Ian Nepomniachtchi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ian Nepomniachtchi
Ian Nepomniachtchi Tal Memorial 2018.jpg
Nepomniachtchi năm 2018
TênЯн Алекса́ндрович Непо́мнящий
Quốc giaNga
Sinh14 tháng 7, 1990 (31 tuổi)
Bryansk, Xô viết LB Nga, Liên Xô
Danh hiệuĐại kiện tướng
Elo FIDE2773 (4.2022) Hạng 4
Elo cao nhất2784 (4.2020)
Thứ hạng cao nhấtHạng 4 (4.2020)

Ian Aleksandrovich Nepomniachtchi (tiếng Nga: Ян Алекса́ндрович Непо́мнящий; sinh 14 tháng 7 năm 1990) là một đại kiện tướng cờ vua Nga. Anh là đương kim vô địch Nga (2020). Trước đó anh vô địch Nga và vô địch châu Âu cùng năm 2010; vô địch Tưởng niệm Tal 2016, Đam Châu 2016 và Aeroflot mở rộng hai lần (2008, 2015). Anh hiện đang đồng dẫn đầu tại Giải đấu Ứng viên 2020. Về nội dung đồng đội, Nepomniachtchi là thành viên đội Nga vô địch Giải vô địch cờ vua đồng đội thế giới 2013 và vô địch Giải vô địch cờ vua đồng đội châu Âu 2015.

Nepomniachtchi nổi tiếng là một tay cờ mạnh về thể loại nhanh và chớp. Anh từng giành hai huy chương bạc cờ nhanh và một huy chương bạc cờ chớp tại các Giải vô địch cờ vua nhanh chớp thế giới.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Nepomniachtchi vô địch Giải vô địch cờ vua trẻ châu Âu ba lần. Năm 2000, cậu vô địch lứa tuổi không quá 10 (U10), hai năm tiếp theo 2001 và 2002, đều vô địch hạng U12[1]. Năm 2002, Nepomniachtchi cũng vô địch trẻ thế giới ở hạng tuổi U12, vượt qua Magnus Carlsen bằng hệ số phụ[2].

Đạt danh hiệu đại kiện tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, Nepomniachtchi về nhì nhóm C của Giải cờ vua CorusWijk aan Zee[3], đạt chuẩn đại kiện tướng đầu tiên. Cùng năm, anh đạt chuẩn thứ hai tại Giải vô địch cờ vua cá nhân châu ÂuDresden. Chuẩn cuối cùng anh đạt được tại Giải Tưởng niệm Vanya Somov lần thứ năm – các ngôi sao trẻ thế giớiKirishi.[4] Nepomniachtchi vô địch giải này, xếp trên Rauf Mamedov, Parimarjan NegiZaven Andriasian nhờ hơn hệ số phụ.[5]

Giải vô địch Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối năm 2010, tại Moskva, Nepomniachtchi vô địch quốc gia sau khi đánh bại Sergey Karjakin ở ván playoff vì hai người đồng hạng nhất khi đấu vòng tròn[6]. Năm 2013, một lần nữa Nepomniachtchi đồng điểm hạng nhất với Svidler với thành tích 6,5/9 điểm (+5 =3 -1). Tuy nhiên anh thất bại trước Svidler sau hai ván cờ nhanh tranh ngôi vô địch với tỉ số 0,5-1,5.[7]

Năm 2020, Nepomniachtchi vô địch Nga với điểm số 7,5/11 (+5 =5 -1), xếp trên á quân Karjakin nửa điểm[8].

Giải vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, tại Rijeka, Nepomniachtchi vô địch châu Âu với điểm số 9/11[9].

Năm 2013, Nepomniachtchi đồng điểm hạng nhất với 9 kỳ thủ khác (8/11 điểm) tại Giải vô địch châu Âu. Sau khi tính hệ số phụ thì anh xếp hạng 8, còn Moiseenko vô địch[10].

Giải vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tại các giải đấu thuộc hệ thống vô địch thế giới, Nepomniachtchi lần đầu tiên lọt vào giải đấu Ứng viên năm 2020. Sau nửa giải đầu tiên, Nepomniachtchi đồng hạng nhất cùng Vachier-Lagrave với 4,5/7 điểm. Giải đấu sau đó hoãn đến mùa xuân năm 2021 vì Đại dịch COVID-19. Giải đấu ứng viên bắt đầu trở lại vào ngày 19 tháng 4 năm 2021, sau 7 vòng đấu (từ vòng 8 đến vòng thứ 14) Nepomniachtchi vô địch giải đấu với 8.5/14 điểm (5 thắng, 7 hòa và 2 thua), hơn nửa điểm so với người đứng thứ hai là Maxime Vachier-Lagrave. Chiến thắng này giúp anh trở thành nhà thách đấu vua cờ Magnus Carlsen trong giải vô địch cờ vua thế giới vào ngày 24 tháng 11 năm 2021.

