Isabel Saint Malo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Isabel de Saint Malo de Alvarado
Chức vụ
Nhiệm kỳ1 July 2014 – 
Tiền nhiệmJuan Carlos Varela
Thông tin chung
Sinh27 tháng 6, 1968 (51 tuổi)
Panama City, Panama
Đảng pháiIndependent
Con cái3
Học sinh trườngSaint Joseph's University and Nova Southeastern University
Isabel Saint Malo với Reuven Rivlin, Tổng thống Israel

Isabel Cecilia de Saint Malo García de Alvarado (sinh ngày 27 tháng 6 năm 1968) là một chính trị gia người Panama và là Phó Tổng thống hiện tại của Panama.[1] Cô tranh cử cùng Tổng thống đương nhiệm, Juan Carlos Varela, trong liên minh giữa hai đảng Panameñista và Đảng Nhân dân với tên gọi "El Ellolo Primero". Cô là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Panama được bầu cho chức vụ này.[2]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

De Saint Malo de Alvarado có bằng cử nhân về Quan hệ quốc tế tại Đại học Saint Joseph và bằng Thạc sĩ Quản trị kinh doanh tại Đại học Nova Đông Nam, và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực chính sách công và phát triển.

Nghề nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Isabel de Saint Malo de Alvarado, có hơn 20 năm kinh nghiệm trong việc tư vấn, phát triển và thực hiện các chính sách công ở Mỹ Latinh. Sau khi được bầu làm Phó Chủ tịch và được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Ngoại giao, bà đã trở thành người phụ nữ đầu tiên giữ cả hai vị trí trong lịch sử của đất nước mình.

Bà de Saint Malo de Alvarado bắt đầu sự nghiệp ngoại giao của mình với các chức vụ khác nhau giữa Bộ Ngoại giao Panama và Phái đoàn Thường trực Liên Hợp Quốc tại New York (1990-1992), nơi bà làm Đại diện thường trực thay thế. Bà cũng đã làm việc 15 năm với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Panama, chiếm các vị trí khác nhau, bao gồm cả Trợ lý Đại diện. Từ UNDP, cô đã lãnh đạo nhóm thiết kế và thực hiện Thỏa thuận Panama 2000 (Hồi Acuerdos Panamá 2000), nơi tạo ra khuôn khổ cho luật pháp của Cơ quan quản lý kênh đào Panama (ACP). ACP là quản lý đường thủy một khi nó trở lại tay người Panama.

Vào tháng 10 năm 2015, Bà de Saint Malo de Alvarado được Viện Xúc tiến Hòa bình Harry S. Truman công nhận về kết quả đạt được trong việc xây dựng đối thoại và đồng thuận trong suốt sự nghiệp của mình và cho vai trò của Chính phủ Cộng hòa Panama chuẩn bị địa điểm cho cuộc gặp lịch sử giữa các tổng thống Cuba và Hoa Kỳ, trong Hội nghị thượng đỉnh VII của châu Mỹ (tháng 4 năm 2015). Bà là người đầu tiên ở Mỹ Latinh nhận được sự công nhận này và đã được trao giải thưởng Phụ nữ của năm 2012.[3]

Phó Chủ tịch đã là thành viên của các ban giám đốc khác nhau như Banco BBVA, Fundación Democracia y Libertad, trong số những người khác, và là cựu sinh viên của Sáng kiến Lãnh đạo Trung Mỹ ("CALI") của Viện Aspen (2008). Bà cũng là người đồng sáng lập Hiệp hội Giám đốc Doanh nghiệp Phụ nữ Panama và trung tâm Global Shapers của Thành phố Panama, một sáng kiến của Diễn đàn Kinh tế Thế giới nhằm phát triển tiềm năng của các nhà lãnh đạo trẻ. Cô được bổ nhiệm làm chuyên gia trong Hội đồng Chương trình nghị sự toàn cầu về minh bạch (2014) bởi cùng một tổ chức.

Thành tựu trong lĩnh vực công[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại, với tư cách là Phó Tổng thống Cộng hòa, và dựa trên các ưu tiên của Chính phủ Panama, chủ trì Nội các xã hội (Hồi Gabinete Xã hội) và hỗ trợ Hội đồng Phát triển Quốc gia.), nơi cô tìm cách đưa ra các chính sách xã hội, xung quanh mục tiêu chiến lược là xóa đói giảm nghèo và bất bình đẳng xã hội thông qua việc áp dụng các Mục tiêu Phát triển Bền vững.

Trong cùng một hành động, cô thúc đẩy các vấn đề liên quan đến tính minh bạch, sự đồng thuận quốc gia về giáo dục và y tế và bình đẳng giới. Cô là nhà vô địch Mỹ Latinh và Caribbean cho sáng kiến của phụ nữ LHQ - ILO: Liên minh thanh toán quốc tế Equal Pay.[4]

Là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cô thúc đẩy dự án hiện đại hóa và củng cố thể chế của Bộ Ngoại giao, với mục tiêu chính là khuyến khích tính chuyên nghiệp của ngoại giao Panama.

Tầm nhìn của cô là truyền cảm hứng cho một chính sách đối ngoại, nơi Panama đóng vai trò là một quốc gia đối thoại; xây dựng sự đồng thuận, một quốc gia được đặt lên hàng đầu trong chương trình nghị sự phát triển toàn cầu.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cô kết hôn với Omar Alvarado và có ba đứa con: Alberto, Carolina Isabel và Julio Raúl.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Danh sách bộ trưởng ngoại giao năm 2017
  • Danh sách các bộ trưởng ngoại giao hiện nay

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ García de Paredes, Guadelupe y Cannata Zevallos, Sonia. “Genealogía de Familias Panameñas” (PDF). 
  2. ^ Chambers, Mon Alicia. “Isabel de Saint Malo: La vicepresidenta”. La Prensa. 
  3. ^ “Mujer destacada del año”. 3 tháng 5 năm 2012. 
  4. ^ “EPIC coalition is launched in Panama to close pay gap between women and men in Latin America and the Caribbean”. 30 tháng 1 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan chính trị


Tiền nhiệm

</br> Fernando Núñez Fábrega
Bộ trưởng bộ ngoại giao



</br> 2014 - Hiện tại
Đương nhiệm
Tiền nhiệm



</br> Juan Carlos Varela
Phó tổng thống Panama



</br> 2014 - Hiện tại