Israel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà nước Israel
מדינת ישראל (tiếng Hebrew)
Medīnat Yisrā (tiếng Hebrew)
دولة إسرائيل (tiếng Ả Rập)
Dawlat Isrā'īl (tiếng Ả Rập)
Flag of Israel.svg Emblem of Israel.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Israel
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
Hatikvah (The Hope; הַתִּקְוָה)
Hành chính
Chính phủ Dân chủ nghị viện
 • Tổng thống
 • Thủ tướng
Reuven Rivlin
Benjamin Netanyahu
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Hebrew, Ả Rập [4]
Thủ đô Jerusalem[1]
32°4′B, 34°46′Đ
Thành phố lớn nhất Tel Aviv-Yafo
Địa lý
Diện tích 22.072 km² (hạng 150)
Diện tích nước ≈2% %
Múi giờ IST (UTC+2); mùa hè: IDT (UTC+3)
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập Từ Hội Quốc Liên (Anh)
14 tháng 5, 1948
(05 Iyar 5708)
Dân cư
Dân số ước lượng (2010) 7,653,600 người (hạng 95)
Dân số (2013) 8,134,100[2] người
Mật độ 365.3 người/km² (hạng 30)
Kinh tế
GDP (PPP) (2009) Tổng số: 206,430 tỉ Mỹ kim[3]
HDI (2003) 0,915 cao (hạng 23)
Đơn vị tiền tệ Sheqel Israel mới (ILS)
Thông tin khác
Tên miền Internet .il
Quốc giáo: Do Thái giáo

Israel (phiên âm tiếng Việt: I-xra-en[4]; tiếng Hebrew: יִשְׂרָאֵלYisrā'el; tiếng Ả Rập: إِسْرَائِيل Isrāʼīl), tên chính thức là Nhà nước Israel (tiếng Hebrew: מְדִינַת יִשְׂרָאֵל [mediˈnat jisʁaˈʔel]; tiếng Ả Rập: دولة إِسْرَائِيل Dawlat Isrāʼīl [dawlat ʔisraːˈʔiːl]), là một quốc gia tại Trung Đông, trên bờ đông nam của Địa Trung Hải và bờ bắc của biển Đỏ. Israel có biên giới trên bộ với Liban về phía bắc, với Syria về phía đông bắc, với Jordan về phía đông, và lần lượt giáp với các lãnh thổ Bờ TâyDải Gaza của Palestine về phía đông và tây[5], và với Ai Cập về phía tây nam. Quốc gia này có diện tích tương đối nhỏ, song lại có đặc điểm địa lý đa dạng.[6][7] Trung tâm tài chính và công nghệ của Israel là Tel Aviv[8]Jerusalem được tuyên bố là thủ đô, song chủ quyền của Israel đối với Jerusalem không được quốc tế công nhận.[9][10]

Ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một phương án phân chia cho Lãnh thổ ủy thác Palestine. Phương án này quy định biên giới của các nhà nước Ả Rập và Do Thái mới, và khu vực Jerusalem nằm dưới quyền quản lý của Liên Hiệp Quốc dưới một chính thể quốc tế.[11][12] Thời điểm kết thúc quyền quản lý ủy thác của Anh đối với Palestine được định vào nửa đêm ngày 14 tháng 5 năm 1948. Đến ngày đó, một thủ lĩnh Do Thái là David Ben-Gurion tuyên bố "thành lập một nhà nước Do Thái tại Eretz Israel, được biết đến với tên gọi Nhà nước Israel", thể chế sẽ bắt đầu hoạt động khi kết thúc sự quản lý ủy thác.[13][14][15] Biên giới của nhà nước mới không được xác định trong tuyên bố.[12][16] Quân đội các quốc gia Ả Rập lân cận xâm chiếm cựu lãnh thổ do Anh quản lý ủy thác vào ngày sau đó và chiến đấu với lực lượng Israel.[17][18] Kể từ đó, Israel chiến đấu trong một số cuộc chiến với các quốc gia Ả Rập lân cận,[19] trong quá trình đó Israel chiếm đóng Bờ Tây, bán đảo Sinai (1956–57, 1967–82), bộ phận của miền nam Liban (1982–2000), Dải Gaza (1967–2005; vẫn bị xem là chiếm đóng sau 2005) và Cao nguyên Golan. Israel mở rộng pháp luật của mình đến Cao nguyên Golan và Đông Jerusalem, song không đến Bờ Tây.[20][21][22][23] Các nỗ lực nhằm giải quyết xung đột Israel–Palestine không đạt được kết quả là hòa bình. Tuy nhiên, các hiệp ước hòa bình giữa Israel với Ai Cập và Jordan được ký kết thành công. Sự chiếm đóng của Israel tại Dải Gaza, Bờ Tây và Đông Jerusalem là hành động chiếm đóng quân sự dài nhất trong lịch sử hiện đại.[24]

Theo xác định của Cục Thống kê Trung ương Israel, dân số Israel vào năm 2016 ước đạt 8.541.000 người. Đây là quốc gia duy nhất trên thế giới mà người Do Thái chiếm đa số, với 6.388.800 hay 74,8% công dân được chỉ định là người Do Thái. Nhóm công dân lớn thứ nhì trong nước là người Ả Rập, có số lượng là 1.775.400 người (bao gồm người Druze và hầu hết người Ả Rập Đông Jerusalem).[25][26] Đại đa số người Ả Rập Israel theo phái Hồi giáo Sunni, bao gồm một lượng đáng kể người Negev Bedouin bán du cư; còn lại là các tín đồ Cơ Đốc giáo và Druze cùng các nhóm khác. Israel còn có một lượng cư dân đáng kể là các công nhân ngoại quốc, và những người tị nạn từ châu Phi và châu Á không có quyền công dân,[27] trong đó có những người nhập cư bất hợp pháp từ châu Phi.

Theo Luật Cơ bản, Israel tự xác định là một nhà nước Do Thái và dân chủ.[28] Israel có thể chế dân chủ đại nghị[29] có một hệ thống nghị viện, đại diện tỷ lệ và phổ thông đầu phiếu.[30][31] Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và Knesset đóng vai trò cơ quan lập pháp. Israel là một quốc gia phát triển và là một thành viên của OECD,[32] có nền kinh tế lớn thứ 35 thế giới theo GDP danh nghĩa tính đến năm 2015. Quốc gia hưởng lợi từ lực lượng lao động có kỹ năng cao, và nằm trong số các quốc gia có giáo dục nhất trên thế giới với tỷ lệ công dân có bằng bậc đại học vào hàng đầu.[33][34] Israel có tiêu chuẩn sinh hoạt cao nhất tại Trung Đông, và đứng thứ tư tại châu Á,[35][36][37] và nằm trong các quốc gia có tuổi thọ dự tính cao nhất thế giới.[38]

Tên nước[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tên gọi Israel

Tên "Israel" bắt nguồn từ Kinh thánh Hebrew: Jacob, tổ phụ của dân tộc Do Thái, đã được đổi tên Israel sau khi chiến đấu với Đức Chúa Trời[39]. Theo đó, hậu duệ của Jacob được gọi là "con cái của Israel", trong tiếng Anh gọi là "Israelites". Các công dân của nước Israel hiện đại ngày nay, theo tiếng Anh, được gọi là "Israelis".

Sau khi vua Solomon (973 - 937 TCN) (còn nhiều tranh cãi về niên đại chính xác) mất, Vương quốc Israel Thống nhất bị chia đôi thành: Vương quốc Israel (Samaria) ở miền bắc và Vương quốc Judah ở miền nam. Danh từ Judah được phiên âm Hán ngữ là "Do Thái". Nước Israel ở phía bắc có thủ đô là Samaria, tồn tại đến năm 721 TCN thì bị Đế quốc Assyria (nay ở miền bắc Iraq) tiêu diệt. Nước Judah ở phía nam có thủ đô là Jerusalem, tồn tại đến năm 587 TCN thì bị Đế quốc Tân Babylon (nay ở miền nam Iraq) tiêu diệt.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Israel

Các nguồn gốc lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo đài Masada biểu tượng bất khuất của người Do Thái

Dân tộc Do Thái bắt đầu định cư ở vùng đất Israel ngày nay từ khoảng 1800 năm TCN, sau đó bị lưu đày sang Ai Cập trong một thời gian. Đến khoảng 1255 TCN, nhà tiên tri Moses dẫn dắt dân tộc Do Thái trở về đất nước Israel. Trong thời gian sau đó, người Israel liên tục phải chiến đấu chống lại quân du mục Philistine khi bộ tộc này bị đuổi khỏi quê hương của họ là đảo Crete.

Cái tên Israel có lẽ lúc ban đầu được nhắc tới để chỉ một nhóm dân tộc chứ không phải một địa điểm, nhóm dân đó là người Merneptah Stele Ai Cập từ khoảng năm 1210 TCN[40]. Trong hơn 3.000 năm, người Do Thái đã coi Vùng đất Israel là quê hương của họ, nó vừa là Đất thánh và là miền Đất hứa. Vùng đất Israel là vùng đất thiêng liêng đối với người Do Thái, gồm chứa những vị trí quan trọng nhất của Do Thái giáo - gồm cả những phần còn sót lại của Đền thứ nhấtĐền thứ hai, cũng như những nghi thức liên quan tới các đền đó[41]. Bắt đầu từ khoảng năm 1200, một loạt vương quốc và quốc gia Do Thái đã tồn tại liên tục trong vùng trong hơn một thiên niên kỷ. Vào năm 1028 TCN, Saoul, một quý tộc quân sự được các bộ tộc Hebrew tôn làm vua. Triều vua David (1012 - 972 TCN).

Dưới thời cai trị của Babylonia, Ba Tư Achaemenes, Hy Lạp, La Mã, Đông La Mã và (một thời gian ngắn) Ba Tư Sassanid, sự hiện diện của người Do Thái trong vùng bị thu hẹp vì các đế chế này đã trục xuất người Do Thái hàng loạt. Đặc biệt, thất bại của cuộc khởi nghĩa Bar Kochba chống lại Đế quốc La Mã đã dẫn tới sự trục xuất hàng loạt người Do Thái ở quy mô lớn. Chính trong giai đoạn này, người La Mã đã đặt tên Syria Palaestina cho mảnh đất này để cố gắng xoá bỏ các mối liên hệ của người Do Thái với nó. MishnahJerusalem Talmud, hai bản kinh tôn giáo quý giá nhất của Do Thái giáo, đã được viết ra ở vùng này và cũng trong giai đoạn này. Những người Hồi giáo chinh phục vùng đất từ tay Đế chế Byzantine năm 638. Vùng này nằm dưới sự cai trị của nhiều quốc gia Hồi giáo (chỉ bị ngắt quãng ở thời Thập tự chinh) trước khi trở thành đất thuộc Đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ năm 1517.

Chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zion) và Aliyah[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chủ nghĩa phục quốcAliyah
Theodor Herzl người sáng lập phong trào phục quốc Do Thái

Làn sóng di cư cận đại đầu tiên của người Do Thái tới Israel, hay Aliyah (עלייה) bắt đầu năm 1881 khi họ trốn chạy khỏi sự ngược đãi, hay đi theo những tư tưởng xã hội Zion của Moses Hess và những người khác về "sự cứu rỗi của đất đai". Những người Do Thái mua đất đai từ Ottoman và những chủ đất người Ả Rập khác. Sau khi người Do Thái đã lập nên những khu định cư nông nghiệp, căng thẳng nảy sinh giữa người Do Thái và người Ả Rập.

Theodor Herzl (1860–1904), một người Do Thái đến từ Áo, đã lập ra Phong trào Zion. Năm 1896, ông xuất bản cuốn Der Judenstaat (Quốc gia Do Thái), trong đó kêu gọi thành lập một nhà nước Do Thái. Năm sau đó, ông góp phần triệu tập Hội nghị Zion quốc tế đầu tiên.

