Hy tần họ Trương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trương Hy Tần
張禧嬪
Nội mệnh phụ Triều Tiên
Vương hậu Nhà Triều Tiên
Tại vị 22 tháng 10, 1690 - 1 tháng 6, 1694
Tiền nhiệm Nhân Hiển Vương hậu
Kế nhiệm Nhân Hiển Vương hậu (phục vị)
Thông tin chung
Phu quân Triều Tiên Túc Tông
Hậu duệ Thành Thọ
Triều Tiên Cảnh Tông
Tên đầy đủ Trương Ngọc Trinh (張玉貞)
Tước hiệu Thục viên (淑媛)
Chiêu nghi (昭儀)
Hy tần (禧嬪)
Vương phi (王妃)
Hy tần (禧嬪)
Thứ nhân (庶人)
Thụy hiệu Ngọc Sơn Phủ Đại Tần
玉山府大嬪
Miếu hiệu Đại Tần Cung (大嬪宮)
Hoàng tộc Nhà Triều Tiên
Thân phụ Trương Huỳnh
Thân mẫu Pha Bình Doãn thị
Sinh 19 tháng 9, năm 1659
Nhân Đông, Triều Tiên
Mất 10 tháng 10, 1701 (42 tuổi)
Xương Đức Cung
An táng Tây ngũ lăng (西五陵), thuộc thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi
Hy tần họ Trương
Hangul 희빈장씨
Hanja 禧嬪張氏
Romaja quốc ngữ Heebin Jangssi
McCune–Reischauer Hẽebin Changssi
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Trương (Jang).

Hy tần Trương thị (chữ Hán: 禧嬪張氏, hangul: 희빈장씨; 19 tháng 9, 1659 - 10 tháng 10, 1701), còn được phổ biến gọi là Trương Hy tần (張禧嬪), Ngọc Sơn Phủ Đại Tần (玉山府大嬪) hay Đại Tần Cung (大嬪宮), là một trong những hậu cung tần ngự nổi tiếng nhất trong lịch sử nhà Triều Tiên. Bà là tần ngự của Triều Tiên Túc Tông, sanh mẫu của Triều Tiên Cảnh Tông.

Tương truyền, Trương Hy tần là một mỹ nhân, biểu tượng sắc đẹp của Triều Tiên thời đó. Vì sủng ái bà, Túc Tông đã lạnh nhạt với Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị có xuất thân cao quý, được Tây Nhân phái hỗ trợ. Năm 1689, Nhân Hiển Vương hậu bị phế, và Trương Hy tần được sách lập làm Vương phi (王妃), một sự kiện làm chấn động lịch sử vương thất Triều Tiên, vì xuất thân của Trương Hy tần chỉ là Tần ngự bần hàn mà có thể lên được vị trí Trung điện chánh thất cao quý. Nhưng đến năm 1701, Túc Tông phục vị cho Nhân Hiển Vương hậu và Trương thị trở lại tước vị Hy tần (禧嬪). Không lâu sau Nhân Hiển Vương hậu qua đời, và Trương Hy tần bị kết tội ám hại Vương hậu, bị buộc phải tự sát vào ngày 10 tháng 10, trong khi tang lễ của Nhân Hiển Vương hậu vẫn đang diễn ra.

Cuộc đời thăng trầm độc đáo của Trương Hy tần trở thành đề tài nổi bậc cho các tác phẩm điện ảnh, như phim Trương Hy tần (MBC 1971), phim Trương Hy tần (KBS 2002), phim Đồng Y MBC 2010 và gần đây nhất là Trương Ngọc Trinh - Vi ái nhi sinh (SBS 2013) (張玉貞-為愛而生; Jang Ok Jung - Live for Love) với sự tham gia của nữ diễn viên Kim Tae Hee.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Hy tần có khuê danh là Trương Ngọc Trinh (張玉貞; 장옥정), sinh vào ngày 19 tháng 9 năm 1659, con gái của Tặng Lĩnh Nghị chính Trương Huỳnh (張炯), mẹ là Trinh Kính phu nhân Doãn thị ở Pha Bình (貞敬夫人坡平尹氏; nay thuộc Gyeonggi, Hàn Quốc). Trên bà còn có anh trai là Trương Hi Tái (張希載) và một người chị lấy Kim Chí Trọng (金志重).

Theo "Trương Huỳnh thần đạo bi minh" (张炯神道碑铭), dòng dọi họ Trương có từ danh thần Trương An Thế (张安世), danh thời từ thời Cao Ly vương triều. Thái Tổ Lý Thành Quế thu nạp Trương An Thế vào làm phụ chánh, rồi con là Trương Trọng Dương (张仲阳) tiếp tục kế thừa, dòng họ dần vinh hiển. Trương Huỳnh sinh tiền làm chức Dịch quan, có chánh phu nhân đầu tiên là Cao thị, sau sinh non mà chết, về sau mới lấy Doãn thị là mẹ của Trương Hy tần. Về sau, bá phụ là Trương Huyền (張炫) bị phạm tội, cả nhà họ Trương liên lụy, Trương Hy tần khi ấy còn nhỏ bị nhập cung làm Nội nhân (內人).

