Imjin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Imjin (임진강)
Rimjin (림진강)
Korea-Imjin River-01.jpg
Cây cầu Tự do cắt ngang qua sông Rimjin, nằm tại Munsan, Paju, Hàn Quốc.
Các quốc gia CHDCND Triều Tiên (PRK), Hàn Quốc (ROK)
Tỉnh Kangwon (PRK), Hwanghae Bắc (PRK), Gyeonggi (KOR)
Nguồn Núi Turyu [a]
 - Vị trí Poptong, Kangwon, CHDCND Triều Tiên
Cửa sông Hán Giang
 - vị trí Paju, Gyeonggi, Hàn Quốc
Chiều dài 273,50 km (170 mi) [1]
Lưu vực 8.138,90 km2 (3.142 sq mi) [1]
Vị trí sông Rimjin
Imjin
Hangul hoặc
Hanja
Romaja quốc ngữ rimjingang hoặc imjin-gang
McCune–Reischauer Rimjin'gang hoặc imjin'gang

Sông Imjin (Hangul임진강 ở Hàn Quốc) hoặc sông Rimjin (Chosŏn'gŭl림진강 ở Bắc Triều Tiên) (Hán Việt: Lâm Tân giang) là con sông lớn thứ 7 ở Triều Tiên,[2] chảy qua cả hai miền BắcNam bán đảo Triều Tiên. Sông chảy từ bắc xuống nam, vượt qua Khu phi quân sự và đổ ra sông Hán Giang chảy qua Seoul, ở đoạn rất gần nơi đổ ra Hoàng Hải. Sông không trùng tên với Imjin Waeran, cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật Bản với Triều Tiên vào cuối thế kỉ 16.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Imjin là nơi từng diễn ra hai trận đánh lớn: Trận sông Imjin trong Chiến tranh Nhật Bản-Triều Tiên vào năm 1592, và Trận sông Imjin trong chiến tranh Triều Tiên.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phà qua sông Imjin vào năm 1889

Luồng lạch có thể đi lại sông Imjin chỉ khoảng 50 đến 65 mét trong tổng chiều rộng 1.200 foot (370 m) của lòng sông vào mùa khô, được bao bọc bởi các vách đá gần như thẳng đứng với chiều cao xấp xỉ 75 foot (23 m) so với mức nước sông. Vào mùa mưa trên bán đảo từ tháng 7 đến tháng 8, sông Imjin trở thành một dòng nước chảy xiết, bị giới hạn phần lớn bởi các vách đá dốc bên hai bờ. Sông Imjin được cung cấp nước từ các phụ lưu lớn cũng như các dòng suối nhỏ, dòng sông đạt mức lũ cao đến 48 foot (15 m) trên mực nước trung bình và vận tốc đạt 15 tới 20 foot một giây (6 m/s).

Vào mùa đông, những cơn gió lạnh giá thổi qua Imjin; nhiệt độ dưới không khiến một lớp băng mỏng hình thành trên sông. Sự lên xuống của mực nước sông, sự xuống thấp đặc biệt của thủy triều, việc tan băng, và một lượng lớn băng trôi chồng lên đã khiến việc đi lại trở nên khó khăn.

Nhiều người Hàn Quốc đặt cho sông Imjin biệt danh là "Dòng sông chết chóc" do một số lượng lớn thi thể trôi xuống từ miền Bắc. Sự xuất hiện gần đây nhất là vào nạn đói chính của thập niên 1990 khi hàng triệu người dân miền bắc được tin là chết đói vì thiếu dinh dưỡng.

Trong văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiểu thuyết được nhiều người biết đến MASH: A Novel About Three Army Doctors, đơn vị MASH 4077 đóng quân gần một nhánh của sông Rimjin.[3]

Sông Rimjin là chủ đề của một bài hát rất nổi tiếng ở Bắc Triều Tiên, "Rimjingang", được đặt theo tên con sông. Nó được sáng tác năm 1957 với lời bài hát được viết bởi nhà thơ Bắc Triều Tiên Pak Se-yong. Đây là một bài hát bị cấm được biết đến rộng rãi ở Bắc Triều Tiên, vì nhắc đến sông Rimjin như một biểu tượng hoà bình xuyên suốt từ bắc chí nam. Bài hát này mô tả nỗi buồn của một quê hương bị chia cắt và ám chỉ đến lịch sử ô nhục của dòng sông. Bài hát sau này trở nên phổ biến ở Nhật Bản khi nó được hát lại bởi The Folk Crusaders.[4][5]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Núi Turyu (1,323m, Chosŏn'gŭl두류산; Hancha頭流山; MRTuryu'san)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă 2013년 한국하천일람 [List of Rivers of South Korea, 2013] (PDF) (bằng tiếng Korean). Han River Flood Control Office, Republic of Korea. 31 tháng 12 năm 2012. tr. 112–113. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ Seven Famous Spots, Yeoncheon County.
  3. ^ Hooker, Richard. MASH: A Novel About Three Army Doctors (M*A*S*H) . UK: Hatchett Books. tr. 9. ISBN 1780228880. 
  4. ^ A song to Imjin River, 7 June 2012
  5. ^ Imjin River: River where tears of the Koreans flow, 11 March 2014

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 37°47′B 126°40′Đ / 37,783°B 126,667°Đ / 37.783; 126.667