Sự thành lập chủ nghĩa phục quốc Do Thái dẫn tới Aliyah thứ hai (1904–1914) với số người Do Thái lên tới khoảng 40.000. Năm 1917, Bộ trưởng ngoại giao Anh Arthur J. Balfour đưa ra Tuyên bố Balfour "ủng hộ việc thành lập tại vùng đất Do Thái cũ đã bị người Palestine chiếm một nhà nước quê hương cho những người dân Do Thái". Năm 1920, vùng này được giao cho Hội Quốc Liên và được quản lý bởi Anh.

Làn sóng di cư của người Do Thái lại tiếp tục lần thứ ba (1919–1923) và lần thứ tư (1924–1929) sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Những cuộc bạo động ở Palestine năm 1929 của người Ả Rập đã giết chết 133 người Do Thái, gồm 67 người ở Hebron.

Sự trỗi dậy của Chủ nghĩa Phát xít năm 1933 dẫn tới làn sóng Aliyah thứ năm. Người Do Thái trong vùng tăng từ 11% của dân số năm 1922 lên tới 30% năm 1940. Việc tàn sát người Do Thái có tính chất diệt chủng ở châu Âu của Adolf Hitler khiến người dân Do Thái ở mọi miền châu Âu trốn chạy tạo nên làn sóng tỵ nạn mới. Tới cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, số lượng người Do Thái ở Palestine đã lên tới xấp xỉ 600.000.

Năm 1939, Anh đưa ra Sách trắng năm 1939, hạn chế sự tỵ nạn của người Do Thái trong thời gian diễn ra chiến tranh là 75.000 và hạn chế không cho người Do Thái mua nhiều đất, có lẽ nguyên nhân do có cuộc Khởi nghĩa Ả Rập vĩ đại (1936-1939). Cuốn sách trắng này bị cộng đồng Do Thái và những người theo chủ nghĩa phục quốc coi là phản bội, họ cho rằng nó trái ngược với Tuyên bố Balfour năm 1917. Người Ả Rập cũng không hoàn toàn hài lòng, họ muốn cuộc di cư của người Do Thái phải dừng lại vĩnh viễn. Tuy nhiên, chính sách của Anh vẫn bám chặt vào cuốn sách này cho tới tận cuối thời kỳ uỷ trị của họ.

Các nhóm Do Thái bí mật[sửa | sửa mã nguồn]

Khi căng thẳng nổi lên giữa người Do Thái và người Ả Rập, và khi không có sự ủng hộ rõ ràng của chính quyền cai trị Anh, cộng đồng Do Thái nhận ra rằng họ phải tự lực để bảo vệ mình.

Sau những cuộc tấn công năm 1921 của người Ả Rập, Haganah được lập nên để bảo vệ những người định cư Do Thái. Haganah nói chung chỉ có tính chất phòng thủ, và đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều thành viên của nó ly khai và lập ra Irgun (ban đầu được gọi là Hagana Beth) năm 1931. Irgun trung thành với cách tiếp cận tích cực, gồm cả ám sátkhủng bố trong cách trả đũa những cuộc tấn công và bắt đầu những hành động vũ trang chống lại người Anh, trong khi Haganah thường tỏ ra ôn hoà hơn. Tính chất vũ trang của Irgun cũng được thể hiện trong nhiều kế hoạch tấn công khủng bố chống lại người Ả Rập, gồm cả dân thường. Một sự chia rẽ nữa lại diễn ra khi Avraham Stern rời Irgun để lập nên Lehi. Không giống như Irgun, Lehi từ chối bất kỳ một hợp tác nào với người Anh, thậm chí trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và những phương pháp hành động của nhóm này tỏ ra cực đoan hơn.

Những nhóm đó có một ảnh hưởng lớn đến những sự kiện ở khoảng thời gian trước Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, như Aliya Beth - cuộc di cư bí mật từ châu Âu, sự thành lập Lực lượng Phòng thủ Israel và sự rút lui của người Anh, cũng như việc thành lập những cơ chế nền tảng của các đảng chính trị vẫn còn tồn tại ở Israel ngày nay.

Thành lập quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

kế hoạch phân chia Palestine của Liên Hợp Quốc

Năm 1947, khi xung đột vũ trang ngày càng gia tăng với các nhóm quân sự Do Thái và những nỗ lực hoà giải không thành công giữa người Do Thái và người Ả Rập, chính phủ Anh quyết định rút khỏi Lãnh thổ ủy trị Palestine của Hội Quốc Liên. Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua Kế hoạch phân chia năm 1947 của Liên hiệp quốc chia lãnh thổ đó làm hai quốc gia, với vùng Do Thái khoảng 55% diện tích 5.500 dặm chủ yếu là sa mạc [42]. Và vùng Ả Rập khoảng 45% diện tích với 4,500 dặm. Theo kế hoạch, Jerusalem sẽ trở thành một vùng do Liên hiệp quốc quản lý để tránh xung đột về trạng thái của nó.

Ngay sau khi kế hoạch phân chia của Đại hội đồng Liên hiệp quốc được thông qua ngày 29 tháng 10 năm 1947, David Ben-Gurion chưa dứt khoát chấp nhận nó, trong khi Liên đoàn Ả Rập từ chối nó. Nhiều cuộc tấn công của người Ả Rập vào dân cư Do Thái nhanh chóng biến thành xung đột khắp nơi giữa người Ả Rập và người Do Thái, các xung đột này là giai đoạn đầu tiên của Chiến tranh giành độc lập năm 1948.

Ngày 14 tháng 5 năm 1948, trước khi hết thời hạn uỷ trị của Anh tại Palestine vào lúc nửa đêm ngày 15 tháng 5 năm 1948, nhà nước Israel được tuyên bố thành lập.

Hoa Kỳ, Liên Xô và nhiều nước khác đã công nhận sự độc lập của Israel.

Chiến tranh giành độc lập và di dân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nhà nước Israel được thành lập, quân đội Ai Cập, Syria, Jordan, LibanIraq tham gia chiến đấu và bắt đầu giai đoạn hai của Chiến tranh Ả rập-Israel 1948 bằng việc tấn công Israel từ mọi phía nhằm duy trì trật tự cũ. Từ phía bắc, Syria, Liban và Iraq tiến tới sát biên giới. Các lực lượng Jordan tiến vào từ phía đông, chiếm Đông Jerusalem và bao vây phần phía Tây thành phố. Tuy nhiên, các lực lượng Haganah, nhờ sự tài ba trong chiến thuật và điều hành đã ngăn chặn thành công đa số quân các nước Ả Rập, và các lực lượng của Irgun ngăn chặn thành công quân Ai Cập ở phía nam. Đầu tháng 6, Liên Hiệp Quốc tuyên bố một tháng ngừng bắn trong thời gian đó Lực lượng Phòng thủ Israel được chính thức lập ra. Sau nhiều tháng chiến tranh, người Israel đã đánh bại hoàn toàn Liên quân Ả Rập, một sự ngừng bắn được tuyên bố năm 1949 và các biên giới tạm thời, được gọi là Giới tuyến xanh, được lập ra. Israel đã có thêm được 26% lãnh thổ uỷ trị phía tây sông Jordan. Về phần mình, Jordan, chiếm các vùng núi rộng lớn của JudeaSamaria, sau này được gọi là Bờ Tây. Ai Cập giành quyền kiểm soát một dải đất nhỏ dọc theo bờ biển, sau này được gọi là Dải Gaza.

Trong và sau cuộc chiến, Thủ tướng lúc đó David Ben-Gurion bắt đầu lập ra luật lệ bằng cách giải tán tổ chức vũ trang Palmach và các tổ chức bí mật như IrgunLehi. Hai nhóm đó thậm chí còn bị xếp vào các tổ chức khủng bố sau khi giết hại một nhà ngoại giao Thuỵ Điển.

Một số lượng lớn người Ả Rập bị đẩy khỏi vùng đất Israel mới thành lập. (Những ước tính về con số người tị nạn cuối cùng trong khoảng 600.000-900.000 với con số chính thức của Liên hiệp quốc là 711.000[43]). Cuộc xung đột tiếp tục giữa Israel và thế giới Ả Rập gây ra sự chuyển dịch địa điểm sinh sống của dân cư và vẫn còn lại đến ngày nay.

Sự di cư của những nạn nhân còn sống sót sau sự diệt chủng và những người tị nạn Do Thái từ những vùng đất Ả Rập làm dân số Israel tăng lên gấp đôi chỉ sau một năm độc lập. Trong thập kỷ tiếp sau đó, gần 600.000 người Do Thái Mizrahi, những người đã phải bỏ chạy hay bị trục xuất khỏi các nước Ả Rập xung quanh và Iran đã nhập cư vào Israel.

Các chiến sĩ Israel trong cuộc chiến sáu ngày-1967

Thập kỷ 1950 và 1960[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 1954 đến 1955, Moshe Sharet làm thủ tướng, Giải pháp Lavon, một nỗ lực không thành công nhằm ném bom các mục tiêu ở Ai Cập, đã gây ra sự hổ thẹn chính trị cho Israel. Thêm vào đó, năm 1956, Ai Cập quốc hữu hoá kênh Suez, trước sự thất vọng của AnhPháp. Tiếp sau đó là một loạt các cuộc tấn công của Fedayeen, liên minh quân sự bí mật do Israel lập nên với sự hỗ trợ của hai đồng minh châu Âu đó và họ tuyên chiến với Ai Cập. Sau cuộc khủng hoảng kênh đào Suez, ba nước đồng minh phải đối mặt với sự chỉ trích quốc tế và Israel buộc phải rút các lực lượng của mình khỏi Bán đảo Sinai.

Năm 1955, Ben Gurion một lần nữa lại lên làm thủ tướng và giữ chức vụ này đến tận khi ông từ chức năm 1963. Sau sự kiện đó, Levi Eshkol được chỉ định làm thủ tướng.

Năm 1961, tội phạm chiến tranh Phát xít Adolf Eichmann, chịu trách nhiệm chính về "Giải pháp Cuối cùng", bị bắt và sau đó bị xét xử tại Israel. Eichmann là người duy nhất bị xử tử tại toà án Israel.

Trong lĩnh vực chính trị, căng thẳng lại nổi lên giữa Israel và các nước xung quanh vào tháng 5 năm 1967. Syria, Jordan và Ai Cập lại chuẩn bị chiến tranh, và Ai Cập trục xuất Các lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hiệp quốc ra khỏi Dải Gaza. Cuối cùng, Ai Cập đóng cửa eo Tiran đối với các tàu Israeli, mà Israel coi là một casus belli (sự khơi mào chiến tranh) và tấn công phủ đầu Ai Cập ngày 5 tháng 6. Sau Cuộc chiến sáu ngày giữa Israel và các nước Ả Rập, nhà nước Do Thái nhanh chóng giành được thắng lợi. Israel đã đánh bại toàn bộ quân đội của ba nước Ả Rập lớn và tiêu diệt hầu như toàn bộ không quân của họ. Về lãnh thổ, Israel chiếm được Bờ Tây, Dải Gaza, Bán đảo SinaiCao nguyên Golan. Giới tuyến xanh năm 1949 trở thành biên giới hành chính giữa Israel và Các vùng lãnh thổ chiếm đóng của họ, cũng được gọi là Các vùng lãnh thổ tranh chấp. Tuy nhiên, Israel đã mở rộng quyền cai trị hành chính của mình đến tận Đông Jerusalem và Cao nguyên Golan. Nhưng Israel trao trả lại Sinai cho Ai Cập.

Năm 1969, Golda Meir, nữ thủ tướng duy nhất của Israel cho tới nay, thắng cử chức vụ Thủ tướng Israel.