Năm 1680, Nhân Kính Vương hậu Kim thị qua đời, Túc Tông trong thời gian đó sủng hạnh Trương nội nhân và khiến Minh Thánh Vương hậu Kim thị tức giận, sai người đuổi ra khỏi cung. Khi đó, bà được thu nập bởi Thân phu nhân của Sùng Thiện quân (崇善君), con trai của Triều Tiên Nhân Tổ.

Hậu cung tần ngự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1681, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị được lập làm Kế phi, nhưng sau 3 năm hôn nhân mà Nhân Hiển vương hậu vẫn không có con khiến Minh Thánh Vương hậu lo lắng. Túc Tông do muốn tìm người nối dõi vương thất và nhung nhớ Trương Ngọc Trinh, đề nghị với Minh Thánh Vương hậu đưa Trương thị về cung, làm Hậu cung tần ngự (後宮嬪御). Minh Thánh Vương hậu phản đối kịch liệt, vì cho rằng Trương thị là yêu cơ, tà tâm hiểm độc, sẽ làm hại vương thất. Không lâu sau, Minh Thánh Vương hậu qua đời, Túc Tông tiếp tục đề nghị triệu Trương Ngọc Trinh vào cung, và người đứng ra bảo hộ là Trang Liệt Vương hậu Triệu thị.

Năm 1686, ngày 10 tháng 12, Túc Tông ra chỉ phong Trương cung nhân làm Thục viên (淑媛) và ban Tựu Thiện đường (就善堂) ở Xương Khánh cung làm nơi ở. Đây là điều hiếm thấy, bởi vì theo luật của vương thất thì cung nữ bị đuổi ra khỏi cung sẽ vĩnh viễn không được trở lại cung. Điều này cho thấy Túc Tông đã sủng ái Trương Ngọc Trinh đến thế nào. Hai năm sau (1688), bà sinh hạ Vương tử Lý Quân (李昀) và được thăng lên bậc Chiêu nghi (昭儀). Ngoài vương tử Lý Quân, bà còn sinh cho Túc Tông một người con, được đặt tên là Thành Thọ (盛壽), nhưng sớm chết non.[1]

Năm 1689, tháng giêng, bà được thăng lên bậc Tần (嬪)[2], với phong hiệu là Hy (禧), gọi là Hy tần (禧嬪).

Sắc lập Vương phi[sửa | sửa mã nguồn]

Túc Tông đại vương có ý định lập Vương tử Lý Quân làm Vương thế tử (王世子), nhưng việc này gặp phải sự phản đối quyết liệt của phái Tây Nhân mà đứng đầu là Ly Dương Phủ viện quân Mẫn Duy Trọng (闵维重), cha của Nhân Hiển vương hậu Mẫn thị. Với lý do xuất thân thấp kém của mẹ vương tử là Hy tần Trương thị. Túc Tông đại vương hết sức giận dữ vì chuyện này, nên đã ra lệnh xử tử hoặc lưu đày những người có liên quan, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị cũng bị Túc Tông phế truất thành Phế phi (廢妃). Sự kiện này gọi là Kỷ Tị hoán cục (己巳換局).

Năm 1690, 22 tháng 10, nhà vua đã lập Trương Hy tần lên làm Vương phi (王妃), dưới sự ủng hộ của phái Nam nhân. Vương tử Lý Quân được danh chính ngôn thuận tấn phong làm Vương thế tử.

Từ sau khi Trương Ngọc Trinh nắm được vị trí Trung điện, phái Nam Nhân lũng đoạn triều chính, củng cố quyền lực và tìm cách loại bỏ phái Tây Nhân. Túc Tông thì lại muốn giữ nguyên thế lực Tây Nhân để có sự cân bằng hai phe đối lập. Trong triều xuất hiện mâu thuẫn giữa quyền lợi của nhà vua và phe phái chính trị ủng hộ cho Trung điện. Bản thân Trung điện từ khi sắc phong cũng tỏ ra ngỗ ngược, độc đoán và ghen tuông mù quáng với các Hậu cung tần ngự khác, trong khi người nhà của bà tác oai tác quái, gây nhiều thị phi khiến dân chúng căm phẫn. Những việc làm đó khiến Túc Tông ngày càng xa lánh, lạnh nhạt với Trung điện.

