Hypostomus plecostomus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cá lau kiếng
Hypostomus plecostomus - Raphaël Covain.png
Tình trạng bảo tồn
Chưa được đánh giá (IUCN 3.1)
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Siluriformes
Họ (familia)Loricariidae
Chi (genus)Hypostomus
Loài (species)H. plecostomus
Danh pháp hai phần
Hypostomus plecostomus
(Linnaeus, 1758)

Cá lau kiếng hay cá lau kính (Danh pháp khoa học: Hypostomus plecostomus) là một loài cá trong họ cá da xùLoricariidae thuộc bộ cá da trơn. Tại Việt Nam chúng còn gọi là cá tỳ bà, nhiều người còn gọi vui nó là cá “mặt quỷ”. Cá lau kính có tên tiếng Anh là suckermouth catfish, hay còn được gọi là janitor fish, giới buôn bán cá cảnh gọi chúng là “pleco”.

Cá lau kính có thể sống trong nhiều điều kiện môi trường sinh thái khác nhau nên khả năng phát triển đàn rất nhanh. Ở nhiều nơi trên thế giới, sự phát triển đàn của cá lau kính đã trở thành vấn nạn đối với hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản[1]. Biên độ sinh thái rộng và khả năng sống mạnh mẽ giúp cá lau kính trở thành một loài ngoại lai xâm lấn lý tưởng. Chúng được nuôi nhiều để làm nhiệm vụ dọn bể, ngày nay chúng đã trở thành loài xâm lấn ở Việt Nam.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Loại cá này có chiều dài lên đến 70 cm và trọng lượng có thể tới vài kilôgam[1]. Chúng là loài cá có thân hình nâu sẫm, da cứng, sần sùi, thô ráp, miệng to giống như miệng bát, gồm nhiều dạng khác nhau[2] Thân dẹp phẳng như đàn tỳ bà, đầu dẹp phẳng, vây lưng cao, cứng và thẳng đứng, vây ngực rộng và xòe như cánh phi cơ, vây đuôi nhỏ, dày, cuốn đuôi không dẹt xuống. Thân cá đen thẫm, có khi nâu đen hoặc nâu nhạt, có hoa văn đen trắng, da sần sùi, thô ráp. Phần phía trên đầu và thân được bọc trong những dãy xương, phần dưới đầu và bụng thì trần.

Thức ăn chính của loài cá này là các loại rong, rêu, tảo bám trên bề mặt thực vật hoặc nền đáy. Cá lau kiếng sống ở dưới đáy hồ. Cá lau kiếng sinh sản trong ao đất, đào hang đẻ trứng (khoảng 300 trứng/lần đẻ). Cá được xem là chuyên gia ăn rêu và dọn chất nhớt ở thành bể và đáy bể, cá thích hợp thả nuôi chung với nhiều loài. Cá ăn tảo, thực vật, mùn bã, giáp xác và côn trùng nhỏ. Loài cá nầy môi bè ra, không ăn động vật mà chỉ hút những chất nhày, chất bẩn và rong rêu bám trên các thành kiếng[2].