Thập kỷ 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 1968 đến 1972 là giai đoạn được gọi là Chiến tranh tiêu hao, nhiều cuộc chiến nhỏ xảy ra dọc biên giới giữa Israel và Siria, Ai Cập. Hơn nữa, những năm đầu thập kỷ 1970, Các nhóm vũ trang Palestine lao vào một làn sóng tấn công mạnh mẽ nhất từ trước đó chống lại Israel và các mục tiêu của người Do Thái ở các nước khác. Đỉnh điểm của làn sóng này là vụ tấn công vào Thế vận hội Mùa hè 1972 tại München. Trong cuộc Thảm sát tại München, các phần tử vũ trang Palestine đã bắt làm con tin và giết hại các thành viên đoàn thể thao Israel. Israel trả đũa bằng chiến dịch sự giận dữ của Chúa trời, trong đó các nhân viên Mossad đã ám sát hầu hết những người có tham gia vào vụ thảm sát.

Cuối cùng, ngày 6 tháng 10 năm 1973, vào ngày nhịn ăn Yom Kippur của người Do Thái, quân đội của Ai Cập và Syria tung ra một cuộc tấn công bất ngờ vào Israel. Tuy nhiên, dù đã sắp đặt kế hoạch từ trước, Ai Cập và Syria sau những thành công ban đầu, quân đội Israel (IDF) phản kích mạnh và dần đưa Liên quân Ai Cập, Syria trở về vạch xuất phát, khiến họ không thể đạt được mục đích là chiếm lại các vùng lãnh thổ đã mất năm 1967. Tuy vậy, sau cuộc chiến này là một khoảng thời gian yên tĩnh kéo dài nhiều năm, góp phần làm không khí trong vùng bớt căng thẳng và Israel cùng Ai Cập đã có hoà bình với nhau.

Nữ thủ tướng Israel Golda Meir

Năm 1974, sau khi Meir từ chức, Yitzhak Rabin trở thành thủ tướng thứ năm của Israel. Sau đó, trong cuộc bầu cử Knesset (nghị viện của nhà nước Israel) năm 1977, Ma'arach đảng cầm quyền từ năm 1948, đã tạo ra một cơn bão chính trị khi rời khỏi chính phủ. Đảng Likud mới, do Menachem Begin lãnh đạo trở thành đảng cầm quyền.

Sau đó, vào tháng 10 năm ấy, Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat, đã thực hiện một cuộc viếng thăm lịch sử tới quốc gia Do Thái, phát biểu trước Knesset — lần đầu tiên Israel được công nhận từ phía các nước Ả Rập. Sau chuyến thăm đó, hai nước tiến hành các cuộc thương lượng dẫn tới việc ký kết Hiệp ước Trại David. Tháng 3 năm 1979, Begin và Sadat ký kết Hiệp ước hoà bình Israel-Ai CậpWashington, D.C.. Tuân thủ hiệp ước, Israel rút quân khỏi Bán đảo Sinai và phá huỷ các khu định cư đã lập nên ở đó từ thập kỷ 1970. Hai nước cũng đồng ý trao lại quyền tự trị cho người Palestine phía bên kia Giới tuyến xanh.

Thập kỷ 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 7 năm 1981, Lực lượng Không quân Israel ném bom lò phản ứng hạt nhân của Iraq tại Osiraq trong nỗ lực nhằm ngăn chặn ý định sản xuất bom nguyên tử của Iraq.

Một lần nữa, năm 1982 Israel tung ra một cuộc tấn công nhằm vào Liban, lúc ấy đang trong tình trạng nội chiến từ năm 1975. Lý do chính thức của cuộc tấn công là để bảo vệ những khu định cư ở phía cực bắc Israel khỏi những cuộc tấn công khủng bố, vốn thường xảy ra trước đó. Tuy nhiên, sau khi lập ra một vùng đệm 40 km, Lực lượng Phòng thủ Isreal tiếp tục tiến về phía bắc và thậm chí chiếm cả thủ đô Beirut. Các lực lượng Israel trục xuất các lực lượng của Tổ chức giải phóng Palestine ra khỏi Liban, buộc họ phải rời đến Tunis. Không thể giải quyết các căng thẳng phát sinh từ cuộc chiến đang diễn ra, Thủ tướng Begin từ chức năm 1983 và được thay thế bời Yitzhak Shamir. Dù Israel đã rút quân khỏi phần lớn Liban năm 1986, một vùng đệm vẫn được giữ lại cho đến tận tháng 5 năm 2002 khi Israel rút quân hoàn toàn khỏi Liban.

Những năm cuối thập kỷ 1980 là sự di chuyển quyền lực liên tục giữa cánh hữu do Yitzhak Shamir lãnh đạo cho cánh tả của Shimon Peres. Ví dụ, Peres là thủ tướng từ năm 1984, nhưng đã trao lại chức vụ cho Shamir năm 1986. Sau đó Phong trào Intifadah thứ nhất nổ ra năm 1987 kéo theo nhiều làn sóng bạo lực ở những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Sau khi cuộc bạo động bùng phát, Shamir một lần nữa lại được bầu làm thủ tướng năm 1988.

Thập kỷ 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Yitzhak RabinYasser Arafat bắt tay nhau sau khi ký kết Hiệp định Oslo, phía sau họ là Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton vào năm 1993.

Trong thời gian Chiến tranh vùng Vịnh, Israel bị Iraq dùng nhiều tên lửa tấn công, nhằm mục đích buộc Israel phải tuyên chiến. Tuy nhiên, Israel không trả đũa dù những vụ tấn công đó đã làm thiệt mạng hai người dân Israel.

Sau cuộc chiến, Hoa Kỳ tăng sức ép buộc các bên xung đột ở Trung Đông ngồi vào bàn đàm phán hoà bình. Hội nghị hoà bình Madrid khai mạc tháng 3 năm 1991. Các đảng cực hữu coi quá trình này là một sai lầm nghiêm trọng và lật đổ chính phủ của Shamir dẫn tới cuộc bầu cử năm 1992.

Những năm đầu của thập kỷ được đánh dấu bởi sự khỏi đầu của làn sóng nhập cư ồ ạt của những người Do Thái đến từ Xô viết. Theo đạo Luật về sự quay trở lại, những người này được trao quyền công dân Israel ngay khi đặt chân tới đất nước. Khoảng 380.000 người đã trở về chỉ riêng trong năm 1990-1991. Dù ban đầu ưa chuộng cánh hữu, những người mới nhập cư sau này đã trở thành mục tiêu để chinh phục của Đảng Lao động thông qua một chiến dịch tranh cử. Đảng Lao động công kích cách giải quyết vấn đề việc làm và nhà ở của người mới nhập cư của đảng cầm quyền Likud. Vì thế, trong cuộc bầu cử năm 1992, họ đã quay sang ủng hộ đảng Lao động, dẫn tới chiến thắng đầy kịch tính 61:59 bên trong Knesset của đảng Lao động.

Sau cuộc bầu cử, Yitzhak Rabin trở thành thủ tướng, lập nên chính phủ liên minh cánh tả. Trong thời gian tranh cử, đảng của ông đã hứa hẹn một sự cải thiện sâu rộng về vấn đề an ninh và tìm kiếm hoà bình với các nước Ả Rập "trong vòng 6 đến 9 tháng" sau cuộc bầu cử. Chính phủ đã thực hiện nhiều hành động mang tính chất "những bước xây dựng lòng tin", nhưng không mang lại kết quả nào. Bởi vì sự an toàn của các công dân Israel ngày càng xấu đi, tỷ lệ ủng hộ Rabin giảm sút. Tới cuối năm 1993 chính phủ từ bỏ các sáng kiến sớm chết yểu của Madrid và ký một hiệp định đầy bất ngờ (Hiệp định Oslo) với Tổ chức giải phóng Palestine (PLO). Năm 1994 Jordan trở thành nước láng giềng thứ hai của Israel thoả thuận hoà bình với nước này.

Sự ủng hộ rộng rãi ban đầu của dân chúng đối với Hiệp định Oslo đã bắt đầu giảm sút khi Israel gặp phải một làn sóng tấn công khủng bố lớn nhất từ trước tới nay của các nhóm quân sự Hamas phản đối hiệp định. Sự ủng hộ của công chúng càng mất đi khi người Israel ngày càng tin tưởng rằng hiệp định được Yasser Arafat ký kết với ý đồ lừa gạt, bởi vì ông và các quan chức lãnh đạo PLO ca ngợi những hành động của Hamas và đưa ra những lời bình luận mang tính kích động, cũng như họ không thể kiềm chế nổi các nhóm quân sự.

Sự bất bình của dân chúng với chính sách đối ngoại của chính phủ cộng với nỗ lực bất thành của Rabin nhằm tiến hành một cuộc đối thoại với đối lập khiến cho sự thù địch với ông này sinh. Ngày 4 tháng 12 năm 1995, một người Do Thái cực đoan tên là Yigal Amir ám sát ông.

Sự mất tinh thần của dân chúng sau vụ ám sát đã tạo nên một phản ứng dữ dội chống lại những người không ủng hộ Hiệp định Oslo và tạo ra một cơ hội lớn chưa từng có cho Shimon Peres, người kế tục của Rabin và là kiến trúc sư của Hiệp định Oslo, để chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1996 sắp tới. Tuy nhiên, một làn sóng đánh bom tự sát mới cộng với những lời bình luận tán dương của Arafat dành cho người đạo diễn những vụ khủng bố là Yahya Ayyash, đã làm công chúng lại thay đổi ý kiến một lần nữa và vào tháng 5 năm 1996 Peres thất bại sít sao trước đối thủ thuộc đảng Likud là Benjamin Netanyahu.

Dù bị coi là người kiên quyết chống lại Hiệp định Oslo, Netanyahu đã rút quân khỏi Hebron và ký bản Giác thư sông Wye trao quyền kiểm soát rộng hơn cho Chính quyền quốc gia Palestine. Thời Netanyahu nắm quyền, Israel trải qua một giai đoạn yên tĩnh không xảy ra nhiều vụ khủng bố, nhưng những chính sách đầy mâu thuẫn của ông làm cho cả hai phe xa lánh và cuối cùng đã buộc ông phải rời chính phủ năm 1999.

Ehud Barak của đảng Lao động, với hình ảnh đầy ấn tượng thời quân đội được những người cánh hữu ủng hộ, đánh bại Netanyahu với khoảng cách lớn trong cuộc bầu cử năm 1999 và lên làm thủ tướng.

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó Barak bắt đầu đơn phương rút quân khỏi Liban vào năm 2000. Thủ tướng Israel là Barak một lần nữa tiếp tục thương lượng với Tổng thống Bill Clinton vào tháng 7 năm 2000. Tuy nhiên những cuộc thương lượng không mang lại kết quả mà chỉ là sự tẩy chay từ phía Palestine đối với những đề xuất của Barak về một Nhà nước Palestine. Thất bại của các cuộc đàm phán khiến cả cánh tả, cánh hữu Israel rút lui sự ủng hộ của họ cho Barak vì có nghi ngờ đối với phong trào hoà bình.

Khi những cuộc đàm phán sụp đổ, các nhóm Palestine bắt đầu một cuộc nổi dậy thứ hai, được gọi là Al-Aqsa Intifadah, ngay sau khi lãnh đạo đối lập Ariel Sharon đến thăm Đền MountJerusalem. Sharon lên làm thủ tướng mới vào tháng 3 năm 2001 và sau đó tái cử cùng với đảng Likud trong cuộc bầu cử Knesset năm 2003. Dù trước đó là một người thuộc phe diều hâu, Sharon đã đưa ra sáng kiến về một kế hoạch đơn phương rút quân khỏi Dải Gaza. Dù gây nhiều tranh cãi, cuộc rút quân đã được tiến hành từ giữa tháng 8 và tháng 9 năm 2005.