Trương Ngọc Trinh thất sủng khi nhà vua bắt đầu đầu sủng ái Thôi thủy tứ - một cung nữ trước đây từng hầu hạ Phế phi Mẫn thị. Thôi thị đã bí mật cầu nguyện cho Phế phi nhân ngày sinh của bà và bị Túc Tông bắt gặp. Không rõ việc này có phải do sự sắp đặt của tàn dư phái Tây Nhân hay không nhưng Túc Tông rất cảm động và sủng ái Thôi thị, sắc phong bà làm Thục viên (淑媛). Sau đó, Thôi thục viên đã cùng Tây Nhân đã tác động đến Túc Tông, dẫn đến việc nhà vua có ý muốn phục vị cho Phế phi Mẫn thị.

Nghe tin đó, Trương Ngọc Trinh đã cùng anh trai là Trương Hi Tái (張希載) tiến hành âm mưu, muốn giết hại Phế phi Mẫn thị nhưng bị Túc Tông phác giác và ngăn cản. Từ đó, Túc Tông càng có ý muốn phục vị cho Phế phi.

Phế vị và ban chết[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1694, ngày 1 tháng 6, dưới nỗ lực của phái Tây NhânThôi thục viên, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị được phục vị và Trương Ngọc Trinh quay lại ngôi vị Hy tần (禧嬪). Bản sắc phong và ngọc ấn của Trương thị khi được sách phong Vương phi bị thu hồi và phá hủy.

Năm 1701, ngày 14 tháng 8, Nhân Hiển Vương hậu qua đời một cách đột ngột, có thuyết cho rằng do bị bệnh mãn tính từ những ngày bị lưu đày. Khi đó, phái Tây Nhân đã cáo buộc rằng Trương Hy tần cùng anh trai mình thuê một thầy cúng trù ếm Vương hậu bằng một hình nhân bị găm mũi tên [3]. Không chỉ có vậy, các cuộc điều tra còn khẳng định Trương Hy tần và anh trai đã thông đồng với nhà Thanh khi tiết lộ nhiều tài liệu quân sự tối mật nhằm nhận được sự đồng thuận cho việc sắc phong Thế tử của Lý Quân. Trước sức ép từ phái Tây Nhân và kết quả điều tra, Túc Tông đã ban chết cho Trương Hy Tần với tội danh phản quốc và mưu hại Quốc mẫu.

Ngày 10 tháng 10, Trương Hy tần bị xử tử bằng độc dược, thọ 42 tuổi, sau khi chết vẫn được giữ nguyên tước hiệu nhàm đảm bảo địa vị của Thế tử Lý Quân.

An táng và mộ phần[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ban chết cho Trương Hy Tần, Túc Tông đại vương ban chỉ vẫn giữ nguyên tước hiệu Hy tần của bà, vì thế nên tang lễ của Trương Hy Tần vẫn được tổ chức theo nghi thức Hậu cung tần ngự hàng Chính nhất phẩm theo pháp chế như bình thường.

Phần mộ của Trương Hy tần không phải là ẩn số, một số người cố tình đưa những thông tin thất thiệt. Phần mộ của Trương Hy tần gọi là Đại tần mộ (大嬪墓; 대빈묘) ban đầu nó ở Gwangju, Gyeonggi, về sau người ta quy hoạch lại các khu lăng mộ vương thất. Tháng 6, năm 1969, Đại tần mộ được chuyển về cụm lăng Tây ngũ lăng (西五陵), thuộc thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi.

Còn Minh Lăng (明陵) là nơi an táng của Túc Tông và 2 vương hậu sau của ông là Nhân Hiển Vương hậuNhân Nguyên Vương hậu, không có chuyện Trương Hy tần được an táng ở Minh Lăng.

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Triều Tiên Cảnh Tông đăng cơ, ông đã truy phong cho mẹ cung hiệu là Đại Tần Cung (大嬪宮), còn thụy hiệu đầy đủ là Ngọc Sơn Phủ Đại Tần (玉山府大嬪).

Tước hiệu trên là quy định dành cho mẹ của các vị quốc vương Triều Tiên chỉ là Hậu cung tần ngự, không theo lệ của Trung QuốcViệt Nam là có thể được tấn phong Hoàng hậu, dù sinh mẫu của vị Hoàng đếphi tần đi chăng nữa.

Bí ẩn lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bà là người gây nhiều tranh cãi trong giới Lịch sử Hàn Quốc. Do từ xa xưa những lời thêu dệt về sự độc ác của bà đã lan truyền khắp nơi trong triều đại Triều Tiên, nên ngày nay phần lớn mọi người đều đánh giá bà với thái độ tiêu cực. Tuy nhiên, hiện nay có một số ít các nhà sử học Hàn Quốc nghiên cứu và lập luận rằng vào thời gian đó, Triều Tiên Cảnh Tông được xác định bị vô sinh nên Trương Hy Tần rất hoang mang. Bà cho xây dựng và thường xuyên lui tới Thần Điện để cầu an và chữa bệnh cho Thế tử.

