Ian Nepomniachtchi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản mẫu:Eastern Slavic name

Ian Nepomniachtchi
Nepomniachtchi, Ian2.jpg
Nepomniachtchi năm 2014
Tên khai sinhЯн Алекса́ндрович Непо́мнящий
Quốc giaNga
Sinh14 tháng 7, 1990 (29 tuổi)
Bryansk, Xô viết LB Nga, Liên Xô
Danh hiệuĐại kiện tướng
Hệ số Elo2776 (tháng 11 2019) 2775 Hạng 6 (7.2019)
Elo cao nhất2775 (6.2019)
Xếp hạng cao nhấtHạng 6 (7.2019)

Ian Aleksandrovich Nepomniachtchi (tiếng Nga: Ян Алекса́ндрович Непо́мнящий; sinh 14 tháng 7 năm 1990) là một đại kiện tướng cờ vua Nga. Anh vô địch Nga và vô địch châu Âu cùng năm 2010; vô địch Tưởng niệm Tal 2016, Đam Châu 2016 và Aeroflot mở rộng hai lần (2008, 2015). Về nội dung đồng đội, Nepomniachtchi là thành viên đội Nga vô địch Giải vô địch cờ vua đồng đội thế giới 2013 và vô địch Giải vô địch cờ vua đồng đội châu Âu 2015.

Nepomniachtchi nổi tiếng là một tay cờ mạnh về thể loại nhanh và chớp. Anh từng giành hai huy chương bạc cờ nhanh và một huy chương bạc cờ chớp tại các Giải vô địch cờ vua nhanh chớp thế giới.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Nepomniachtchi vô địch Giải vô địch cờ vua trẻ châu Âu ba lần. Năm 2000, cậu vô địch lứa tuổi không quá 10 (U10), hai năm tiếp theo 2001 và 2002, đều vô địch hạng U12[1]. Năm 2002, Nepomniachtchi cũng vô địch trẻ thế giới ở hạng tuổi U12, vượt qua Magnus Carlsen bằng hệ số phụ[2].

Giải vô địch Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối năm 2010, tại Moskva, Nepomniachtchi vô địch quốc gia sau khi đánh bại Sergey Karjakin ở ván playoff vì hai người đồng hạng nhất khi đấu vòng tròn[3]. Năm 2013, một lần nữa Nepomniachtchi đồng điểm hạng nhất với Svidler với thành tích 6,5/9 điểm (+5 =3 -1). Tuy nhiên anh thất bại trước Svidler sau hai ván cờ nhanh tranh ngôi vô địch với tỉ số 0,5-1,5[4].

Giải vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, tại Rijeka, Nepomniachtchi vô địch châu Âu với điểm số 9/11[5].

Năm 2013, Nepomniachtchi đồng điểm hạng nhất với 9 kỳ thủ khác (8/11 điểm) tại Giải vô địch châu Âu. Sau khi tính hệ số phụ thì anh xếp hạng 8, còn Moiseenko vô địch[4].

Giải vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tại các giải đấu thuộc hệ thống vô địch thế giới, Nepomniachtchi chưa lần nào lọt vào giải Candidates.

Ở các giải Grand Prix cờ vua, năm 2017 là lần đầu tiên Nepomniachtchi có suất tham dự. Sau 3 vòng đấu anh đạt 198 điểm và không lọt vào hai vị trí cao nhất.

Ở các Cúp cờ vua thế giới

Các giải mời[sửa | sửa mã nguồn]

Với việc vô địch Aeroflot, Nepomniachtchi có suất tham dự Giải cờ vua Dortmund vào các năm 2008 và 2015. Năm 2008 anh về nhì với thành tích bất bại.

Nepomniachtchi vô địch Giải cờ vua Đam Châu năm 2016[6][7]. Sau giải Đam Châu, Elo của anh tiệm cận top 10 thế giới. Đến cuối năm 2016, anh lần đầu tiên vô địch giải Tưởng niệm Tal. Với những thành công đo, anh được mời đến các giải mời danh giá trong năm 2017 là Tata và hệ thống giải Grand Chess Tour 2017.