Từ khi bắt đầu phong trào Al-Aqsa Intifadah, hơn 1.000 người Israel, đa số là dân thường, đã bị thiệt mạng trong các cuộc tấn công/khủng bố của người Palestine. Hơn 4.000 người Palestine bị giết, theo nguồn tin của Israel đa số họ là những kẻ khủng bố hoặc chiến binh, cho dù có một số lượng lớn dân thường, gồm cả trẻ em cũng thiệt mạng. Israel cũng xây dựng Bức tường Bờ Tây, với mục đích bảo vệ Israel khỏi tấn công và khủng bố. Bức tường này chạy quanh co và vượt ra ngoài Giới tuyến xanh, đã gặp phải nhiều sự chỉ trích từ phía cộng đồng quốc tế, dù nó tiếp tục được đa số dân Israel ủng hộ.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý Israel
Biển Levant
Cao nguyên Golan
Biển
Galilee
Galilea
Đồng bằng
duyên hải
Dãy núi Judae
Thung lũng
Jordan
Biển Chết
Negev
Vịnh Aqaba

Israel nằm ven cực đông của Địa Trung Hải, giáp với Liban về phía bắc, Syria về phía đông bắc, Jordan và Bờ Tây về phía Đông, và Ai Cập cùng Dải Gaza về phía tây nam. Lãnh thổ Israel năm giữa vĩ tuyến 29° Bắc và 34° Nam, và kinh tuyến 34°Đ và 36°Đ.

Lãnh thổ chủ quyền của Israel (theo phân giới trong Hiệp định Đình chiến 1949 và loại trừ toàn bộ lãnh thổ bị Israel chiếm lĩnh trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967) có diện tích khoảng 20.770 kilômét vuông (8.019 sq mi), trong đó hai phần trăm là mặt nước.[6] Tuy nhiên, vùng đặc quyền kinh tế của họ tại Địa Trung Hải lớn gấp đôi diện tích đất liền.[44] Tổng diện tích lãnh thổ tuân theo pháp luật Israel, kể cả Đông Jerusalem và Cao nguyên Golan, là 22.072 kilômét vuông (8.522 sq mi),[45] và tổng diện tích nằm dưới quyền kiểm soát của Israel, bao gồm Bờ Tây do Israel kiểm soát quân sự và người Palestine quản lý cục bộ, là 27.799 kilômét vuông (10.733 sq mi).[46] Mặc dù có quy mô nhỏ song Israel sở hữu các đặc điểm địa lý đa dạng, từ hoang mạc Negev tại miền nam đến thung lũng Jezreel phì nhiêu nội lục, các dãy núi Galilee, Carmel và về phía Golan tại miền bắc. Đồng bằng Duyên hải Israel bên bờ Địa Trung Hải là nơi cư trú của 57% cư dân toàn quốc.[47][48][49] Phía đông của các cao địa trung tâm là Thung lũng đứt gãy Jordan, một bộ phận nhỏ của Thung lũng tách giãn Lớn dài 6.500 kilômét (4.039 mi).

Sông Jordan chảy dọc Thung lũng đứt gãy Jordan, từ núi Hermon qua thung lũng Hulahbiển Galilee đến biển Chết- điểm thấp nhất trên bề mặt Trái Đất.[50] Xa hơn về phía nam là Arabah, kết thúc là vịnh Eilat thuộc biển Đỏ. Điểm độc đáo của Israel và bán đảo Sinai là các makhtesh, hay các đài vòng bị xói mòn.[51] Makhtesh lớn nhất trên thế giới là miệng Ramon tại Negev,[52] có kích thước 40 nhân 8 kilômét (25 nhân 5 mi).[53] Một báo cáo về tình trạng môi trường của các quốc gia lưu vực Địa Trung Hải cho thấy Israel có số lượng loài thực vật nhiều nhất trên mỗi mét vuông so với các quốc gia khác trong lưu vực.[54]

Kiến tạo và địa chấn[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh từ vệ tinh của Israel và các lãnh thổ lân cận vào ban ngày (trái) và ban đêm (phải)

Thung lũng đứt gãy Jordan là kết quả của vận động địa chấn bên dưới hệ thống đứt gãy Đoạn tầng Biển Chết (DSF). DSF hình thành ranh giới biến đổi giữa mảng châu Phi ở phía tây và mảng Ả Rập ở phía đông. Cao nguyên Golan và toàn bộ Jordan thuộc mảng Ả Rập, trong khi Galilee, Bờ Tây, Đồng bằng Duyên hải và Negev cùng bán đảo Sinai nằm trên mảng châu Phi. Sự sắp xếp kiến tạo này kéo theo hoạt động địa chấn tương đối cao độ trong khu vực. Toàn bộ đoạn thung lũng Jordan được cho là nhiều lần bị đứt, thí dụ trong hai trận động động đất lớn cuối cùng dọc theo cấu trúc này vào năm 749 và 1033. Sự thiếu hụt trượt bắt nguồn từ sự kiện năm 1033 là đủ để gây một trận động đất Mw~7.4.[55]

Các trận động đất thê thảm nhất được biết đến từng diễn ra vào các năm 31 TCN, 363, 749, và 1033, trung bình cách nhau khoảng 400 năm.[56] Các trận động đất hủy diệt gây ra tổn thất nghiêm trọng về nhân mạng xảy ra mỗi 80 năm.[57] Trong khi các quy định xây dựng nghiêm ngặt đang được thi hành và các công trình xây dựng gần đây an toàn với động đất, tính đến năm 2007 phần lớn công trình tại Israel được xây trước khi thi hành các quy định này và nhiều tòa nhà công cộng cũng như 50.000 tòa nhà ở không đáp ứng các tiêu chuẩn mới và bị "dự kiến sụp đổ" nếu gặp phải một trận động đất mạnh.[57]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Israel theo phân loại khí hậu Köppen.

Nhiệt độ tại Israel biến động nhiều, đặc biệt là trong mùa đông. Các khu vực duyên hải, như Tel AvivHaifa, có khí hậu Địa Trung Hải đặc trưng với mùa đông mát và có mưa nhiều còn mùa hè kéo dài và nóng. Khu vực Beersheba và Bắc Negev có khí hậu bán hoang mạc với mùa hè nóng và mùa đông lạnh, số ngày mưa ít hơn so với khí hậu Địa Trung Hải. Các khu vực Nam Negev và Arava có khí hậu hoang mạc với mùa hè rất nóng và khô, mùa đông ôn hòa với vài ngày có mưa. Nhiệt độ cao nhất tại lục địa châu Á (54,0 °C hoặc 129,2 °F) ghi nhận được vào năm 1942 tại kibbutz Tirat Zvi thuộc miền bắc thung lũng sông Jordan.[58][59]

Trên các khu vực núi cao cực độ khác có thể nhiều gió và lạnh, các khu vực có độ cao từ 750 mét trở lên (cùng độ cao với Jerusalem) thường có ít nhất một trận tuyết rơi mỗi năm.[60] Mưa hiếm khi rơi tại Israel từ tháng 5 đến tháng 9.[61][62] Do tài nguyên nước khan hiếm, Israel phát triển các kỹ thuật tiết kiệm nước khác nhau, chẳng hạn như tưới nhỏ giọt.[63] Người Israel cũng tận dụng ánh sáng mặt trời sẵn có cho ngành quang năng, biến Israel trở thành nước dẫn đầu về năng lượng mặt trời sử dụng bình quân (hầu như toàn bộ hộ gia đình sử dụng tấm năng lượng mặt trời để đun nước).[64]

Israel có bốn khu vực địa lý thực vật khác nhau, do nước này nằm giữa ôn đới và nhiệt đới, giáp với Địa Trung Hải tại phía tây và hoang mạc về phía đông. Vì nguyên nhân này, động thực vật tại Israel cực kỳ đa dạng. Phát hiện được 2.867 loài thực vật tại Israel. Trong đó, ít nhất 253 loài được du nhập và phi bản địa.[65] Israel có 380 khu bảo tồn thiên nhiên.[66]

Chính trị và luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chính trị Israel

Israel là nước dân chủ cộng hoà với chế độ phổ thông đầu phiếu hoạt động dưới hệ thống nghị viện.

Lập pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo chế độ nhất viện (một cơ quan lập pháp, trái ngược với lưỡng viện), nghị viện của Israel được gọi là Knesset có 120 thành viên. Số thành viên bên trong Knesset được phân phối cho các đảng dựa theo tỷ lệ phiếu bầu của họ, thông qua một hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Bầu cử Knesset thường được tổ chức bốn năm một lần, nhưng Knesset có thể quyết định tự giải tán trước thời hạn khi được đa số thông qua, đây được gọi là bỏ phiếu bất tín nhiệm.

Hành pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Israel là người lãnh đạo quốc gia, phần lớn chỉ là lãnh đạo về mặt nghi thức. Tổng thống lựa chọn lãnh đạo của đảng chiếm đa số hay của liên minh cầm quyền trong Knesset làm Thủ tướng, tức là lãnh đạo chính phủ[67].

Thể chế và hệ thống pháp luật[sửa | sửa mã nguồn]

Israel vẫn chưa hoàn thành một văn bản hiến pháp. Chính phủ Israel dựa trên các luật của Knesset, đặc biệt là "Các luật căn bản của Israel", đó là các điều luật đặc biệt (hiện có 15 điều), do Knesset là cơ quan lập pháp đưa ra và sẽ trở thành hiến pháp chính thức trong tương lai. Giữa năm 2003, Uỷ ban Hiến pháp, Luật pháp và Hành pháp của Knesset bắt đầu soạn thảo một văn bản hiến pháp đầy đủ để đệ trình lên Knesset, tới đầu năm 2006 công việc này vẫn đang được tiến hành[68].

Tổng thống Israel Shimon Peres

Tuyên bố của Nhà nước Israel cũng có ảnh hưởng đáng kể đến hiến pháp. Hệ thống luật pháp Israel theo kiểu phương Tây nhưng có sự pha trộn của nhiều hệ thống: Anh-Mỹ, châu Âu và các nguyên tắc luật Do Thái.

Chiếu theo luật Anh-Mỹ, hệ thống luật pháp Israel dựa trên nguyên tắc stare decisis (tiền lệ). Nó là một hệ thống đối nghịch (adversarial), chứ không phải là kiểu hệ thống điều tra (inquisitorial), theo nghĩa rằng các bên (ví dụ, nguyên đơn và bị đơn) là những người đưa sự việc ra trước toà. Toà không hề tiến hành bất kỳ một điều tra độc lập nào về vụ việc này.

Chiếu theo các hệ thống luật châu Âu, hệ thống bồi thẩm đoàn không hề được chấp nhận ở Israel. Các vụ việc đưa ra trước toà được quyết định bởi những thẩm phán chuyên nghiệp. Những ảnh hưởng khác từ luật pháp Cựu lục địa cũng có thể thấy trong sự thực rằng nhiều đạo luật chính của Israel (như Luật Hợp đồng) được dựa trên các nguyên tắc của Luật Dân sự. Hệ thống luật pháp của Israel không bao gồm các bộ luật, mà là các điều luật riêng biệt. Tuy nhiên, phác thảo Luật Dân sự gần đây đã được hoàn thành, và nó sắp trở thành một dự luật.

Các toà án tôn giáo (Do Thái giáo, Sharia'a, Druze và Kitô giáo) có quyền lực thi hành rộng đối với việc huỷ bỏ hôn ước (li dị).

Tư pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trước của Tòa án tối cao Israel

Ngành tư pháp Israel gồm hệ thống toà án ba cấp. Cấp thấp nhất là Toà án địa phương, được thiết lập ở hầu như tất cả các thành phố. Trên nó là toà án vùng, vừa là toà thượng thẩm vừa là toà phúc thẩm (court of first instance), có tại năm thành phố: Jerusalem, Tel Aviv, Haifa, Be'er ShevaNazareth.