Cùng thời gian này, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị bệnh tình ngày càng nghiêm trọng và nhiều Vương tử, Cung tần trong cung bị nhiễm căn bệnh lạ mọc mụn nhọt, hoa mắt... Từ đó đã lan truyền ra những tin tức thất thiệt bất lợi cho bà như "Trương Hy Tần cùng pháp sư nhập Thần điện nguyền rủa, trù ếm sát hại các Vương tử và Vương phi"... đã được thêm vào để kết tội Trương Hy tần. Dưới sức ép của phái Tây Nhân, Triều Tiên Túc Tông quyết định từ bỏ Trương Hy tần, ban cho bà cái chết bằng thuốc độc. Vì cái chết oan của mẹ mà Cảnh Tông đại vương về sau trở nên trầm cảm, oán giận vua cha bởi những ngày Hy tần tế thần, Cảnh Tông đều hiện diện ở Thần Điện.

Tuy nhiên, lập luận này chỉ là cách nhìn của những người sau hơn 300 năm và không có căn cứ nào chứng minh ngoài việc Cảnh Tông đại vương không có bất kỳ nhi tử nào. Đồng thời, việc lập đàn tế lễ hay làm phép trong cung mà chưa được sự chấp thuận của quốc vương dưới mọi hình thức đều bị coi là trọng tội không thể biện hộ.

Sau khi mất, Trương Hy Tần để lại khá nhiều câu chuyện được thêu dệt, truyền kỳ về tham vọng quyền lực, cũng như những chuyện liên quan đến cái chết của bà, mối quan hệ với Triều Tiên Cảnh Tông [4]. Hay lời đồn đại bà âm mưu ám sát Nhân Hiển Vương hậu bằng những hình nhân thế mạng và tế lễ Thần điện. Nhưng, tất cả nguồn tin đó không được ghi lại cụ thể trong chính sử mà chỉ được lấy từ cuốn truyện Nhân Hiển Vương Hậu truyện (仁顯王后传) - tác giả là một cung nữ thân cận của Nhân Hiển Vương hậu thời đó viết lại và lưu truyền tới ngày nay.

Từ những năm 1990 tới nay, trong lịch sử điện ảnh và truyền hình Hàn Quốc, cuộc đời của Trương Hy tần trên màn ảnh được xây dựng theo hướng bám sát với những chi tiết trong lịch sử về sự độc ác và cái chết của Trương Hy tần như: Jang Hee Bin KBS 2002, Dong Yi MBC 2010, Queen In Hyun's man, Jang Ok Jung, Live In Love...

Tổ phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tuy nhiên, việc này không được chứng minh rõ ràng là chết khi nào vì có tài liệu ghi chết trước khi sinh mấy tuần, có tài liệu lại ghi chết sau khi sinh mấy ngày.
  2. ^ Bậc Tần thuộc hàng Chính nhất phẩm Nội quan, chỉ xếp sau ngôi vị Vương phi trong hậu cung nhà Triều Tiên.
  3. ^ không được ghi chép cụ thể chính sử Triều Tiên, chỉ chú thích sự việc được ghi lại trong cuốn Nhân Hiển Vương hậu truyện (仁顯王后传) do một cung nữ thân cận của Nhân Hiển vương viết ra, còn lưu truyền tới ngày nay
  4. ^ Cảnh Tông đại vương Lý Quân được cho là từng bị mẹ mình đánh một trận thừa sống thiếu chết và điều đó khiến ông trở thành một người yếu đuối và nhu nhược sau này
  5. ^ “Lady Jang (Janghuibin) (1961)”. Korean Movie Database. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013. 
  6. ^ “Femme Fatale, Jang Hee-bin (Yohwa, Jang Hee-bin) (1968)”. Korean Movie Database. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013. 
  7. ^ a ă â b c “'죽지 않는' 장희빈 벌써 9명, 김태희가 뒤 이을까”. OhmyNews (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 22 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013. 
  8. ^ “TV Dramas - Actresses Line up for Award Ceremony Takeover”. The Chosun Ilbo. Ngày 29 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013. 
  9. ^ Lee, Ga-on (ngày 7 tháng 5 năm 2010). “Han Hyo-joo says she "hold fast" to her role in Dong Yi. 10Asia. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013. 
  10. ^ Ho, Stewart (ngày 8 tháng 10 năm 2012). “Kim Tae Hee Cast in Her First Historic Drama, Jang Ok Jung as Joseon Dynasty's Infamous Lady Jang Hee Bin”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013.