Isack Hadjar
Hadjar năm 2022 | |
| Sinh | Isack Alexandre Hadjar 28 tháng 9, 2004 Paris, Pháp |
|---|---|
| Sự nghiệp Công thức 1 | |
| Quốc tịch | |
| Những năm tham gia | 2025– |
| Teams | Đội đua Racing Bulls, Red Bull Racing |
| Đội đua năm 2025 | Racing Bulls-Honda RBPT |
| Số xe đua | 6 |
| Số chặng đua tham gia | 24 (23 lần xuất phát) |
| Vô địch | 0 |
| Chiến thắng | 0 |
| Số lần lên bục trao giải | 1 |
| Tổng điểm | 51 |
| Vị trí pole | 0 |
| Vòng đua nhanh nhất | 0 |
| Chặng đua đầu tiên | Giải đua ô tô Công thức 1 Úc 2025 |
| Chặng đua gần nhất/cuối cùng | Giải đua ô tô Công thức 1 Abu Dhabi 2025 |
| Kết quả năm 2025 | Hạng 12 (51 điểm) |
| Giải đua trước | |
| 2023–2024 2022 2021–2022 2021 2020 2019–2020 2018 | Giải đua xe Công thức 2 Giải đua xe Công thức 3 Giải đua xe Công thức khu vực châu Á Giải vô địch Công thức khu vực châu Âu Giải đua xe Công thức 4 Các Tiểu vuơng quốc Ả Rập Thống nhất Giải đua xe Công thức 4 Pháp Ginetta Junior Winter |
Isack Alexandre Hadjar[a] (tiếng Pháp: [i.zak a.d͡ʒaʁ], tiếng Ả Rập: [ʔis.ħaːq ħa.d͡ʒar], sinh ngày 28 tháng 9 năm 2004) là một vận động viên đua xe chuyên nghiệp người Pháp-Algérie hiện đang thi đấu dưới lá cờ Pháp cho Đội đua Racing Bulls tại Công thức 1.
Sinh ra và lớn lên ở Paris trong một gia đình người Algérie, Hadjar bắt đầu sự nghiệp đua xe chuyên nghiệp lúc bảy tuổi với đua xe kart. Anh tiếp tục tham gia tại Ginetta Junior Winter Series năm 2018. Năm 2019, anh chuyển sang các giải đua xe công thức trẻ. Anh đứng thứ ba chung cuộc tại Giải đua xe Công thức 4 Pháp năm 2020 với Học viện FFSA trước khi đạt được nhiều chiến thắng và đứng thứ năm chung cuộc trong mùa giải tân binh của mình tại Giải đua xe Công thức châu Âu năm 2021. Sau đó, anh tham gia Giải đua xe Công thức 3 châu Á và Giải đua xe Công thức 3 năm 2022 với Đội đua Hitech, đứng thứ ba chung cuộc ở giải trước và giành được nhiều chiến thắng ở cả hai giải. Hadjar chuyển lên Giải đua xe Công thức 2 năm 2023 và về nhì sau Gabriel Bortoleto trong mùa giải tiếp theo với Đội đua Campos. Những thành tích của anh tại Giải đua xe Công thức 2 đã khiến anh được truyền thông Pháp đặt biệt danh là "tiểu Prost" (tiếng Pháp: le Petit Prost).
Là thành viên của Đội trẻ Red Bull từ năm 2022, Hadjar ký hợp đồng với Đội đua Racing Bulls vào năm 2025 và ra mắt tại Công thức 1 tại Giải đua ô tô Công thức 1 Úc 2025, nơi anh gặp nạn trong vòng đua khởi động. Anh đã lấy được nhiều điểm trong mùa giải tân binh của mình, bao gồm cả lần đầu tiên lên bục trao giải vinh quang tại Giải đua ô tô Công thức 1 Hà Lan 2025. Hadjar dự kiến sẽ được thăng lên đội đua cấp cao Red Bull Racing vào năm 2026 cùng với Max Verstappen.