Một con cá mỗi lần đẻ 5.000-6.000 trứng, gặp điều kiện thuận lợi một con có thể đạt đến chiều dài 50 cm. Cá có khả năng sinh sản quanh năm, tỷ lệ cá con sống khoảng 70% và có thể sống mà không cần đến thức ăn suốt 1 tháng[3]. Chúng có khả năng cạnh tranh thức ăn với các loài khác và gây mất cân bằng sinh thái[4]. Cá lau kiếng mẹ hay cá lau kiếng con đều có thể tiếp cận loài cá khác hút nhớt làm các loài cá khác giảm khả năng phát triển.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn bề ngoài cá lau kiếng rất xấu xí, toàn thân đen thẫm, da vằn vện, sần sùi. Nhưng nếu chế biến đúng cách món cá này lại cực kỳ hấp dẫn và là món "khoái khẩu dân nhậu" khi “lai rai”[4]. có thể chế biến cá lau kiếng thành nhiều món ngon như nướng, hầm sả, kho tiêu… cá lau kiếng hầm nước dừa. Sau khi làm sạch con cá, chuẩn bị thêm ít nguyên liệu như đu đủ, chuối xanh, sả, ớt. Cần chú ý là cá lau kiếng phải làm thật kỹ bằng nước đun sôi thì mới mất mùi hôi, dùng dao chà xát vảy cá, rửa sạch rồi mới cắt ra từng khúc nhỏ. Sau khi bắc nồi nước dừa lên, cho sả đập dập vào, đợi nước sôi nêm nếm rồi cho đu đủ cùng cá lau kiếng làm sạch vào, thêm ít đậu phộng, ớt để tăng thêm hương vị[5]. Cá nầy ngon nhất là làm món nướng và hầm sả. Có nơi người ta thu mua về lấy thịt trộn chung với các nguyên liệu khác làm chả[2].

Loài xâm lấn[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam, Cá nhập nội từ thập niên 80, đã sản xuất giống trong nước từ thập niên 90. Chúng có nguồn gốc từ Nam Mỹ, được nhập vào VN qua đường kinh doanh cá cảnh. Sau khi phát tán ra môi trường tự nhiên chúng phát triển rất nhanh[3]. Hiện cá tỳ bà đen đang phát tán và sinh sản mạnh ở nhiều hồ chứa, sông, rạch và ao đầm nội địa, gây vướng và rách lưới khi khai thác, ảnh hưởng lên cấu trúc quần đàn các loài cá bản địa. Chúng là một loài sinh vật ngoại lai, hầu như không có giá trị kinh tế đã xuất hiện với mật độ ngày càng dày đặc tại các kênh, rạch, ao, đìa[3].

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, cá lau kiếng nhiều vô số, gần như chúng có mặt ở khắp các kênh, rạch, ao, hồ… Hễ người dân đi dỡ chà, đổ đú, tát mương là y như rằng sẽ gặp cá lau kiếng. Khi bắt gặp con cá xấu xí này, dân quê thường bực mình quăng bỏ[5]. Nhiều người sinh chán vì hình thù cá trông xấu xí lại rẻ tiền nên đem thả ra sông hoặc ao hồ, chỉ sau một thời gian ngắn, cá đã sinh sôi nẩy nở nhiều đến mức báo động, không còn ai kiểm soát nổi[2]. Cá lau kiếng ăn hết rong tảo trong ao, lại sinh sản rất nhanh lấn át nên cá đồng bản địa không thể sống và phát triển được. Không chỉ phát hiện cá lau kiếng có trong ao cá nuôi mà loài sinh vật ngoại lai này còn xuất hiện ồ ạt ở các tuyến kênh thủy lợi[3].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Nguy cơ từ cá lau kính - Tuổi Trẻ Online”. Tuổi Trẻ Online. 3 tháng 4 năm 2008. Truy cập 12 tháng 7 năm 2016. 
  2. ^ a ă â b “Dân nhậu khoái khẩu món cá tỳ bà nướng sả”. Báo điện tử báo Nông thôn Ngày nay. 21 tháng 5 năm 2015. Truy cập 12 tháng 7 năm 2016. 
  3. ^ a ă â b “Cá lau kiếng sản sinh nhanh ở nhiều nơi”. Người Lao động. 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập 12 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ a ă “Cá lau kính lên bàn nhậu - Tuổi Trẻ Online”. Tuổi Trẻ Online. 30 tháng 3 năm 2011. Truy cập 12 tháng 7 năm 2016. 
  5. ^ a ă 24h.com.vn (8 tháng 11 năm 2015). “Cá lau kiếng hầm nước dừa - món khoái khẩu dân nhậu”. 24h.com.vn. Truy cập 12 tháng 7 năm 2016.