Iowa (lớp thiết giáp hạm)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
A large warship with guns pointed to the left; fire and smoke can be seen emanating from the gun barrels. Below the ship the dark blue water has taken on a white color owing to the disturbance in wind pressure from the firing of the guns.
USS Iowa (BB-61) đang bắn toàn bộ pháo chính qua mạn, 15 tháng 8 năm 1984, trong một cuộc thao diễn hỏa lực sau khi được tái biên chế.
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi:Lớp thiết giáp hạm Iowa
Xưởng đóng tàu:Xưởng hải quân New York
(BB-61 & BB-63)
Xưởng hải quân Philadelphia
(BB-62, BB-64, & BB-65)[A 1]
Xưởng hải quân Norfolk
(BB-66)[A 2]
Bên sử dụng:Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước:lớp South Dakota
Lớp sau:lớp Montana
Thời gian hoạt động:22 tháng 2 năm 194331 tháng 3 năm 1992[A 3]
Dự tính:6
Hoàn tất:4
Hủy bỏ:Illinois[1]
Kentucky[2]
Nghỉ hưu:4
Giữ lại:Iowa[3]
New Jersey[4]
Missouri[5]
Wisconsin[6]
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Thiết giáp hạm[A 4]
Trọng tải choán nước: 45.000 tấn Anh (46.000 t) (tiêu chuẩn);
52.000 tấn Anh (53.000 t) (trung bình tác chiến);
58.000 tấn Anh (59.000 t) (đầy tải)[7]
Độ dài: 861 ft (262 m) (mực nước);
890 ft (270 m) (chung)[8]
Sườn ngang: 108 ft (33 m) [7]
Mớn nước: 36 ft (11 m) (đầy tải) [8]
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số General Electric;[7]
8 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox;[7]
4 × trục;
công suất 212.000 shp (158.000 kW)[7]
Tốc độ: 31 hải lý một giờ (57 km/h) hoạt động thông thường;[9]
35 hải lý một giờ (65 km/h) tối đa lý thuyết (tải nhẹ)[9]
Tầm xa: 14.890 mi (12.940 nmi; 23.960 km) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph);[8]
11.700 mi (10.200 nmi; 18.800 km) ở tốc độ 20 hải lý một giờ (37 km/h; 23 mph)[8]
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
  • Thế Chiến II/Triều Tiên/Việt Nam:
    2.700 sĩ quan và thủy thủ[7]
  • Chiến tranh Lạnh/vùng Vịnh:
    1800 sĩ quan và thủy thủ [7]
Thiết bị chiến đấu điện tử
và nghi trang:
  • Thập niên 1980
    AN/SLQ-32(V)
    AN/SLQ-25 Nixie
    Mark 36 SRBOC[10]
  • Vũ trang:
  • Thế Chiến II/Triều Tiên/Việt Nam:
  • 9 × pháo 16 inch (406 mm) / 50 caliber Mark 7 (3 × 3);
    20 × pháo đa dụng 5 inch (127 mm) / 38 caliber Mark 12;
    80 × pháo phòng không Bofors 40 mm / 56 caliber;
    49 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm / 70 caliber[7]

    • Chiến tranh Lạnh/vùng Vịnh:

    9 × pháo 16-inch / 50 caliber Mark 7;
    12 × pháo đa dụng 5-inch / 38 caliber Mark 12;
    32 × tên lửa hành trình BGM-109 Tomahawk;
    16 × tên lửa đối hạm RGM-84 Harpoon;

    4 × hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx CIWS[7]
    Bọc giáp: đai giáp chính: 12,1 in (310 mm);[11];
    vách ngăn: 11,3 in (290 mm);[11]
    sàn tàu: 7,5 in (190 mm);[11]
    tháp pháo: 19,7 in (500 mm);[11]
    bệ tháp pháo: 11,6–17,3 in (290–440 mm)[11]
    Máy bay mang theo:
    Ghi chú: Lớp thiết giáp hạm cuối cùng được Hải quân Mỹ hoàn tất; lớp thiết giáp hạm duy nhất còn lại có thể tái hoạt động