Ở trên cùng hệ thống tư pháp là Toà án tối cao Israel tại Jerusalem. Chánh án Toà án tối cao là Aharon Barak. Toà án tối cao vừa là toà án phúc thẩm cấp cao nhất vừa là một thể chế riêng biệt được gọi là Toà công lý cấp cao (HCOJ). HCOJ có trách nhiệm duy nhất là giải quyết những thỉnh nguyện đề đạt tới Toà của các cá nhân công dân. Bên bị của những thỉnh nguyện đó thường là các cơ quan chính phủ (gồm cả Lực lượng quốc phòng Israel). Phán quyết của các thỉnh nguyện, được kết luận bởi HCOJ, có thể dẫn tới việc cơ quan chính phủ buộc phải hành động theo cách đã được HCOJ đưa ra.

Một uỷ ban gồm các thành viên của Knesset, của Toà án pháp lý tối cao và của Luật sư đoàn Israel thực hiện bầu cử các thẩm phán. Luật toà án yêu cầu các thẩm phán phải nghỉ hưu ở tuổi 70. Chánh án Toà án tối cao, được Bộ trưởng Tư pháp phê chuẩn, chỉ định các viên chức (registrar) ở toà mọi cấp.

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

  Quan hệ noại giao
  Quan hệ ngoại giao bị đình chỉ
  Từng có quan hệ ngoại giao
  Không có quan hệ ngoại giao, nhưng từng có quan hệ mậu dịch
  Không có quan hệ ngoại giao

Israel duy trì quan hệ ngoại giao với 158 quốc gia và có 107 phái bộ ngoại giao trên toàn cầu;[69] hầu hết các quốc gia Hồi giáo nằm trong nhóm không có quan hệ ngoại giao với Israel.[70] Chỉ có ba thành viên của Liên đoàn Ả Rập bình thường hóa quan hệ với Israel: Ai Cập và Jordan lần lượt ký các hiệp định hòa bình vào năm 1979 và 1994, và Mauritania chọn lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Israel vào năm 1999. Mặc dù Israel và Ai Cập có hiệp định hòa bình, song Israel vẫn bị nhìn nhận phổ biến là quốc gia đối địch trong xã hội Ai Cập.[71] Theo pháp luật Israel, Liban, Syria, Ả Rập Saudi, Iraq, Iran, Sudan, và Yemen là các quốc gia đối địch,[72] và công dân Israel không được đến đó nếu không được phép từ Bộ Nội vụ.[73] Iran có quan hệ ngoại giao với Israel dưới thời triều đại Pahlavi[74] song thu hồi việc công nhận Israel trong Cách mạng Hồi giáo.[75] Do Chiến tranh Gaza 2008-2009, Mauritania, Qatar, Bolivia, và Venezuela đình chỉ các quan hệ chính trị và kinh tế với Israel.[76][77]

Hoa Kỳ và Liên Xô là hai quốc gia đầu tiên công nhận Nhà nước Israel, họ ra tuyên bố công nhận gần như đồng thời.[78] Hoa Kỳ nhìn nhận Israel là "đối tác đáng tin cậy nhất tại Trung Đông" của họ,[79] dựa trên "các giá trị dân chủ, thân thuộc tôn giáo, và lợi ích an ninh chung".[80] Hoa Kỳ đã cung cấp 68 tỷ USD viện trợ quân sự và 32 tỷ USD tài trợ cho Israel từ năm 1967 theo Đạo luật Viện trợ Nước ngoài,[81] nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trong cùng thời kỳ cho đến năm 2003.[81][82][83] The Anh Quốc được nhận định là có một mối quan hệ "tự nhiên" với Israel bắt nguồn từ khi Anh Quốc cai trị ủy thác Palestine.[84] Quan hệ giữa hai quốc gia cũng được củng cố nhờ các nỗ lực của cựu Thủ tướng Tony Blair về một giải pháp hai nhà nước. By 2007 Đức đã chi trả 25 tỷ euro tiền bồi thường cho Nhà nước Israel và những công dân Israel sống sót sau nạn diệt chủng người Do Thái.[85] Israel được đưa vào trong Chính sách Láng giềng Châu Âu (ENP) của Liên minh châu Âu, vốn có mục tiêu thắt chặt quan hệ giữa EU và các quốc gia lân cận.[86]

Mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ và Israel không thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ cho đến năm 1991,[87] song Thổ Nhĩ Kỳ đã hợp tác với Nhà nước Israel kể từ khi công nhận quốc gia này vào năm 1949. Mối quan hệ của Thổ Nhĩ Kỳ với các quốc gia Hồi giáo đa số trong khu vực vào đương thời cản trở quan hệ giữa họ và Israel.[88] Quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Israel bị suy sụp sau Chiến tranh Ga za 2008-2009 và việc Israel tập kích đội tàu Gaza năm 2010.[76][89][90][91][92][93] Quan hệ giữa Israel và Hy Lạp được cải thiện từ năm 1995 do quan hệ Israel-Thổ Nhĩ Kỳ suy thoái.[94] Hai quốc gia có một hiệp định hợp tác phòng thủ và vào năm 2010, Không quân Israel tổ chức diễn tập chung với Không quân Hy Lạp tại căn cứ Uvda. Chương trình thăm dò chung dầu khí Síp-Israel tập trung tại mỏ khí Leviat là một yếu tố quan trọng đối với Hy Lạp do nước này có liên kết mạnh mẽ với Síp.[95] Hợp tác trong tuyến cáp điện ngầm EuroAsia Interconnector giúp tăng cường quan hệ giữa Síp và Israel.[96][97][98]

Azerbaijan là một trong vài quốc gia Hồi giáo phát triển các quan hệ chiến lược và kinh tế song phương với Israel. Azerbaijan cung cấp cho Israel dầu, và Israel giúp hiện đại hóa lực lượng vũ trang của Azerbaijan. Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Israel vào năm 1992 và từ đó phát triển quan hệ đối tác quân sự, công nghệ và văn hóa mạnh mẽ với Israel.[99] Theo một cuộc thăm dò quan điểm quốc tế được tiến hành vào năm 2009 nhân danh Bộ Ngoại giao Israel, Ấn Độ là quốc gia thân Israel nhất trên thế giới.[100][101] Ấn Độ là khách hàng lớn nhất của thiết bị quân sự Israel và Israel là đối tác quân sự lớn thứ nhì của Ấn Độ sau Nga.[102] Tại châu Phi, Ethiopia là đồng minh chủ yếu và thân cận nhất của Israel do có chính trị, tôn giáo và lợi ích an ninh tương đồng.[103]

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Israel (IDF) là sự thống nhất của các Lực lượng Phòng thủ Israel (IDF), trong tiếng Hebrew viết tắt là Tzahal (צה"ל). Trong lịch sử, Israel không hề có binh chủng quân đội riêng biệt. Hải quân và Không quân đều thuộc quân đội. Cũng có các cơ quan bán quân sự chịu trách nhiệm bảo đảm một số lĩnh vực an ninh của Israel (như MagavShin Bet).

Các chiến sĩ Israel thuộc Tiểu đoàn Netzah Yehuda

Được coi là lực lượng quân sự mạnh nhất ở Trung Đông và cũng nằm trong danh sách những lực lượng quân sự được huấn luyện và trang bị tốt nhất trên thế giới, nó đã bảo vệ quốc gia qua năm cuộc chiến lớn. Sức mạnh chính của IDF là chất lượng huấn luyện binh sĩ và các chuyên gia xử lý tình huống, chứ không phải là sự sử dụng một lực lượng đông đảo. Nó cũng dựa nhiều vào những hệ thống vũ khí kỹ thuật cao, một số được chế tạo và phát triển tại Israel dành cho những nhu cầu đặc biệt của họ, và số khác được nhập khẩu (phần lớn từ Hoa Kỳ).

Tăng Merkava III của Israel-Một trong những loại xe tăng được thiết kế tốt nhất Thế giới

Đa số người Israel (nam và nữ) đều thực hiện nghĩa vụ quân sự ở tuổi 18. Một số ngoại trừ là những người Israel Ả Rập, những người đã được xác định chủ nghĩa hòa bình, những người không thể phục vụ trong quân ngũ vì thương tật hay không có khả năng và những phụ nữ theo đạo. Người Circassingười Bedouin cũng được vào quân đội. Từ năm 1956, người Druze cũng được nhập ngũ tương tự như người Do Thái, theo yêu cầu của cộng đồng Druze. Những người đàn ông sống cả đời trong nhà thờ cũng có thể được trì hoãn nhập ngũ. Đa số người Do Thái Haredi kéo dài thời hạn trì hoãn của mình tới khi họ đã quá già để nhập ngũ, một hành động gây nhiều tranh cãi ở Israel.

Sau thời gian phục vụ bắt buộc, đàn ông Israel trở thành lực lượng dự bị của IDF và mỗi năm thường phải phục vụ vài tuần trong quân ngũ với tư cách quân dự bị cho tới khi họ tới tuổi 40.

Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế tin rằng Israel là một nước có sở hữu vũ khí hạt nhân. Chính phủ nước này chưa bao giờ khẳng định có hay không. Israel chưa phê chuẩn Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhânQuy ước vũ khí hoá học (CWC) và họ cũng không ký vào Quy ước vũ khí sinh học và vũ khí chất độc (BWC).

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế Israel

Israel có một nền kinh tế thị trường phát triển cao cùng với sự điều tiết tích cực của chính phủ. Nước này nhập khẩu các nhiên liệu hoá thạch (dầu thô, khí tự nhiênthan đá), ngũ cốc, thịt bò, các nguyên liệu thô và trang thiết bị quân sự. Dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế, song trong 20 năm qua Israel vẫn đã luôn phát triển nhanh, nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp. Israel tự túc được phần lớn lương thực trừ ngũ cốc và thịt bò. Kim cương, kỹ thuật cao, trang thiết bị quân sự, phần mềm, dược phẩm, hoá chất tinh chế (fine chemical) và các nông sản (hoa quả, rau và hoa) là những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của nước này. Israel thường xuyên bị lớn thâm hụt tài khoản vãng lai, song chúng thường được bù đắp bằng các khoản tài trợ lớn từ nước ngoài và các khoản vay nước ngoài. Israel sở hữu nhiều cơ sở lọc dầu, đánh bóng kim cương và nhà máy sản xuất chất bán dẫn lớn. Theo điều tra của Nhóm Ngân hàng Thế giới, Israel là nền kinh tế có môi trường kinh doanh tốt nhất và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nghiêm nhất ở khu vực Trung Đông mở rộng. Tháng 5 năm 2007, Israel đã được mời gia nhập OECD.[104]

Khoảng một nửa khoản nợ của chính phủ là nợ Hoa Kỳ. Đây cũng là nước cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự chủ yếu cho Israel. Bình quân hàng năm, Israel nhận từ Mỹ khoảng 5,5 tỷ USD viện trợ. Một tỷ lệ lớn nợ nước ngoài của Israel do các nhà đầu tư cá nhân nắm giữ, thông qua chương trình Trái phiếu Israel. Những đảm bảo của Mỹ cho các khoản vay của Israel và các nhà đầu tư cá nhân có thể đầu tư trực tiếp vào đó giúp cho lãi suất của những khoản vay này rất thấp và thỉnh thoảng còn thấp hơn tỷ lệ thị trường.

