trả lại các xã đã cắt sang về huyện Ân Thi.

Năm 1968, tỉnh Hải Dương và tỉnh Hưng Yên hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng, huyện Ân Thi thuộc tỉnh Hải Hưng.

Năm 1979, hợp nhất huyện Kim Động và huyện Ân Thi thành một huyện lấy tên là huyện Kim Thi.

Năm 1982, sáp nhập các xã Hiến Nam và Lam Sơn của huyện Kim Thi vào thị xã Hưng Yên (nay là thành phố Hưng Yên).

Ngày 23/3/1996, chia huyện Kim Thi thành hai huyện như cũ và thành lập thị trấn Ân Thi được trên cơ sở xã Thổ Hoàng cũ. Cũng năm đó, tỉnh Hưng Yên được tái lập, huyện Ân Thi lại thuộc tỉnh Hưng Yên.

Từ đó huyện Ân Thi có 1 thị trấn và 20 xã cho đến nay.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Là một địa phương có truyền thống hiếu học, huyện Ân Thi thời phong kiến đã có nhiều vị nổi danh khoa bảng. Sau đây là danh sách các vị đỗ đại khoa của huyện Ân Thi được ghi lại tại Văn miếu Xích Đằng, Hưng Yên:

  1. Nguyễn Trung Ngạn, người Thổ Hoàng, đỗ Hoàng giáp, năm 1304.
  2. Đặng Tuyên, người xã Tiền Phong, đỗ Hoàng giáp năm 1448.
  3. Cáp Phùng, người xã Thổ Hoàng, đỗ tiến sĩ năm 1463.
  4. Vũ Tín Biểu, người xã Tiền Phong, đỗ Tiến sĩ năm 1478.
  5. Nguyễn Lệ, người xã Quảng Lãng, đỗ Hoàng giáp năm 1487.
  6. Nguyễn Thuần Hỗ, người Hồng Vân, đỗ Hoàng giáp năm 1487.
  7. Nguyễn Châu Chu (Nguyễn Thù), người xã Quảng Lãng, đỗ Tiến sĩ năm 1487.
  8. Nguyễn Văn Bính, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1505,
  9. Nguyễn Kiều, người xã Quảng Lãng, đỗ Tiến sĩ năm 1511.
  10. Nguyễn Chấn Chi, người Thổ Hoàng, đỗ Hoàng giáp năm 1518.
  11. Vũ Đàn, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1526.
  12. Đinh Tú, người thôn Nam Trì xã Đặng Lễ, đỗ Tiến sĩ năm 1544.
  13. Hoàng Tuân, người xã Thổ Hoàng, đỗ Bảng nhãn năm 1553.
  14. Nguyễn Đức Trân, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1562.
  15. Đặng Cơ, người xã Quảng Lãng, đỗ Tiến sĩ năm 1556.
  16. Hoàng Chân Nam, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1571.
  17. Hoàng Công Sân, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1670.
  18. Hoàng Công Bảo, người xã Thổ hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1710.
  19. Vũ Công Thắng, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1867.
  20. Vũ Trác Oánh, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1556.
  21. Hoàng Bình Chính, người xã Thổ Hoàng, đỗ Tiến sĩ năm 1775.
  22. Ngô Văn phòng, người xã Tân Phúc, đỗ Hoàng giáp năm 1484.
  23. Lương Quý, người xã Tân Phúc, đỗ Hoàng giáp năm 1532.
  24. Lương Đức Mậu, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1511.
  25. Ngô Mậu Du, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1565.
  26. Nguyễn Độ, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1518.
  27. Ngô Văn Chính, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1637.
  28. Ngô Mậu Đôn, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1523.
  29. Phạm Quang Chiếu, người Bãi Sậy, đỗ Hoàng giáp năm 1676.
  30. Đỗ Thạnh, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1661.
  31. Lương Giản, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ năm 1526.
  32. Vũ Vinh Tiến, người xã Phù ủng, đỗ Tiến sĩ năm 1640.
  33. Đào Duy Điển, người xã Bãi Sậy, đỗ Tiến sĩ năm 1757.
  34. Nguyễn Thạnh, người xã Tân Phúc, đỗ Tiến sĩ đời Lê.
  35. Phan Trứ, người xã Phù ủng, đỗ Hoàng giáp năm 1832.