    Lớp thiết giáp hạm Iowa là một lớp sáu thiết giáp hạm nhanh của Hải quân Hoa Kỳ được đặt hàng trong những năm 19391940. Chúng thoạt tiên được dự định để đối phó những tàu chiến chủ lực nhanh, như là lớp tàu chiến-tuần dương Kongō của Nhật Bản, đồng thời cũng có thể phục vụ trong hàng chiến trận truyền thống cùng những thiết giáp hạm chậm hơn, hoạt động như hai cánh nhanh của hàng chiến trận.[13][14] Lớp Iowa được thiết kế để tuân thủ “điều khoản leo thang” của Hiệp ước hải quân London thứ hai, giới hạn trọng lượng choán nước tiêu chuẩn ở mức 45.000 tấn Anh (45.700 t). Bốn chiếc, Iowa, New Jersey, MissouriWisconsin, đã hoàn tất; hai chiếc khác, IllinoisKentucky, đã được đặt lườn nhưng bị hủy bỏ tương ứng vào các năm 19451958; cả hai lườn tàu bị tháo dỡ vào những năm 19581959.

    Bốn thiết giáp hạm lớp Iowa là những thiết giáp hạm cuối cùng trong biên chế Hải quân Mỹ;[A 5] những thiết giáp hạm cũ hơn đều được xuất biên chế vào năm 1947 và rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào năm 1963. Từ giữa những năm 1940 cho đếu đầu thập niên 1990, những thiết giáp hạm lớp Iowa đã tham gia bốn cuộc chiến tranh lớn của Hoa Kỳ. Tại mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng chủ yếu đóng vai trò tàu hộ tống nhanh cho các tàu sân bay nhanh thuộc lớp Essex, và nả pháo xuống các vị trí của quân Nhật. Trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, những chiếc thiết giáp hạm đã hỗ trợ hỏa lực hải pháo cho lực lượng Liên Hiệp Quốc chống lại Bắc Triều Tiên. Đến năm 1968, New Jersey đã nả pháo xuống các mục tiêu của Việt Cộng gần khu phi quân sự trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Cả bốn chiếc đầu được huy động trở lại và hiện đại hóa, được trang bị tên lửa vào những năm 1980 như một phần của chương trình 600 tàu chiến Hải quân. Trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc năm 1991, MissouriWisconsin đã nả pháo 16 inch (406 mm) và tên lửa xuống các mục tiêu tại Iraq.

    Do chi phí tốn kém để duy trì, chúng được cho xuất biên chế vào đầu những năm 1990 khi cuộc Chiến tranh Lạnh đi đến hồi kết thúc. Cả bốn chiếc thiết giáp hạm thoạt tiên được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân; tuy nhiên, Quốc hội Mỹ buộc Hải quân phải duy trì hai chiếc trên cơ sở lực lượng hỗ trợ hải pháo không đầy đủ trong các chiến dịch đổ bộ. Điều này đã dẫn đến sự tranh luận kéo dài về vai trò của thiết giáp hạm trong hải quân hiện đại. Cuối cùng cả bốn chiếc đều được rút khỏi đăng bạ và sẵn sàng để tặng cho các tổ chức phi lợi nhuận. Sau khi Iowa được chuyển giao năm 2012, cả bốn chiếc hiện là những tàu bảo tàng trên khắp Hoa Kỳ.

    Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

    Sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất, hải quân nhiều nước, bao gồm Hoa Kỳ, Anh QuốcNhật Bản, tiếp tục mở rộng chương trình đóng tàu hải quân vốn đã bắt đầu từ trước cuộc xung đột. Chi phí khổng lồ liên quan đến những chương trình này tạo áp lực lên các nhà lãnh đạo chính phủ cần có một hội nghị giải trừ vũ khí. Vào ngày 8 tháng 7, 1921, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Charles Evans Hughes đã mời đại biểu các cường quốc hải quân vào lúc đó: Pháp, Ý, Nhật Bản và Anh, đến Washington, D.C. để thảo luận về việc kết thúc chạy đưa vũ trang hải quân. Hội nghị Hải quân Washington diễn ra sau đó đã đưa đến Hiệp ước Hải quân Washington; và trong các điểm được thỏa thuận, nó giới hạn mọi thiết giáp hạm trong tương lai một trọng lượng choán nước tiêu chuẩn 35.000 tấn và cỡ nòng pháo lớn nhất là 16 inch. Năm nước ký kết cũng đạt được thỏa thuận là không nước nào sẽ đóng mới tàu chủ lực trong mười năm tiếp theo, và không thay thế mọi con tàu sau hiệp ước cho đến khi con tàu đạt ít nhất 20 năm tuổi. Hiệp ước hải quân London thứ hai, cho dù thay thế những thỏa thuận năm 1922, dù sao vẫn giữ lại nhiều giới hạn tương tự, bao gồm giới hạn trọng lượng 35.000 tấn. Yêu cầu cuối cùng này đã ảnh hưởng đặc biệt đến thiết kế các lớp thiết giáp hạm trước lớp Iowa: lớp North Carolinalớp South Dakota.[15][16]

    Một điều khoản, được gọi là “điều khoản leo thang” trong Hiệp ước hải quân London thứ hai, cho phép các con tàu được trang bị pháo 16-inch (406 mm) thay vì 14-inch (356 mm). Điều này đã mang lại lợi ích cho các lớp North Carolina, South DakotaIowa; và Iowa còn được áp dụng một điều khoản khác, “điều khoản leo thang trọng lượng”. Từ tháng 11, 1937 , tin tức tình báo đã biết đến những chiếc “siêu-thiết giáp hạm” đang được Nhật Bản chế tạo, cho dù đặc tính kỹ thuật ước tính rất khác nhau phụ thuộc vào nguồn tin thu được. Sáu tháng sau, 31 tháng 3, 1938, Hoa Kỳ, Anh và Pháp chấp thuận áp dụng mức giới hạn tải trọng mới 45.000 tấn.[17]

    Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

    Thiết giáp hạm 27 knot và "A"-"C"[sửa | sửa mã nguồn]

    Sau mọi vấn đề về chính trị như trên, Hải quân được phép tiếp tục nghiên cứu thiết kế một kiểu thiết giáp hạm trọng lượng 45.000 tấn, và những nghiên cứu sơ khởi bắt đầu vào đầu năm 1938 dưới sự chỉ đạo của Đô đốc Thomas C. Hart, người đứng đầu Ủy ban Tướng lĩnh. Thiết kế đầu tiên là một phiên bản mở rộng dựa trên lớp South Dakota, mang mười hai khẩu 16-inch/45 caliber Mark 6 hoặc chín khẩu 18 in (460 mm) (phương án sau này bị hủy bỏ sau thỏa thuận ngày 31 tháng 3 giữa Hoa Kỳ, Anh và Pháp), có thêm vỏ giáp và một hệ thống động lực đủ mạnh cho phép nó đạt bằng tốc độ của lớp South Dakota, 27 hải lý một giờ (31 mph; 50 km/h). Những nghiên cứu này không có ảnh hưởng gì đến thiết kế của lớp Iowa sau này, nhưng được phát triển song song như một kiểu thiết giáp hạm “tiêu chuẩn” trong tương lai, mà cuối cùng trở thành thiết kế của lớp Montana bị hủy bỏ.[18]