Các giải đồng đội[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Olympiad cờ vua lần thứ 42, Nepomniachtchi giành huy chương đồng đồng đội với Nga và huy chương bạc cá nhân bàn 4[8]. He was a member of the gold medal-winning Russian team at the 2013 World Team Chess Championship in Antalya[9] and at the 2015 European Team Chess Championship in Reykjavík.

Các giải nhanh chớp[sửa | sửa mã nguồn]

Nepomniachtchi giành huy chương bạc tại Giải vô địch cờ chớp thế giới năm 2014 tại Dubai, với 16/21 điểm, kém nhà vô địch Carlsen 1 điểm và bằng điểm nhưng hơn hệ số phụ người xếp hạng ba Nakamura[10].

2007[sửa | sửa mã nguồn]

In 2007, he finished second in the C group of the Corus Chess Tournament in Wijk aan Zee[11] earning his first grandmaster (GM) norm. Later that same year, Nepomniachtchi gained his second GM norm at the European Individual Chess Championship in Dresden. The third and final norm required for the GM title was won at the 5th Vanya Somov Memorial – World's Youth Stars tournament in Kirishi.[12] Nepomniachtchi won the latter event, edging out Rauf Mamedov, Parimarjan NegiZaven Andriasian on tiebreak score.[13]

2008[sửa | sửa mã nguồn]

By winning the Aeroflot Open in Moscow in February 2008, he qualified for the 2008 Dortmund Sparkassen Chess Meeting. In this tournament, he shared second place after an undefeated run. In the same year, he also won the Ordix Open, a rapid chess tournament in Mainz.[14][15]

2009[sửa | sửa mã nguồn]

He won the gold medal in chess at the 2009 Maccabiah Games.[16]

2011[sửa | sửa mã nguồn]

In November 2011, Nepomniachtchi tied for 3rd–5th with Vasily Ivanchuk and Sergey Karjakin in the category 22 Tal Memorial in Moscow.[17]

2013[sửa | sửa mã nguồn]

The following month, Nepomniachtchi finished second to Shakhriyar Mamedyarov in the World Rapid Chess Championship, held in Khanty-Mansiysk.[18] In October 2013, he tied for first with Peter Svidler in the Russian Championship Superfinal, finishing second on tiebreak.[19]

Over the course of 2013, Nepomniachtchi's blitz rating surged from 2689 in January, to 2830 in December.

2014[sửa | sửa mã nguồn]

In August, at the 5th International Chess Festival “Yaroslav the Wise” in Yaroslavl, he won the Tournament of Champions, a rapid chess event held with the double round-robin format featuring the six European champions of 2009-2014.[20][21] At the SportAccord World Mind Games, held in December in Bắc Kinh, he won the gold medal in the men's Basque chess tournament.[22]

2015[sửa | sửa mã nguồn]

In April 2015, he won the Aeroflot Open for the second time in his career, edging out Daniil Dubov on tiebreak, having played more games with the black pieces, and earned a spot in the 2015 Dortmund Sparkassen Chess Meeting. Right after the end of the tournament he also won the Aeroflot blitz tournament.[23] Later that year, in September, he won the Moscow Blitz Championship[24] and one month later, he took the silver medal at the World Rapid Chess Championship in Berlin.[25]

2016[sửa | sửa mã nguồn]

Nepomniachtchi won the 7th Hải Nam Danzhou tournament in July and the Tal Memorial in October.[26]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Nepomniachtchi là người Do Thái.[27]