Dòng người Do Thái nhập cư từ Liên bang Xô Viết cũ lên tới cực đại khoảng 750.000 người trong giai đoạn 19891999, khiến tổng số người Do Thái đến từ Liên Xô lên tới con số một triệu (1/6 tổng dân số), làm tăng thêm nguồn chuyên gia và nhà khoa học- nhân tố làm tăng đáng kể giá trị nền kinh tế trong tương lai. Dòng người nhập cư, cộng với sự mở cửa của những thị trường mới từ cuối Chiến tranh Lạnh, đã tạo thêm sức mạnh mới cho kinh tế Israel, làm nó tăng trưởng nhanh chóng trong những năm đầu thập kỷ 1990. Nhưng tăng trưởng đã chậm lại vào năm 1996 khi chính phủ áp đặt những chính sách tiền tệthuế chặt chẽ cũng như ngừng trợ cấp nhập cư. Các chính sách đó khiến lạm phát đã xuống mức thấp kỷ lục vào năm 1999.

Các ngành công nghiệp kỹ thuật cao đã chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là trong thập kỷ 1990. Những hạn chế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và mức đầu tư cao cho giáo dục đã đóng vai trò lớn trong việc hướng công nghiệp vào lĩnh vực kỹ thuật cao, dẫn tới thành công của Israel trong phát triển các kỹ thuật tiên tiến trong phần mềm, thông tin và khoa học đời sống. Israel thường được coi là Thung lũng Silicon thứ hai.

Một ngành kinh tế hàng đầu khác là du lịch nhờ số lượng đông đảo các địa điểm di tích lịch sử của cả Do Thái giáo và Kitô giáo cũng như khí hậu ấm áp và khả năng tiếp cận các nguồn nước của Israel. Tầm quan trọng của công nghiệp kim cương cũng đang bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi về những điều kiện bên trong ngành công nghiệp và sự nổi lên của một số hoạt động công nghiệp vùng Viễn Đông.

Tự do hoá nền kinh tế, giảm thuế cũng như giảm chi tiêu đã khiến cho khoảng cách giàu - nghèo tăng lên. Năm 2005, 20,5% trong tổng số hộ gia đình Israel (và 34% trẻ em Israel) sống dưới mức nghèo khổ, dù khoảng 40% trong số họ sẽ thoát khỏi ngưỡng nghèo qua các khoản hỗ trợ (transfer payments).

GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Israel vào 28 tháng 7 năm 2005 là 19.248 Dollar Mỹ (đứng thứ 30 trên thế giới), còn GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương là 26.200 USD (cao thứ 26 trên thế giới). Khả năng sản xuất toàn thể (overall productivity) của Israel là 54.510,40 Dollar, và số lượng bằng phát minh được cấp là 74/1.000.000 người.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2016, dân số Israel ước tính đạt 8.541.000 người, trong đó 6.388.800 (74,8%) được chính phủ dân sự ghi lý lịch là người Do Thái. 1.775.400 công dân Israel là người Ả Rập và chiếm 20,8% dân số, trong khi người Cơ Đốc giáo phi Ả Rập và người theo tôn giáo không được liệt vào đăng ký dân sự chiếm 4,4%.[25][26] Trong khoảng thập niên đầu của thế kỷ 21, có lượng lớn công nhân di cư đến từ Romania, Thái Lan, Trung Quốc, châu Phi, và Nam Mỹ định cư tại Israel. Không rõ số liệu chính xác do nhiều người cư trú bất hợp pháp tại Israel,[105] song có ước tính là 203.000.[27] Đến tháng 6 năm 2012, có khoảng 60.000 di dân châu châu Phi nhập cảnh Israel.[106] Khoảng 92% người Israel cư trú tại các khu vực đô thị.[107]

Tình trạng người Do Thái di cư từ Israel (được gọi là yerida trong tiếng Hebrew), chủ yếu là đến Hoa Kỳ và Canada, được các nhà nhân khẩu học mô tả là khiêm tốn,[108] song các cơ quan chính phủ Israel thường dẫn ra như một mối đe dọa lớn đến tương lai của quốc gia.[109][110]

Năm 2009, trên 300.000 công dân Israel cư trú tại các khu định cư Bờ Tây[111] như Ma'ale AdumimAriel, bao gồm các khu định cư có từ trước khi thành lập Nhà nước Israel và được tái lập sau Chiến tranh Sáu Ngày, tại các thành phố như HebronGush Etzion. Năm 2011, có 250.000 người Do Thái cư trú tại Đông Jerusalem.[112] 20.000 người Israel cư trú tại các khu định cư trên Cao nguyên Golan.[113] Tổng dân số người cư trú tại các khu định cư Israel là trên 500.000 (6,5% dân số Israel). Khoảng 7,800 người Israel cư trú tại các khu định cư thuộc Dải Gaza cho đến khu họ bị chính phủ Israel di dời theo kế hoạch triệt thoái năm 2015.[114]

Di cư đến Israel trong giai đoạn 1948–2015. Các năm đạt đỉnh là 1949 và 1990.

Israel được thành lập làm tổ quốc cho người Do Thái và thường được gọi là nhà nước Do Thái. Luật Trở về của Israel trao cho toàn bộ người Do Thái và những người có tổ tiên Do Thái quyền có tư cách công dân Israel.[115] Trên ba phần tư, hay 75.5% dân số là người Do Thái song họ có xuất thân đa dạng. Khoảng 4% người Israel (300.000) được xác định dân tộc vào mục "khác", họ là những hậu duệ người Nga có tổ tiên hoặc dòng dõi Do Thái, họ không phải là người Do Thái theo luật rabi, song đủ tư cách có quyền công dân Israel theo Luật Trở về.[116][117][118] Năm 2016, khoảng 76% người Do Thái Israel sinh tại Israel, 16% là người nhập cư từ châu Âu và châu Mỹ, và 8% là người nhập cư từ châu Á và châu Phi (kể cả Thế giới Ả Rập).[119] Người Do Thái từ châu Âu và Liên Xô cũ cùng hậu duệ của họ sinh tại Israel, gồm nhóm Ashkenazi, chiếm khoảng 50% người Do Thái Israel. Người Do Thái đến từ các quốc gia Ả Rập và Hồi giáo cùng hậu duệ của họ, gồm nhóm Mizrahi và Sephardi[120] chiếm hầu hết số người Do Thái còn lại tại Israel.[121][122][123] Tỷ lệ liên hôn Do Thái tăng đến trên 35% và các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng tỷ lệ người Israel có nguồn gốc từ cả hai nhóm Sephardi và Ashkenazi tăng trưởng 0,5 phần trăm mỗi năm, với trên 25% học sinh hiện có nguồn gốc từ cả hai cộng đồng.[124]

^a Số liẹu này bao gồm các khu vực Đông JerusalemBờ Tây. Chủ quyền của Israel đối với Đông Jerusalem không được quốc tế công nhận]].

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ký hiệu đường viết bằng tiếng Hebrew, Ả Rập và Anh

Israel có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Hebrew và tiếng Ả Rập.[6] Hebrew là ngôn ngữ chính của quốc gia và được đa số cư dân nói hàng ngày. Người thiểu sổ Ả Rập nói tiếng Ả Rập, và tiếng Hebrew được dạy tại các trường học Ả Rập.

Do là một quốc gia của người nhập cư, nhiều ngôn ngữ hiện diện tại Israel. Do nhập cư hàng loạt từ Liên Xô cũ và Ethiopia]] (khoảng 130.000 người Do Thái Ethiopia cư trú tại Israel),[126][127] tiếng Nga và tiếng Amhara được nói phổ biến.[128] Trên một triệu người nhập cư nói tiếng Nga đến Israel từ các quốc gia Liên Xô cũ từ năm 1990 đến năm 2004.[129] Khoảng 700.000 người Israel nói tiếng Pháp,[130] hầu hết nhóm này có nguồn gốc từ Pháp và Bắc Phi. Tiếng Anh là một ngôn ngữ chính thức trong thời kỳ Ủy thác; nó mất vị thế này sau khi Israel hình thành, song giữ được một vai trò tương đương một ngôn ngữ chính thức,[131][132][133] như có thể thấy trong các bảng hiệu đường bộ và văn kiện chính thức. Nhiều người Israel giao tiếp khá tốt bằng tiếng Anh, do nhiều chương trình truyền hình được phát bằng tiếng Anh cùng phụ đề và ngôn ngữ này được dạy từ các lớp đầu trong trường tiểu học. Ngoài ra, các đại học tại Israel cung cấp khóa trình bằng tiếng Anh cho nhiều môn học khác nhau.[134]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh đường Đỉnh Đá và Bức tường Than Khóc, Jerusalem.

Liên hệ tôn giáo của người Do Thái Israel có bất đồng lớn: một nghiên cứu xã hội với những người trên 20 tuổi cho thấy rằng 55% nói rằng họ "theo truyền thống", trong khi 20% tự nhận là "người Do Thái thế tục", 17 tự xác định là "người phục quốc tôn giáo"; 8% tự xác định là "người Do Thái Haredi" tức chính thống cực đoan.[135] Người Do Thái Haredi được dự kiến sẽ chiếm trên 20% dân số Do Thái Israel vào năm 2028.[136]

Người Hồi giáo chiếm 16% dân số Israel và là cộng đồng thiểu số tôn giáo lớn nhất tại đây. Khoảng 2% dân số là tín đồ Cơ Đốc giáo và 1,5% là tín đồ Druze.[137] Dân số Cơ Đốc giáo chủ yếu gồm người Cơ Đốc giáo Ả Rập, song cũng có các di dân hậu Liên Xô, lao động ngoại quốc đến từ nhiều quốc gia, và những người theo Do Thái giáo Chúa cứu thế- bị hầu hết người Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo cho là một dạng của Cơ Đốc giáo.[138] Thành viên của nhiều nhóm tôn giáo khác, như Phật giáo và Ấn Độ giáo, duy trì hiện diện tại Israel dù có số lượng nhỏ.[139] Trong số hơn một triệu di dân từ Liên Xô cũ tại Israel, có khoảng 300.000 người bị giáo sĩ chính thống cho là không phải người Do Thái.[140]

Thành phố Jerusalem có tầm quan trọng đặc biệt đối với người Do Thái, Hồi giáo và Cơ Đốc giáo do tại đây có các địa điểm chủ chốt trong đức tin tôn giáo của họ, như trong khu Thành cổ có Bức tường Thankhuocs và Núi Đền, Nhà thờ Hồi giáo Al-AqsaNhà thờ Mộ Thánh.[141] Các địa điểm tôn giáo quan trọng khác tại Israel là Nazareth (linh thiêng trong Cơ Đốc giáo do là nơi lễ truyền tin của Maria), TiberiasSafed (hai trong số bốn thành phố linh thiêng trong Do Thái giáo), Thánh đường Trắng tại Ramla (linh thiêng trong Hồi giáo vì là nơi thờ nhà tiên tri Saleh), và Nhà thờ Thánh George tại Lod (linh thiếng trong Cơ Đốc giáo và Hồi giáo vì là lăng mộ của Thánh George hoặc Al Khidr). Một số địa danh tôn giáo khác nằm tại Bờ Tây, như Lăng mộ Giuse tại Nablus, sinh quán của Giêsu và Lăng mộ Rachel tại Bethlehem, và Hang các Thượng phụ tại Hebron. Trung tâm hành chính của Đức tin Bahá'íĐền thờ Báb nằm tại Trung tâm Thế giới Bahá'í tại Haifa; thủ lĩnh của đức tin được táng tại Acre. Ngoài nhân viên bảo trì, không có cộng đồng Bahá'í tại Israel, song đây là các tín đồ Bahá'í hành hương. Nhân viên Bahá'í tại Israel không truyền dạy đức tin của mình cho người Israel do tuân theo chính sách nghiêm ngặt.[142][143][144]