Thời nhà Trần có hai người nổi tiếng là Nguyễn Trung Ngạn và Phạm Ngũ Lão. Nguyễn Trung Ngạn là nhà chính trị, ngoại giao có tài, trải nhiều chức vụ từ chức Thông giám đến Tể tướng. Năm 1304, đỗ Hoàng giáp, cùng khoa với Mạc Đĩnh Chi, sống cùng thời với Trương Hán Siêu, Chu Văn An... Ông là ngoại giao xuất sắc, có vai trò quan trọng trong hai lần đi sứ nhà Nguyên, bảo đảm chủ quyền và độc lập dân tộc. Thuở nhỏ ông đã nổi tiếng là thần đồng và có năng khiếu văn chương.Ông còn là nhà văn, nhà thơ có tài. "Lịch triều hiến chương loại chí" Viết: "Lời thơ hào mại, phóng khoáng, có khí phách và cốt cách Đỗ Lăng (tức Đỗ Phủ). Những câu thơ hay nhiều không kể xiết. Thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém gì thơ thời thịnh Đường". Tác phẩm của ông có: Giới Hiên thi tập, Hình luật thư... Hiện còn 84 bài thơ trong Giới hiên thi tập.

Phạm Ngũ Lão vốn là gia tướng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn coi ông như người bạn, phải bày mưu làm lễ đổi họ chuyển con gái ruột là quận chúa Anh Nguyên thành con nuôi rồi gả cho Phạm Ngũ Lão. Vị tướng tài đức này đã bốn lần mang quân đi tiễu phạt quân Ai Lao quấy nhiễu, hai lần đánh thắng quân Chiêm Thành. Ông là người văn võ toàn tài, trung thành, liêm khiết, được phong là Điện súy Thượng tướng quân và được thờ cùng với Trần Quốc Tuấn (Đức Thánh Trần).Ông đạt được đến cấp thượng tướng quân và sau khi mất được vua Trần nghỉ triều để tưởng nhớ. Nhắc đến danh tướng Phạm Ngũ Lão,một danh thần đã gói trong bốn chữ:văn võ toàn tài.

Hậu duệ của ông Tiến sĩ Đinh Tú kể trên là Quận công Đinh Văn Tả mà Sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính xếp Đinh Văn Tả là bậc mãnh tướng như Phạm Ngũ Lão. Ông làm quan nhà Lê Thần TôngLê Huyền Tông. có công giúp chúa Trịnh Tạc, Trịnh Căn dẹp loạn nội bộ nhà Trịnh, dẹp loạn Đông Hải, dẹp tan nhà Mạc nên được chúa Trịnh ưu đãi. Được phong Đô Tổng binh, Quận công, Đô đốc, rồi Thượng tể và ban cho 300 mẫu ruộng bổng lộc. Câu ngạn ngữ: "Đánh giặc họ Đinh làm quan họ Đặng" để chỉ công lao, tài giỏi của ông. Trong lịch sử Việt Nam, ông là người duy nhất được phong làm Phúc thần Thành hoàng Thượng đẳng Đại vương khi đang còn sống (gọi là sinh phong). Khi mất được vua Lê, chúa Trịnh đến viếng, cho Bộ Lễ hộ tang về quê, được an táng như bậc vương giả và được ban thụy hiệu là Vũ Dũng. Chúa Trịnh Căn tặng ông đôi câu đối: Tiết việt quyền long triều túc tướng - Phiên toàn trách trọng quốc nguyên huân. Con cháu đều làm tướng giỏi, được phong 18 đời làm Quận công.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]