Thiếu thời
[sửa | sửa mã nguồn]Isack Alexandre Hadjar sinh ngày 28 tháng 9 năm 2004 tại Paris, Pháp, trong một gia đình bác sĩ và nhà vật lý người Algérie. Cha anh, Yassine Hadjar, là một nhà nghiên cứu cơ học lượng tử và cũng là thợ sửa xe kart của anh. Anh mang hai quốc tịch Algérie và Pháp.[1]
Hadjar ban đầu yêu thích môn đua xe thể thao sau khi xem bộ phim hoạt hình Cars của Pixar. Cha mẹ anh đã mua cho anh một chiếc xe kart khi anh bảy tuổi, một năm sau khi anh bắt đầu xem Công thức 1.[1] Anh cũng từng thi đấu Quyền Anh và judo khi còn nhỏ.[2]
Sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Đua xe kart (2012–2018)
[sửa | sửa mã nguồn]Hadjar bắt đầu tham gia đua xe kart chuyên nghiệp vào năm 2012. Sau khi tham gia các giải vô địch quốc gia đầu tiên, Hadjar đã tranh tài tại đấu trường quốc tế vào năm 2017. Hadjar đã tham gia Giải vô địch đua xe kart thế giới năm 2018 và đứng thứ 22.
Công thức 4 (2019–2020)
[sửa | sửa mã nguồn]2019
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2019, Hadjar bắt đầu sự nghiệp đua xe một chỗ ngồi tại Giải đua xe Công thức 4 Pháp. Mặc dù gặp khó khăn khi đạp hết chân ga do chiều cao thấp vào đầu mùa giải, Hadjar vẫn giành được chiến thắng đầu tiên ở hạng mục xe một chỗ ngồi trong chặng đua thứ ba tại Trường đua Spa-Francorchamps. Hadjar lên bục trao giải vinh quang lần tiếp theo tại Trường đua Lédenon với vị trí thứ hai trong chặng đua cuối cùng. Mặc dù Hadjar phải bỏ cuộc trong ba chặng đua cuối cùng, anh vẫn giành được một số điểm để kết thúc chung cuộc ở vị trí thứ bảy trên bảng xếp hạng và giành vị trí thứ hai chung cuộc ở hạng mục tay đua trẻ sau Victor Bernier.
2020
[sửa | sửa mã nguồn]Hadjar đã tham gia hai chặng đua của Giải đua xe Công thức 4 Các Tiểu vuơng quốc Ả Rập Thống nhất vào mùa đông năm 2020 với đội đua 3Y Technology,[3] nơi anh đạt kết quả cao nhất là vị trí thứ tư trong chặng đua cuối cùng. Anh ghi được tổng cộng 56 điểm và xếp thứ 11 chung cuộc trong bảng xếp hạng các tay đua.
Sau đó, Hadjar một lần nữa tham gia Giải đua xe Công thức 4 Pháp. Anh lên bục trao giải vinh quang ngay trong chặng đua đầu tiên của mùa giải và thường xuyên lên bục trao giải vinh quang trong nửa đầu mùa giải mặc dù không giành chiến thắng. Tuy nhiên, ở chặng đua áp chót tại Trường đua Paul Ricard, Hadjar đã giành được vị trí pole và vượt qua Iwasa Ayumu để giành chiến thắng chặng đua đầu tiên trong năm. Hadjar cũng giành chiến thắng chặng đua thứ ba của vòng đấu sau một cuộc cạnh tranh khác với Iwasa. Tại chặng đua Paul Ricard thứ ba, anh giành chiến thắng chặng đua đầu tiên lần thứ ba và về đích ở các vị trí thứ năm và thứ sáu trong hai chặng đua cuối cùng. Với tám lần lên bục trao giải vinh quang, hai vị trí pole và ba chiến thắng, Hadjar kết thúc chung cuộc ở vị trí thứ ba trong bảng xếp hạng các tay đua với 233 điểm với tư cách là tay đua người Pháp có thứ hạng cao nhất.