Ở các giải Grand Prix cờ vua, năm 2017 là lần đầu tiên Nepomniachtchi có suất tham dự. Sau 3 vòng đấu anh đạt 198 điểm và không lọt vào hai vị trí cao nhất. Tuy nhiên đến tháng 5 năm 2019, Nepomniachtchi đánh bại Alexander Grischuk trong lượt trận cờ nhanh và chiến thắng giải đấu, chiến thắng này giúp anh đạt suất tham dự Giải đấu Ứng Viên 2020.

Ở các Cúp cờ vua thế giới

Các giải mời[sửa | sửa mã nguồn]

Với việc vô địch Aeroflot, Nepomniachtchi có suất tham dự Giải cờ vua Dortmund vào các năm 2008 và 2015. Năm 2008 anh về nhì với thành tích bất bại.

Tháng 11 năm 2011, Nepomniachtchi đồng hạng 3–5 với Vassily Ivanchuk và Sergey Karjakin ở Giải cờ vua Tưởng niệm Tal có hạng 22 tại Moskva.[11]

Nepomniachtchi vô địch Giải cờ vua Đam Châu năm 2016[12][13]. Sau giải Đam Châu, Elo của anh tiệm cận top 10 thế giới. Đến cuối năm 2016, anh lần đầu tiên vô địch giải Tưởng niệm Tal[14]. Với những thành công đó, anh được mời đến các giải mời danh giá trong năm 2017 là Tata và hệ thống giải Grand Chess Tour 2017.

Các giải mở[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009 Nepomniachtchi giành huy chương vàng cờ vua tại Đại hội thể thao Maccabiah[15].

Các giải đồng đội[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Olympiad cờ vua lần thứ 42, Nepomniachtchi giành huy chương đồng đồng đội với Nga và huy chương bạc cá nhân bàn 4[16]. Anh là thành viên của đội tuyển Nga giành huy chương vàng Giải vô địch cờ vua đồng đội thế giới 2013 ở Antalya[17] and at the 2015 European Team Chess Championship in Reykjavík.

Các giải nhanh chớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2013, Nepomniachtchi về nhì sau Shakhriyar Mamedyarov tại Giải vô địch cờ nhanh thế giớiKhanty-Mansiysk. Anh đã dẫn [18]

Vào cuối năm 2013, Elo chớp của Nepomniachtchi đạt đến 2830.

Nepomniachtchi giành huy chương bạc tại Giải vô địch cờ chớp thế giới năm 2014 tại Dubai, với 16/21 điểm, kém nhà vô địch Carlsen 1 điểm và bằng điểm nhưng hơn hệ số phụ người xếp hạng ba Nakamura[19].

Năm 2008, anh vô địch giải Ordix mở rộng. Đây là một giải cờ nhanhMainz.[20][21]

2014[sửa | sửa mã nguồn]

In August, at the 5th International Chess Festival “Yaroslav the Wise” in Yaroslavl, he won the Tournament of Champions, a rapid chess event held with the double round-robin format featuring the six European champions of 2009-2014.[22][23] At the SportAccord World Mind Games, held in December in Bắc Kinh, he won the gold medal in the men's Basque chess tournament.[24]

2015[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2015, anh lần thứ hai vô địch Aeroflot trong sự nghiệp, vượt Daniil Dubov nhờ hệ số phụ (cầm nhiều ván đen hơn) và giành được suất tham dự Dortmund 2015. Anh cũng vô địch luôn giải cờ chớp Aeroflot diễn ra ngay sau đó.[25] Later that year, in September, he won the Moscow Blitz Championship[26] and one month later, he took the silver medal at the World Rapid Chess Championship in Berlin.[27]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Nepomniachtchi là người Do Thái.[28]