    Một thiết kế khác, do Chi nhánh Thiết kế thuộc Văn phòng Chế tạo và Sửa chữa theo đuổi, là một kiểu tàu “diệt tàu tuần dương”. Được khởi đầu vào ngày 17 tháng 1, 1938 dưới sự chỉ đạo của Đại tá Hải quân A. J. Chantry, nhóm này đề xuất một thiết kế 12 pháo 16-inch và 20 pháo 5-inch, có khả năng băng qua kênh đào Panama (chuẩn Panamax) nhưng lại có trọng lượng không giới hạn, tốc độ tối đa 35 hải lý một giờ (40 mph; 65 km/h), và tầm xa hoạt động 20.000 hải lý (23.000 mi; 37.000 km) khi di chuyển ở tốc độ đường trường 15 hải lý một giờ (17 mph; 28 km/h). Các đặc tính này đưa trọng lượng con tàu lên đến 50.940 tấn Anh (51.760 t), nhưng Chantry tin rằng có thêm những tính năng khác ở kích cỡ lớn như thế. Do trọng lượng lớn hơn hầu hết những thiết giáp hạm khác, vỏ giáp của nó chỉ đủ bảo vệ chống lại pháo 8 in (200 mm) trên những tàu tuần dương hạng nặng.[17][A 6]

    Ba phương án cải tiến "A", "B" và "C" được thiết kế vào cuối tháng 1. Mớn nước được tăng thêm chủ yếu để tăng cường cho vỏ giáp,[A 7] và thay thế 12 khẩu pháo 6 inch (150 mm) cho dàn pháo hạng hai là những điểm chung cho cả ba thiết kế này. "A" là kiểu lớn nhất với trọng lượng 59.060 tấn Anh (60.010 t), và là kiểu duy nhất giữ lại 12 khẩu pháo 16-inch trên bốn tháp pháo ba nòng; nó đòi hỏi một hệ thống động lực công suất 277.000 mã lực càng (207.000 kW) để đạt được tốc độ 32,5 hải lý một giờ (37,4 mph; 60,2 km/h). "B" là kiểu nhỏ nhất với trọng lượng 52.707 tấn Anh (53.553 t); và giống như "A" nó sẽ có tốc độ tối đa 32,5 knot nhưng chỉ yêu cầu công suất 225.000 shp (168.000 kW). "B" được trang bị chín khẩu pháo 16-inch trên ba tháp pháo ba nòng. "C" có thiết kế tương tự, nhưng tăng công suất hệ thống động lực lên đến 300.000 shp (220.000 kW) để đạt được tốc độ 35 knot như yêu cầu ban đầu. Trọng lượng cần thiết và một đai giáp dài hơn (512 foot (156 m) so với 496 foot (151 m) của “B”) khiến nó có trọng lượng 55.771 tấn Anh (56.666 t).[19]

    Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

    A black and white photograph showing four ships at various distances sailing from the right to the left.
    Cả bốn chiếc thiết giáp hạm Iowa hiện diện cùng một lúc trong lần đầu tiên và duy nhất, 1954

    Khi được đưa vào phục vụ vào những năm cuối cùng của Thế Chiến II, những thiết giáp hạm lớp Iowa được phân công hoạt động tại Mặt trận Thái Bình Dương. Vào thời điểm này của chiến tranh, tàu sân bay đã thay thế cho thiết giáp hạm giữ vai trò lực lượng tấn công chủ lực trong cả Hải quân Hoa Kỳ lẫn Hải quân Đế quốc Nhật Bản; và do hậu quả của việc thay đổi chiến thuật này, mọi lớp thiết giáp hạm Hoa Kỳ đều được chuyển sang vai trò phụ là hộ tống các tàu sân bay, và được phân về các đội đặc nhiệm tàu sân bay nhanh để bảo vệ phòng không cho các tàu sân bay và tiến hành bắn phá bờ biển.[20] Sau khi chiến tranh kết thúc, Iowa, New JerseyWisconsin được cho xuất biên chế và bị bỏ không trong thành phần dự bị;[A 8] việc chế tạo hai con tàu chưa hoàn tất, Illinois[1]Kentucky, bị hủy bỏ.[2]