Formula Regional (2021–2022)
[sửa | sửa mã nguồn]2021
[sửa | sửa mã nguồn]Hadjar ra mắt Formula Regional năm 2021, tham gia ba vòng đầu tiên của Giải đua xe Công thức 3 châu Á với Evans GP. Anh gây ấn tượng ngay lập tức khi lên bục trao giải vinh quang ở Dubai Autodrome, ba lần lên bục trao giải vinh quang ở Trường đua Yas Marina và vị trí thứ ba nữa trong chặng đua cuối cùng của chặng đua thứ ba, kết thúc ở vị trí thứ sáu chung cuộc dù chỉ thi đấu bán thời gian.
Chiến dịch chính của anh là tại Giải vô địch Công thức khu vực châu Âu với R-ace GP cùng với Zane Maloney, Léna Bühler và Hadrien David. Anh giành được điểm và chiến thắng đầu tiên tại Imola, lên bục trao giải vinh quang ở Trường đua Barcelona-Catalunya và chiến thắng đầu tiên ở Monaco từ vị trí pole. Cuối tuần đó, anh cũng về đích thứ hai trong chặng đua thứ hai, thu hẹp khoảng cách với người dẫn đầu bảng xếp hạng Grégoire Saucy. Mặc dù có một số lần về đích trong top sáu, anh không lên bục trao giải vinh quang thêm một lần nào nữa cho đến chặng đua cuối cùng tại Monza, nơi anh giành được một chiến thắng và một lần lên bục trao giải vinh quang khác. Hadjar kết thúc chung cuộc ở vị trí thứ năm, kém Maloney bốn điểm, và được vinh danh là tay đua tân binh xuất sắc nhất mùa giải.
2022
[sửa | sửa mã nguồn]Đầu năm 2022, Hadjar tham gia Giải đua xe Công thức khu vực châu Á với Hitech Grand Prix.[4] Hadjar khởi đầu mùa giải với lần lên bục trao giải vinh quang tại Yas Marina và hai lần lên bục trao giải vinh quang khác ở chặng đua thứ 2. Hadjar giành chiến thắng đầu tiên trong năm ở chặng đua đầu tiên tại Dubai Autodrome, nơi anh chịu áp lực lớn từ Paul Aron. Hadjar một lần nữa giành chiến thắng trong chặng đua cuối cùng của mùa giải tại Abu Dhabi từ vị trí pole và kết thúc chung cuộc ở vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng.[5]
Thống kê sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Thống kê tổng thể
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
- * Mùa giải đang diễn ra
Thống kê kết quả chi tiết
[sửa | sửa mã nguồn]Macau Grand Prix
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Đội đua | Xe đua | Vòng phân hạng | Chặng đua vòng phân hạng | Chặng đua chính |
|---|---|---|---|---|---|
| 2023 | Dallara F3 2019 | Hạng 4 | Hạng 9 | Hạng 7 |
Giải đua xe Công thức 2
[sửa | sửa mã nguồn]| Mùa giải | Đội đua | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | Vị trí trên bảng xếp hạng |
Tổng điểm |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2023 | Hitech Pulse-Eight | BHR SPR |
BHR SPR |
JED SPR |
JED FEA |
MEL SPR |
MEL FEA |
BAK SPR |
BAK FEA |
MON SPR |
MON FEA |
CAT SPR |
CAT FEA |
RBR SPR |
RBR FEA |
SIL SPR |
SIL FEA |
HUN SPR |
HUN FEA |
SPA SPR |
SPA FEA |
ZAN SPR |
ZAN FEA |
MNZ SPR |
MNZ FEA |
YMC SPR |
YMC FEA |
14 | 55 | ||
| 20 | 7 | 12 | 9 | 6 | 15 | 11 | 7F | Ret | 12 | 12 | 20 | 3 | 12 | 5 | 15 | 8 | 5 | 11 | Ret | 1 | 6 | 11 | 11 | 5 | 8 | ||||||