Anh đã tốt nghiệp Russian State Social University.[28]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Week in Chess 420”. The Week in Chess. Mark Crowther. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 
  2. ^ da Nóbrega, Adaucto Wanderley. “Heraklio 2002 - 17° World Championship u12 (boys)”. BrasilBase. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016. 
  3. ^ “First Russian title for Nepomniachtchi (Nepomniachtchi lần đầu tiên vô địch Nga)”. ChessVibes. 23 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017.  (tiếng Anh)
  4. ^ a ă Mark Crowther (16 tháng 5 năm 2013). “14th European Individual Championships 2013 (Giải vô địch châu Âu lần thứ 14 năm 2013)”. The Week in Chess. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017.  (tiếng Anh)
  5. ^ “Ian Nepomniachtchi is European Chess Champion (Ian Nepomniachtchi vô địch châu Âu)”. Chessdom. 18 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017.  (tiếng Anh)
  6. ^ “7th Hainan Danzhou GM 2016”. The Week in Chess. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016. 
  7. ^ Shankland, Samuel (ngày 19 tháng 7 năm 2016). “Nepomniachtchi Wins Super Tournament in China”. World Chess. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016. 
  8. ^ “42nd Olympiad Baku 2016 Open (Kết quả các bàn đấu Olympiad cờ vua 2016)”. Chess-Results. 13 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017. 
  9. ^ “World Team 09 Russia takes gold; China silver”. ChessBase. Ngày 6 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  10. ^ “FIDE World Blitz Championship 2014 (Kết quả Giải vô địch cờ chớp thế giới 2014)”. Chess-Results. 18 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2017.  (tiếng Anh)
  11. ^ Standings of grandmaster group C 2007 Tata Steel Chess
  12. ^ GM title application FIDE
  13. ^ Crowther, Mark (ngày 28 tháng 5 năm 2007). “TWIC 655: Somov Memorial Kirishi”. The Week in Chess. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  14. ^ Doggers, Peter (ngày 4 tháng 8 năm 2008). “Nepomniachtchi wins Ordix Open”. ChessVibes. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016. 
  15. ^ “Mainz 2008: Ian Nepomniachtchi wins Ordix Open”. ChessBase. Ngày 5 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016. 
  16. ^ [1]
  17. ^ “Carlsen catches Aronian in last round, wins Tal Memorial on tiebreak”. ChessVibes. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2011. 
  18. ^ “Shakhriyar Mamedyarov is 2013 World Rapid Chess Champion”. Chessdom. Ngày 8 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016. 
  19. ^ “Russian Super Final: Svidler, Gunina win”. ChessBase. Ngày 14 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016. 
  20. ^ “Ian Nepomniachtchi convincing in Yaroslavl”. Chessdom. Ngày 28 tháng 8 năm 2014. 
  21. ^ “Tournament of Champions in Yaroslavl”. Chessdom. Ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  22. ^ McGourty, Colin (ngày 17 tháng 12 năm 2014). “Hou Yifan and Nepomniachtchi Basque in glory”. Chess24. 
  23. ^ “Ian Nepomniachtchi dominates the Aeroflot Open”. Chessdom. Ngày 6 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015. 
  24. ^ “Ian Nepomniachtchi and Valentina Gunina win the Moscow Blitz Chess Championships”. FIDE. Ngày 11 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015. 
  25. ^ “Magnus Carlsen is 2015 World Rapid Champion!”. Chessdom. Ngày 12 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015. 
  26. ^ Silver, Albert (ngày 7 tháng 10 năm 2016). “Ian Nepomniachtchi wins Tal Memorial”. ChessBase. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016. 
  27. ^ Soffer, Ram (ngày 24 tháng 7 năm 2013). “2013 Maccabiah Games - The Jewish Olympics”. ChessBase. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015. 
  28. ^ “Vladimir Palikhata opened 9th International RSSU Cup Moscow Open 2013”. Moscow Open 2013. Ngày 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Alexander Grischuk
Vô địch cờ vua Nga
2010
Kế nhiệm:
Peter Svidler
Tiền nhiệm:
Evgeny Tomashevsky
Vô địch châu Âu
2010
Kế nhiệm:
Vladimir Potkin