Tham khảo và ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jerusalem là thủ đô chính thức và là vị trí của chỗ ở tổng thống, các trụ sở chính phủ, và Nghị viện Israel (Knesset). Năm 1980, Nghị viện tuyên bố địa vị của Jerusalem là "thủ đô đời đời không thể chia" của quốc gia khi thông qua Đạo luận Cơ bản: Jerusalem — Thủ đô Israel. Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc không công nhận vậy. Phần lớn của cộng đồng quốc tế cho rằng thành phố này vẫn còn đang là một "vật thể ly thân" (Latinh: corpus separatum) quốc tế và cho rằng vấn đề Jerusalem sẽ được giải quyết trong các đàm phán Israel-Palestine vào tương lai. Phần nhiều quốc gia đặt tòa đại sứ ở Tel Aviv. [1]
  2. ^ Press release – First data from the 2008 Population Census – Completed in July, 2009 (PDF), Israeli Central Bureau of Statistics (CBS), Ngày 30 tháng 9 năm 2009, truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010 
  3. ^ Israel, International Monetary Fund, truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2010 
  4. ^ “Tài liệu cơ bản về Nhà nước I-xra-en và quan hệ với Việt Nam”. Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tháng 1 năm 2015. Truy cập 5 tháng 10 năm 2016. 
  5. ^ “Palestinian Territories”. State.gov. 22 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. 
  6. ^ a ă â “Israel”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. 20 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012. 
  7. ^ Skolnik 2007, tr. 132–232
  8. ^ “GaWC – The World According to GaWC 2008”. Globalization and World Cities Research Network. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2009. 
  9. ^ United Nations News Centre (28 tháng 10 năm 2009). “Jerusalem must be capital of both Israel and Palestine, Ban says”. UN News Centre. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  10. ^ ''Basic Law: Jerusalem, Capital of Israel''”. Knesset.gov.il. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013. 
  11. ^ Galnoor, Itzhak. The Partition of Palestine: Decision Crossroads in the Zionist Movement. SUNY Press, 1995. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015. 
  12. ^ a ă Harris, J. (1998) The Israeli Declaration of Independence The Journal of the Society for Textual Reasoning, Vol. 7
  13. ^ “Declaration of Establishment of State of Israel”. Israel Ministry of Foreign Affairs. 14 tháng 5 năm 1948. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  14. ^ Brenner, Michael; Frisch, Shelley (tháng 4 năm 2003). Zionism: A Brief History. Markus Wiener Publishers. tr. 184. 
  15. ^ “Zionist Leaders: David Ben-Gurion 1886–1973”. Israel Ministry of Foreign Affairs. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  16. ^ Declaration of Establishment of State of Israel Israel Ministry of Foreign Affairs
  17. ^ The Arab-Israeli War of 1948 (US Department of State, Office of the Historian)"Arab forces joining the Palestinian Arabs in attacking territory in the former Palestinian mandate."
  18. ^ Yoav Gelber, Palestine 1948, 2006 — Chap.8 "The Arab Regular Armies' Invasion of Palestine".
  19. ^ Gilbert 2005, tr. 1
  20. ^ “The status of Jerusalem” (PDF). The Question of Palestine & the United Nations. United Nations Department of Public Information. East Jerusalem has been considered, by both the General Assembly and the Security Council, as part of the occupied Palestinian territory. 
  21. ^ “Analysis: Kadima's big plans”. BBC News. 29 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010. 
  22. ^ Kessner, BC (2 tháng 4 năm 2006). “Israel's Hard-Learned Lessons”. Homeland Security Today. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  23. ^ Kumaraswamy, P. R. (5 tháng 6 năm 2002). “The Legacy of Undefined Borders”. Tel Aviv Notes. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2013. 
  24. ^ Một số nguồn:
    * Hajjar, Lisa (2005). Courting Conflict: The Israeli Military Court System in the West Bank and Gaza. University of California Press. tr. 96. ISBN 0520241940. The Israeli occupation of the West Bank and Gaza is the longest military occupation in modern times. 
    * Anderson, Perry (July–August 2001). “Editorial: Scurrying Towards Bethlehem”. New Left Review 10. ...longest official military occupation of modern history—currently entering its thirty-fifth year 
    * Makdisi, Saree (2010). Palestine Inside Out: An Everyday Occupation. W. W. Norton & Company. ISBN 9780393338447. ...longest-lasting military occupation of the modern age 
    * Kretzmer, David (Spring 2012). “The law of belligerent occupation in the Supreme Court of Israel” (PDF). International Review of the Red Cross 94 (885): 207–236. doi:10.1017/S1816383112000446. This is probably the longest occupation in modern international relations, and it holds a central place in all literature on the law of belligerent occupation since the early 1970s 
    * Alexandrowicz, Ra'anan (24 tháng 1 năm 2012), The Justice of Occupation, The New York Times, Israel is the only modern state that has held territories under military occupation for over four decades 
    * Weill, Sharon (2014). The Role of National Courts in Applying International Humanitarian Law. Oxford University Press. tr. 22. ISBN 9780199685424. Although the basic philosophy behind the law of military occupation is that it is a temporary situation modem occupations have well demonstrated that rien ne dure comme le provisoire A significant number of post-1945 occupations have lasted more than two decades such as the occupations of Namibia by South Africa and of East Timor by Indonesia as well as the ongoing occupations of Northern Cyprus by Turkey and of Western Sahara by Morocco. The Israeli occupation of the Palestinian territories, which is the longest in all occupation's history has already entered its fifth decade. 
  25. ^ a ă “Latest Population Statistics for Israel”. Jewish Virtual Library. American–Israeli Cooperative Enterprise. Tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2016. 
  26. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cbsmonth
  27. ^ a ă Adriana Kemp, "Labour migration and racialisation: labour market mechanisms and labour migration control policies in Israel", Social Identities 10:2, 267–292, 2004
  28. ^ “Israel”. Freedom in the World. Freedom House. 2008. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  29. ^ Augustus Richard Norton (2001). Civil society in the Middle East. 2 (2001). BRILL. tr. 193. ISBN 90-04-10469-0. 
  30. ^ Rummel 1997, tr. 257. "A current list of liberal democracies includes: Andorra, Argentina,..., Cyprus,..., Israel,..."
  31. ^ “Global Survey 2006: Middle East Progress Amid Global Gains in Freedom”. Freedom House. 19 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  32. ^ “Israel's accession to the OECD”. Organisation for Economic Co-operation and Development. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012. 
  33. ^ Andreas Schleicher (2013). “ISRAEL – Education at a Glance 2013” (PDF). OECD. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015. 
  34. ^ LIDAR GRAVE-LAZI (9 tháng 9 năm 2014). “OECD report: Israel has large expenditure on education but lower spending per student”. Jerusalem Post. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015. 
  35. ^ “Human development index (HDI)”. United Nations Development Programme. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  36. ^ “Worldwide, Median Household Income About $10,000”. Gallup. 
  37. ^ “Average annual wages, 2013 USD PPPs and 2013 constant prices”. Organization for Economic Co-operation and Development, OECD. 2012. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2015. 
  38. ^ “WHO: Life expectancy in Israel among highest in the world”. Haaretz. 24 tháng 5 năm 2009. 
  39. ^ Đối thủ của ông là "một con người", và sau đó là "Chúa" theo Genesis 32:24–30 (cuốn đầu của Cựu Ước); hay "vị thần", theo Hosea 12:4
  40. ^ “The Stones Speak: The Merneptah Stele”. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006. 
  41. ^ “The Land of Israel”. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006. 
  42. ^ “Map of the U.N. Partition Plan”. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016. 
  43. ^ General Progress Report and Supplementary Report of the United Nations Conciliation Commission for Palestine, Covering the Period from ngày 11 tháng 12 năm 1949 to ngày 23 tháng 10 năm 1950, published by the United Nations Conciliation Commission, October 23, 1950. (U.N. General Assembly Official Records, Fifth Session, Supplement No. 18, Document A/1367/Rev. 1) The Committee believed the estimate to be "as accurate as circumstances permit", and attributed the higher number on relief to, among other things, "duplication of ration cards, addition of persons who have been displaced from area other than Israel-held areas and of persons who, although not displaced, are destitute".
  44. ^ Cohen, Gili (9 tháng 1 năm 2012). “Israel Navy to devote majority of missile boats to secure offshore drilling rafts”. Haaretz. 
  45. ^ “Area of Districts, Sub-Districts, Natural Regions and Lakes”. Israel Central Bureau of Statistics. 11 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013. 
  46. ^ “Israel (Geography)”. Country Studies (Library of Congress). 7 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  47. ^ “Geographic Regions”. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2008. 
  48. ^ “Issue #130 November 2011 – Regions in Israel”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  49. ^ "After 20 Years": A Taphonomic Re-evaluation of Nahal Hadera V, an Epipalaeolithic Site on the Israeli Coastal Plain” (PDF). 
  50. ^ “The Living Dead Sea”. Israel Ministry of Foreign Affairs. 1 tháng 4 năm 1999. ISBN 0-8264-0406-5. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007. 
  51. ^ Makhteshim Country. UNESCO. ISBN 954-642-135-9. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2007. 
  52. ^ Jacobs 1998, tr. 284. "The extraordinary Makhtesh Ramon – the largest natural crater in the world ..." Được lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015 tại Wayback Machine
  53. ^ “Makhtesh Ramon”. Jewish Virtual Library. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  54. ^ Rinat, Zafrir (29 tháng 5 năm 2008). “More endangered than rain forests?”. Haaretz (Tel Aviv). Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  55. ^ Ferry M.; Meghraoui M.; Karaki A.A.; Al-Taj M.; Amoush H.; Al-Dhaisat S.; Barjous M. (2008). “A 48-kyr-long slip rate history for the Jordan Valley segment of the Dead Sea Fault”. Earth and Planetary Science Letters 260 (3–4): 394–406. Bibcode:2007E&PSL.260..394F. doi:10.1016/j.epsl.2007.05.049. 
  56. ^ American Friends of the Tel Aviv University, Earthquake Experts at Tel Aviv University Turn to History for Guidance (October 4, 2007). Quote: The major ones were recorded along the Jordan Valley in the years 31 B.C.E., 363 C.E., 749 C.E., and 1033 C.E. "So roughly, we are talking about an interval of every 400 years. If we follow the patterns of nature, a major quake should be expected any time because almost a whole millennium has passed since the last strong earthquake of 1033." (Tel Aviv University Associate Professor Dr. Shmuel (Shmulik) Marco). [2]
  57. ^ a ă Zafrir Renat, Israel Is Due, and Ill Prepared, for Major Earthquake, Haaretz, 15 January 2010. "On average, a destructive earthquake takes place in Israel once every 80 years, causing serious casualties and damage." [3]
  58. ^ Watzman, Haim (8 tháng 2 năm 1997). “Left for dead”. New Scientist (London). Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  59. ^ “WMO Region 6: Highest Temperature”. World Meteorological Organization. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2009. 
  60. ^ Goldreich 2003, tr. 85
  61. ^ “Average Weather for Tel Aviv-Yafo”. The Weather Channel. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2007. 
  62. ^ “Average Weather for Jerusalem”. The Weather Channel. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2007. 
  63. ^ Sitton, Dov (20 tháng 9 năm 2003). “Development of Limited Water Resources- Historical and Technological Aspects”. Israeli Ministry of Foreign Affairs. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007. 
  64. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Solar_energy
  65. ^ “Flora of Israel Online”. Flora.huji.ac.il. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010. 
  66. ^ “National Parks and Nature Reserves, Israel”. Israel Ministry of Tourism. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012. 
  67. ^ Trong một giai đoạn ngắn thuộc thập kỷ 1990 Thủ tướng được bầu trực tiếp thông qua bầu cử. Thay đổi này không được coi là thành công và đã bị huỷ bỏ.
  68. ^ “Constitution for Israel”. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006. 