| 2024 | Campos Racing | BHR SPR |
BHR FEA |
JED SPR |
JED FEA |
MEL SPR |
MEL FEA |
IMO SPR |
IMO FEA |
MON SPR |
MON FEA |
CAT SPR |
CAT FEA |
RBR SPR |
RBR FEA |
SIL SPR |
SIL FEA |
HUN SPR |
HUN FEA |
SPA SPR |
SPA FEA |
MNZ SPR |
MNZ FEA |
BAK SPR |
BAK FEA |
LSL SPR |
LSL FEA |
YMC SPR |
YMC FEA |
2 | 192 |
| 4 | Ret | 15 |
Ret | 6 | 1 | Ret | 1 | 8 | 2 | 6 | 5 | 13 | 3 | Ret | 1P | 3F | 18 | 9 | 1 | 10 | 11 | 12 | 14 | 4 | 2 | 5 | 19 | ||||
Công thức 1
[sửa | sửa mã nguồn]| Mùa giải | Đội đua | Xe đua | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | Vị trí trên bảng xếp hạng |
Tổng điểm |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2023 | Scuderia AlphaTauri | AlphaTauri AT04 | BHR | SAU | AUS | AZE | MIA | MON | ESP | CAN | AUT | GBR | HUN | BEL | NED | ITA | SIN | JPN | QAT | USA | MXC | SAP | LVG | – | – | |||
| TD | ||||||||||||||||||||||||||||
| Oracle Red Bull Racing | Red Bull RB19 | ABU | ||||||||||||||||||||||||||
| TD | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2024 | Oracle Red Bull Racing | Red Bull RB20 | BHR | SAU | AUS | JPN | CHN | MIA | EMI | MON | CAN | ESP | AUT | GBR | HUN | BEL | NED | ITA | AZE | SIN | USA | MXC | SAP | LVG | QAT | ABU | – | – |
| TD | TD | |||||||||||||||||||||||||||
| 2025 | Visa Cash App Racing Bulls F1 Team | Racing Bulls VCARB 02 | AUS | CHN | JPN | BHR | SAU | MIA | EMI | MON | ESP | CAN | AUT | GBR | BEL | HUN | NED | ITA | AZE | SIN | USA | MXC | SAP | LVG | QAT | ABU | 12 | 51 |
| DNS | 11 | 8 | 13 | 10 | 11 | 9 | 6 | 7 | 16 | 12 | Ret | 208 | 11 | 3 | 10 | 10 | 11 | 16 | 13 | 8 | 6 | 18 |
17 | |||||
| 2026 | Oracle Red Bull Racing | Red Bull Racing RB22 | AUS | CHN | JPN | BHR | SAU | MIA | CAN | MON | BCN | AUT | GBR | BEL | HUN | NED | ITA | ESP | AZE | SIN | USA | MXC | SAP | LVG | QAT | ABU | – | – |
Chú thích
- * Mùa giải đang diễn ra
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ tiếng Ả Rập: إسحاق حجار, đã Latinh hoá: Isḥāq Ḥajar
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 Harrington, Alex (ngày 20 tháng 12 năm 2024). "Isack Hadjar: What You Need To Know Ahead Of His Debut F1 Season Alongside Yuki Tsunoda". SI (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Colineau, Stéphane (ngày 9 tháng 3 năm 2025). "Formule 1 : Hadjar, la nouvelle star ?". La Tribune (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Hillman, Rachel (ngày 13 tháng 2 năm 2020). "Isack Hadjar and Josef Knopp added to F4 UAE field for Abu Dhabi". Formula Scout (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "2022 Formula Regional Asian Championship preview". Formula Scout (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Foster, Tyler (ngày 22 tháng 2 năm 2022). "Arthur Leclerc wins the 2022 title: 5 takeaways from FRAC Round 5". Feeder Series (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Website chính thức (bằng tiếng Anh)