    Những chiếc Iowa được huy động trở lại vào năm 1950 sau khi nổ ra cuộc Chiến tranh Triều Tiên; chúng đã bắn hải pháo hỗ trợ cho lực lượng Liên Hiệp Quốc trong suốt thời gian của cuộc xung đột, rồi quay trở lại hạm đội dự bị vào năm 1955 sau khi đạt được thỏa thuận ngừng bắn. Đến năm 1968, trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, để giảm bớt việc tổn thất của Không quân Hoa Kỳ trong các phi vụ không kích lên miền Bắc Việt Nam,[21] hải quân tăng cường bắn phá bằng hải pháo dọc bờ biển, và New Jersey được huy động trở lại, trở thành chiếc thiết giáp hạm duy nhất hoạt động trên thế giới vào năm 1968. Từ ngày 6 tháng 4, 1968 đến ngày 17 tháng 12, 1969, nó đã hoạt động dọc theo bờ biển biển Việt Nam ngoài khơi khu phi quân sự, bắn gần 6.000 quả đạn pháo 16 inch (406 mm) và trên 14.00 quả đạn pháo 5 inch (127 mm) xuống các mục tiêu đối phương.[22][23] Nó lại được xuất biên chế trong năm tiếp theo.[23][24]

    Vào Thập niên 1980, mọi chiếc trong lớp Iowa đều được cho tái hoạt động trong khuôn khổ kế hoạch tăng cường quân sự của Tổng thống Ronald Reagan và tạo ra một Hải quân 600 tàu chiến. Chúng được dự tính để đối phó với lớp tàu tuần dương tên lửa hành trình Orlan mới của Liên Xô, vốn thường được phương Tây đặt tên là lớp tàu chiến-tuần dương Kirov.[25][26][27]Mỗi thiết giáp hạm được hiện đại hóa để mang các bộ tác chiến điện tử, các hệ thống phòng thủ tầm gần (CIWS: Close-in Weapon System) và tên lửa hành trình.[A 9][28] Chúng sẽ trở thành hạt nhân của nhóm tác chiến thiết giáp hạm (BBBG: battleship battle group).[A 10] Nhiệm vụ của chúng trong những năm 1980 và đầu những năm 1990 bao gồm sự kiện Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc Nội chiến Liban sau vụ Đánh bom trại binh Beirut 1983, và trong các Chiến dịch Lá chắn sa mạc năm 1990Chiến dịch Bão táp sa mạc từ tháng 1 đến tháng 2, 1991. Được cho xuất biên chế lần sau cùng do những vấn đề về cắt giảm ngân sách vào đầu những năm 1990,[A 11] những chiếc trong lớp Iowa được chia thành hai nhóm: nhóm được giữ lại trong thành phần Hạm đội Dự bị Hải quân Hoa Kỳ và nhóm sẽ được trao tặng để sử dụng như những tàu bảo tàng.[29]

    Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

    Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

    1. ^ BB-65 bị hủy bỏ vào ngày 11 tháng 8 năm 1945 khi hoàn tất được 22%. (Jane's Fighting Ships of World War II).
    2. ^ BB-66 bị trì hoãn một thời gian trước khi bắt đầu chế tạo ngày 6 tháng 12 năm 1944. Hủy bỏ 1950. “Kentucky (BB 66)”. Naval Vessel Register, United States Navy. Ngày 23 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
    3. ^ Lớp Iowa được biên chế gián đoạn suốt giai đoạn giữa và cuối thế kỷ 20. Khoảng thời gian này không xem xét các giai đoạn chúng nằm trong thành phần dự bị giữa các cuộc xung đột. Newhart 2007, tr. 90–101
    4. ^ Lớp thiết giáp hạm Iowa còn được xem là thiết giáp hạm nhanh do đạt đến tốc độ 30+ knot. Newhart, Max R. (2007). American Battleships: A Pictorial History of BB-1 to BB-71 with Prototypes main and Texas. Missoula, Montana: Pictorial Histories Publishing Company, Inc. tr. 90–101. ISBN 1-57510-004-5. 
    5. ^ Vào lúc này, lớp thiết giáp hạm Montana được vạch kế hoạch, nhưng chưa có chiếc nào được đặt lườn.Newhart, Max R. (2007). American Battleships: A Pictorial History of BB-1 to BB-71 with Prototypes main and Texas. Missoula, Montana: Pictorial Histories Publishing Company, Inc. tr. 90–101. ISBN 1-57510-004-5. 
    6. ^ Hơn nữa, vỏ giáp được phân bố để bảo vệ tốt hơn những phát bắn trúng ở khoảng cách gần, vì những tàu diệt tàu tuần dương này sẽ hoạt động độc lập và có thể trong thời tiết xấu, vốn sẽ ảnh hưởng đến tầm nhìn và tầm xa hiệu quả (radar chưa được trang bị rộng rãi cho tàu chiến tính đến lúc đó). Mặt khác, một thiết giáp hạm thực sự có thể thiết kế chỉ để đối phó những nguy cơ tầm xa khi chúng được tàu khu trục, và có thế cả tàu tuần dương hộ tống, cả hai có thể phát hiện và đối đầu mọi đối thủ trước khi chúng tiếp cận các tàu chủ lực, bất kể điều kiện thời tiết.Friedman 1986, tr. 309
    7. ^ Đai giáp gia tăng từ 8,1 inch (210 mm) lên 12,6 inch (320 mm); sàn tàu bọc thép từ 2,3 inch (58 mm) lên 5 inch (130 mm); giáp chống mảnh đạn lên 3,9 inch (99 mm); lớp giáp tháp pháo từ 9 inch (230 mm) ở mặt trước, 6 inch (150 mm) bên hông, và 5 inch (130 mm) ở mặt sau được tăng lên 18 inch (460 mm), 10 inch (250 mm) và 8 inch (200 mm), tương ứng.Friedman 1986, tr. 310
    8. ^ Như một phần của kế hoạch cắt giảm lực lượng sau Thế Chiến II, những thiết giáp hạm lớp Iowa được cho ngừng hoạt động và xuất biên chế, tuy nhiên Tổng thống Harry S. Truman đã từ chối cho Missouri xuất biên chế. Đi ngược lại ý kiến của Bộ trưởng Quốc phòng Louis A. Johnson, Bộ trưởng Hải quân John L. Sullivan, và của Tư lệnh Tác chiến Hải quân Louis E. Denfeld, Truman ra lệnh giữ Missouri lại trong thành phần hạm đội hiện dịch, một phần vì sự tự hào của ông đối với con tàu, và phần khác vì Missouri do chính con gái của ông Margaret Truman đỡ đầu. Xem: Stillwell, Paul (tháng 2 năm 1999). “USS Missouri: Served in World War II and Korean War”. American History. ISSN 1076-8866. OCLC 30148811. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2007.  Adamski, Mary (9 tháng 8 năm 1998). “Mighty Mo anchors $500,000 donation”. Honolulu Star-Bulletin. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
    9. ^ Trong đợt tái hoạt động này, Hải quân cân nhắc những ý tưởng khác nhau trong việc tháo dỡ tháp pháo số 3 phía đuôi tàu, thay bằng những thiết bị phục vụ cho 12 máy bay STOVL AV-8B Harrier (cất cánh đường băng ngắn và hạ cánh thẳng đứng). Kế hoạch cải biến này bị hủy bỏ vào năm 1984. Xem: “BB-61 Iowa-class Aviation Conversion”. GlobalSecurity.org. 27 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2007. 
    10. ^ Một nhóm tác chiến thiết giáp hạm sẽ bao gồm một tàu tuần dương lớp Ticonderoga, một tàu khu trục lớp Kidd hoặc lớp Arleigh Burke, một tàu khu trục lớp Spruance, ba tàu frigate lớp Oliver Hazard Perry và một tàu hỗ trợ.Lightbody 1990, tr. 338–339
    11. ^ Một báo cáo của Văn phòng Kiểm toán Chính phủ về chi phí hoạt động của mỗi chiếc trong lớp thiết giáp hạm Iowa vào năm 1991 cho biết nó làm hao tốn của Hải quân Mỹ 58 triệu Đô-la để vận hành mỗi chiếc (thời giá năm 1991, tương đương 109,34 triệu Đô-la vào năm 2019), US Inflation Calculator. Con số này chưa bao gồm chi phí những linh kiện đặc biệt và những thành phần đặc trưng khác có thể cần để tiếp tục vận hành chiếc thiết giáp hạm. “Defense Budget: Potential Reductions to DOD's Ammunition Budgets” (pdf). United States General Accounting Office. 17 tháng 9 năm 1990. tr. 29. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 

    Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

    1. ^ a ă “Illinois (BB 65)”. Naval Vessel Register, United States Navy. Ngày 22 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
    2. ^ a ă “Kentucky (BB 66)”. Naval Vessel Register, United States Navy. Ngày 23 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
    3. ^ “Iowa (BB 61)”. Naval Vessel Register, United States Navy. Ngày 26 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2010. 
    4. ^ “New Jersey (BB 62)”. Naval Vessel Register, United States Navy. Ngày 22 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
    5. ^ “Missouri (BB 63)”. Naval Vessel Register, United States Navy. Ngày 22 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
    6. ^ “Wisconsin (BB 64)”. Naval Vessel Register, United States Navy. Ngày 23 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
    7. ^ a ă â b c d đ e ê Newhart 2007, tr. 90–101
    8. ^ a ă â b Friedman 1986, tr. 449
    9. ^ a ă Friedman 1986, tr. 317
    10. ^ Smigielski, Adam. “Biblioteka Magazynu MSiO n°03 - Amerykanskie Olbrzymy” (bằng tiếng Polish) 3. Biblioteka Magazynu MSiO. 
    11. ^ a ă â b c Johnston & McAuley 2002, tr. 108–123
    12. ^ Pike, John (ngày 5 tháng 3 năm 2000). “Pioneer Short Range (SR) UAV”. Federation of American Scientists. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007. 
    13. ^ Hough 1964, tr. 214–216
    14. ^ Sumrall 1988, tr. 41
    15. ^ Friedman 1986, tr. 181-182, 243
    16. ^ Garzke & Dulin 1995, tr. 3 & 6
    17. ^ a ă Friedman 1986, tr. 309
    18. ^ Friedman 1986, tr. 309 & 311
    19. ^ Friedman 1986, tr. 310
    20. ^ Johnston & McAuley 2002, tr. 161
    21. ^ Neubeck 2002, tr. 42
    22. ^ Polmar 2001, tr. 129
    23. ^ a ă Stillwell 1986, tr. 222
    24. ^ Naval Historical Center. New Jersey. DANFS. 
    25. ^ Bishop 1988, tr. 80
    26. ^ Miller & Miller 1986, tr. 114
    27. ^ Middleton, Drew (13 tháng 3 năm 1981). “Pentagon likes budget proposal, but questions specifics”. The New York Times. tr. A14. 
    28. ^ Horan, Donald J. (20 tháng 4 năm 1981). “Update of the Issues Concerning the Proposed Reactivation of the Iowa class battleships and the Aircraft Carrier Oriskany” (PDF). United States General Accounting Office. tr. 3–18. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2005. 
    29. ^ National Defense Authorization Act of 1996PDF (1.68 MB). 104th Congress, House of Representatives. p. 237. Retrieved on 17 December 2006.

    Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

    Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

    Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]