  69. ^ “Israel's Diplomatic Missions Abroad: Status of relations”. Israel Ministry of Foreign Affairs. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2016. 
  70. ^ Mohammed Mostafa Kamal (21 tháng 7 năm 2012). “Why Doesn't the Muslim World Recognize Israel?”. The Jerusalem Post. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2015. 
  71. ^ "Massive Israel protests hit universities" (Egyptian Mail, 16 March 2010) "According to most Egyptians, almost 31 years after a peace treaty was signed between Egypt and Israel, having normal ties between the two countries is still a potent accusation and Israel is largely considered to be an enemy country"
  72. ^ “Initial Periodic Report of the State of Israel Concerning the Implementation of the Convention of the Rights of the Child (CRC)” (PDF). Israel Ministry of Justice. Tháng 2 năm 2001. tr. 147 (173 using pdf numbering). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007. [liên kết hỏng]
  73. ^ הוראות הדין הישראלי (bằng tiếng Hebrew). Israeli Ministry of Foreign Affairs. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007. 
  74. ^ Abadi 2004, tr. 37–39, 47
  75. ^ Abadi 2004, tr. 47–49
  76. ^ a ă “Qatar, Mauritania cut Israel ties”. Al Jazeera English. 17 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  77. ^ Abn, Abi (14 tháng 1 năm 2009). “Bolivia rompe relaciones diplomáticas con Israel y anuncia demanda por genocidio en Gaza” (bằng tiếng Spanish). YVKE Mundial Radio. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2010. 
  78. ^ “The Recognition of Israel”. JSTOR 2193961. 
  79. ^ “U.S. Relations With Israel Bureau of Near Eastern Affairs Fact Sheet March 10, 2014”. U.S. Department of State. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014. 
  80. ^ “Israel: Background and Relations with the United States Updated” (PDF). Defense Technical Information Center. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2009. 
  81. ^ a ă “U.S. Overseas Loans and Grants” (PDF). 
  82. ^ “U.S. Government Foreign Grants and Credits by Type and Country: 2000 to 2010” (PDF). [liên kết hỏng]
  83. ^ “Foreign Aid”. [liên kết hỏng]
  84. ^ “The bilateral relationship”. UK in Israel. Foreign and Commonwealth Office. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  85. ^ “Congressional Research Service: Germany's Relations with Israel: Background and Implications for German Middle East Policy, Jan 19, 2007. (page CRS-2)” (PDF). Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010. 
  86. ^ Eric Maurice (5 tháng 3 năm 2015). “EU to Revise Relations with Turbulent Neighbourhood”. EUobserver. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  87. ^ Abadi 2004, tr. 3. "However, it was not until 1991 that the two countries established full diplomatic relations."
  88. ^ Abadi 2004, tr. 4–6
  89. ^ Colum Lynch (30 tháng 5 năm 2010). “Turkey urges U.N. Security Council to condemn Israeli attack on aid flotilla”. Washington Post. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010. 
  90. ^ “Israel Navy commandos: Gaza flotilla activists tried to lynch us”. Haaretz. 31 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012. 
  91. ^ AP (7 tháng 4 năm 2010). “Israeli Officials Claim Aid Flotilla Had Ties to Al Qaeda, PM Gives Military 'Full Support'. Fox News. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010. 
  92. ^ Lavie, Mark; Laub, Karin; Hacaoglu, Selcan (2 tháng 6 năm 2010). “Israel tries to limit diplomatic damage from raid”. The Washington Times (Jerusalem). Associated Press. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  93. ^ Pfeffer, Anshel (6 tháng 6 năm 2010). “IDF: Five Gaza flotilla activists linked to Hamas, Al-Qaida”. Haaretz. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  94. ^ “Israel woos Greece after rift with Turkey”. BBC News. 16 tháng 10 năm 2010. 
  95. ^ “Turkey, Greece discuss exploration off Cyprus”. Haaretz. Associated Press. 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2012. 
  96. ^ “The Cyprus connection”. The Jerusalem Post. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2012. 
  97. ^ “Netanyahu embarks on historic visit to Cyprus”. Ynet. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2012. 
  98. ^ “Netanyahu headed to Cyprus to boost cooperation on security, offshore drilling”. Haaretz. 19 tháng 1 năm 2012. 
  99. ^ Kumar, Dinesh. “India and Israel: Dawn of a New Era” (PDF). Jerusalem Institute for Western Defense. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  100. ^ Eichner, Itamar (4 tháng 3 năm 2009). “From India with love”. Ynetnews. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  101. ^ “Nitin Gadkari to visit Israel tomorrow”. World Snap. 13 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012. 
  102. ^ “India to hold wide-ranging strategic talks with US, Israel”. The Times of India. 19 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. [liên kết hỏng]
  103. ^ “Iran and Israel in Africa: A search for allies in a hostile world”. The Economist. 4 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  104. ^ Israel invited to join the OECD. Truy cập 2007-05-21
  105. ^ “ISRAEL: Crackdown on illegal migrants and visa violators”. IRIN. 14 tháng 7 năm 2009. 
  106. ^ “Israel rounds up African migrants for deportation”. Reuters. 11 tháng 6 năm 2012. 
  107. ^ “THE LAND: Urban Life”. Israel Ministry of Foreign Affairs. 
  108. ^ Herman, Pini (1 tháng 9 năm 1983). “The Myth of the Israeli Expatriate”. Moment Magazine 8 (8): 62–63. 
  109. ^ Gould, Eric D.; Moav, Omer (2007). “Israel's Brain Drain”. Israel Economic Review (Bank of Israel) 5 (1): 1–22. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2013. 
  110. ^ Rettig Gur, Haviv (6 tháng 4 năm 2008). “Officials to US to bring Israelis home”. The Jerusalem Post. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  111. ^ “Settlements in the West Bank”. Settlement Information. Foundation for Middle East Peace. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  112. ^ “President Obama's hostility to Israel continues”. The Jerusalem Post. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  113. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bbc_golan_profile
  114. ^ “Settlements in the Gaza Strip”. Settlement Information (Foundation for Middle East Peace). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007. 
  115. ^ “The Law of Return”. Knesset. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2007. 
  116. ^ DellaPergola, Sergio (2011). “Jewish Demographic Policies” (PDF). The Jewish People Policy Institute. 
  117. ^ “Israel (people)”. Encyclopedia.com. 2007. 
  118. ^ Yoram Ettinger (5 tháng 4 năm 2013). “Defying demographic projections”. Israel Hayom. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2013. 
  119. ^ “Jews, by Continent of Origin, Continent of Birth & Period of Immigration”. Israel Central Bureau of Statistics. 2016. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016. 
  120. ^ “From Sephardi to Mizrahi and Back Again: Changing Meanings of "Sephardi" in Its Social Environments”. 
  121. ^ “The myth of the Mizrahim”. The Guardian (London). 3 tháng 4 năm 2009. 
  122. ^ Shields, Jacqueline. “Jewish Refugees from Arab Countries”. Jewish Virtual Library. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  123. ^ “Missing Mizrahim”. 
  124. ^ Okun, Barbara S.; Khait-Marelly, Orna (2006). “Socioeconomic Status and Demographic Behavior of Adult Multiethnics: Jews in Israel” (PDF). Hebrew University of Jerusalem. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  125. ^ “Population and Density per Sq. Km. in Localities Numbering 5,000 Residents and More on 31.12.2015”. Israel Central Bureau of Statistics. 2016. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2016. 
  126. ^ Israel Central Bureau of Statistics: The Ethiopian Community in Israel
  127. ^ “Israel may admit 3,000 Ethiopia migrants if Jews”. Reuters. 16 tháng 7 năm 2009. 
  128. ^ Meyer, Bill (17 tháng 8 năm 2008). “Israel's welcome for Ethiopian Jews wears thin”. The Plain Dealer. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012. 
  129. ^ “Study: Soviet immigrants outperform Israeli students”. Haaretz. 10 tháng 2 năm 2008. 
  130. ^ “French radio station RFI makes aliyah”. Ynetnews. 5 tháng 12 năm 2011. 
  131. ^ Spolsky, Bernard (1999). Round Table on Language and Linguistics. Washington, D.C.: Georgetown University Press. tr. 169–70. ISBN 0-87840-132-6. In 1948, the newly independent state of Israel took over the old British regulations that had set English, Arabic, and Hebrew as official languages for Mandatory Palestine but, as mentioned, dropped English from the list. In spite of this, official language use has maintained a de facto role for English, after Hebrew but before Arabic. 
  132. ^ Bat-Zeev Shyldkrot, Hava (2004). “Part I: Language and Discourse”. Trong Diskin Ravid, Dorit; Bat-Zeev Shyldkrot, Hava. Perspectives on Language and Development: Essays in Honor of Ruth A. Berman. Kluwer Academic Publishers. tr. 90. ISBN 1-4020-7911-7. English is not considered official but it plays a dominant role in the educational and public life of Israeli society.... It is the language most widely used in commerce, business, formal papers, academia, and public interactions, public signs, road directions, names of buildings, etc. English behaves 'as if' it were the second and official language in Israel. 
  133. ^ Shohamy, Elana (2006). Language Policy: Hidden Agendas and New Approaches. Routledge. tr. 72–73. ISBN 0-415-32864-0. In terms of English, there is no connection between the declared policies and statements and de facto practices. While English is not declared anywhere as an official language, the reality is that it has a very high and unique status in Israel. It is the main language of the academy, commerce, business, and the public space. 
  134. ^ “English programs at Israeli universities and colleges”. Israel Ministry of Foreign Affairs. 
  135. ^ Elazar, Daniel J. “Religion in Israel: A Consensus for Jewish Tradition”. Jerusalem Center for Public Affairs. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2007. 
  136. ^ “At the edge of the abyss”. Haaretz. 24 tháng 11 năm 2009. 
  137. ^ Central Bureau of Statistics, Government of Israel. “Population, by religion and population group” (PDF). Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007. 
  138. ^ Bassok, Moti (25 tháng 12 năm 2006). “Israel's Christian population numbers 148,000 as of Christmas Eve”. Haaretz. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  139. ^ “National Population Estimates” (PDF). Central Bureau of Statistics. tr. 27. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007. 
  140. ^ “Israel's disputatious Avigdor Lieberman: Can the coalition hold together?”. The Economist. 11 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012. 
  141. ^ Levine, Lee I. (1999). Jerusalem: its sanctity and centrality to Judaism, Christianity, and Islam. Continuum International Publishing Group. tr. 516. ISBN 978-0-8264-1024-5. 
  142. ^ Hebrew Phrasebook. Lonely Planet Publications. 1 tháng 11 năm 1999. tr. 156. ISBN 0-86442-528-7. 
  143. ^ “The Bahá'í World Centre: Focal Point for a Global Community”. The Bahá'í International Community. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007. 
  144. ^ “Teaching the Faith in Israel”. Bahá'í Library Online. 23 tháng 6 năm 1995. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007. 

Danh sách chú giải về các nguồn thông tin đại chúng Israel[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin chung[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Knesset (Nghị viện)[sửa | sửa mã nguồn]

Thể chế và hệ thống pháp luật[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xin xem bài chính Lịch sử Israel

Kinh tế, khoa học và công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Các quan hệ nước ngoài và các cuộc xung đột hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

For links on the Arab-Israeli conflict and the Israeli-Palestinian conflict, see Arab-Israeli Conflict: Liên kết ngoài

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Những ghi chép lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Authentic historical Recordings - UN Partition Vote of 1947, Arab Rejection, "First" Hatikva, Ben-Gurion - On Independence, Arab Countdown to Six Day War, Moshe Dayan - Six Day War, Gen. Ariel Sharon - "Move forward!", Nasser's Infamous Phone call, Gen. Yitzhak Rabin - Six Day War, Abba Eban's "Stalingrad" Speech
  • A cry from the bunkers - Dramatic and authentic recordings by IDF soldier Avi Yaffe from inside the IDF position, under attack at the outbreak of the Yom Kippur war.