Anh đã tốt nghiệp Russian State Social University.[29]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Week in Chess 420”. The Week in Chess. Mark Crowther. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015.
  2. ^ da Nóbrega, Adaucto Wanderley. “Heraklio 2002 - 17° World Championship u12 (boys)”. BrasilBase. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  3. ^ Standings of grandmaster group C 2007 Lưu trữ 2016-03-04 tại Wayback Machine Tata Steel Chess
  4. ^ GM title application FIDE
  5. ^ Crowther, Mark (ngày 28 tháng 5 năm 2007). “TWIC 655: Somov Memorial Kirishi”. The Week in Chess. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015.
  6. ^ “First Russian title for Nepomniachtchi (Nepomniachtchi lần đầu tiên vô địch Nga)”. ChessVibes. 23 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017. (tiếng Anh)
  7. ^ “Russian Super Final: Svidler, Gunina win”. ChessBase. ngày 14 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016.
  8. ^ “Ian Nepomniachtchi Becomes 2020 Russian Champion (Ian Nepomniachtchi trở thành vô địch Nga năm 2020)”. Liên đoàn cờ vua Nga. 17 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2020. (tiếng Anh)
  9. ^ “Ian Nepomniachtchi is European Chess Champion (Ian Nepomniachtchi vô địch châu Âu)”. Chessdom. 18 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017. (tiếng Anh)
  10. ^ Mark Crowther (16 tháng 5 năm 2013). “14th European Individual Championships 2013 (Giải vô địch châu Âu lần thứ 14 năm 2013)”. The Week in Chess. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017. (tiếng Anh)
  11. ^ “Carlsen catches Aronian in last round, wins Tal Memorial on tiebreak”. ChessVibes. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2011.
  12. ^ “7th Hainan Danzhou GM 2016”. The Week in Chess. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  13. ^ Shankland, Samuel (ngày 19 tháng 7 năm 2016). “Nepomniachtchi Wins Super Tournament in China”. World Chess. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  14. ^ Albert Silver (7 tháng 10 năm 2016). “Ian Nepomniachtchi wins Tal Memoria (Ian Nepomniachtchi vô địch giải Tưởng niệm Tal)”. ChessBase. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020. (tiếng Anh)
  15. ^ [1]
  16. ^ “42nd Olympiad Baku 2016 Open (Kết quả các bàn đấu Olympiad cờ vua 2016)”. Chess-Results. 13 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017.
  17. ^ “World Team 09 Russia takes gold; China silver”. ChessBase. ngày 6 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013.
  18. ^ “Shakhriyar Mamedyarov is 2013 World Rapid Chess Champion”. Chessdom. ngày 8 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016.
  19. ^ “FIDE World Blitz Championship 2014 (Kết quả Giải vô địch cờ chớp thế giới 2014)”. Chess-Results. 18 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2017. (tiếng Anh)
  20. ^ Doggers, Peter (ngày 4 tháng 8 năm 2008). “Nepomniachtchi wins Ordix Open”. ChessVibes. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016.
  21. ^ “Mainz 2008: Ian Nepomniachtchi wins Ordix Open”. ChessBase. ngày 5 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016.
  22. ^ “Ian Nepomniachtchi convincing in Yaroslavl”. Chessdom. ngày 28 tháng 8 năm 2014.
  23. ^ “Tournament of Champions in Yaroslavl”. Chessdom. ngày 25 tháng 8 năm 2014. Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  24. ^ McGourty, Colin (ngày 17 tháng 12 năm 2014). “Hou Yifan and Nepomniachtchi Basque in glory”. Chess24.
  25. ^ “Ian Nepomniachtchi dominates the Aeroflot Open”. Chessdom. ngày 6 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015.
  26. ^ “Ian Nepomniachtchi and Valentina Gunina win the Moscow Blitz Chess Championships”. FIDE. ngày 11 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015.
  27. ^ “Magnus Carlsen is 2015 World Rapid Champion!”. Chessdom. ngày 12 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015.
  28. ^ Soffer, Ram (ngày 24 tháng 7 năm 2013). “2013 Maccabiah Games - The Jewish Olympics”. ChessBase. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015.
  29. ^ “Vladimir Palikhata opened 9th International RSSU Cup Moscow Open 2013”. Moscow Open 2013. ngày 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2015.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Alexander Grischuk
Vô địch cờ vua Nga
2010
Kế nhiệm:
Peter Svidler
Tiền nhiệm:
Evgeny Tomashevsky
Vô địch cờ vua Nga
2020
Kế nhiệm:
đương nhiệm
Tiền nhiệm:
Evgeny Tomashevsky
Vô địch châu Âu
2010
Kế nhiệm:
Vladimir Potkin