Janet Gibson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

nhỏ|Janet Gibson và poster "Then and now" Janet Gibson là nhà sinh học người Belize. Bà đã được thưởng Giải Môi trường Goldman năm 1990 cho những nỗ lực bảo tồn các hệ sinh thái biển bên ngoài bờ biển Belize, đặc biệt là hệ thống rạn san hô.[1] Rạn san hô Belize đã được UNESCO xếp vào loại Di sản thế giới năm 1996, thông qua nỗ lực của Gibson và những người khác. Bà hiện đang là giám đốc của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã Belize.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Janet Gibson đã được sinh ra ở Belize và giáo dục tại Hoa Kỳ như một nhà sinh vật học và động vật học. Vào giữa những năm 1980, bà bắt đầu làm việc như một tình nguyện viên cho Audubon Society Belize. Giữa năm 1985 và năm 1987, bà làm việc để thành lập khu dự trữ hệ sinh thái Hol Chan, vận động công dân, doanh nghiệp, ngư dân, và chính phủ của Belize để bảo vệ việc dự trữ và giáo dục về tính cần thiết của dự án. Bà đã phát triển một kế hoạch quản lý, làm việc để bảo đảm tài chính và chuyển sang dự án kế tiếp. Những nỗ lực của bà đã thành công và các khu bảo tồn chính thức được thành lập vào năm 1987 [2] và là khu bảo tồn đầu tiên của loại hình này ở Trung Mỹ. Khu dự trữ dài khoảng ba dặm và là một khu vực bảo vệ, cho phép cá mà trước đó đã bị cạn kiệt để tái tạo và cung cấp nhiều loại cá cho thợ lặn trải nghiệm.[2] Năm 1990, bà đã được trao giải môi trường Goldman cho những nỗ lực bảo tồn của mình hệ thống hàng rào đá ngầm.[1]

Năm 1988, bà đã chuẩn bị dự thảo Kế hoạch Quản lý Reef Atoll của Glover [3] và bắt đầu nỗ lực để bảo đảm tốt việc dự trữ cho Glover's Reef. Năm 1990, bà đã giúp thành lập một Ban quản lý vùng ven biển như là một phần của bộ phận thủy sản.[4] Gibson gia nhập Hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã (WCS) và vào năm 1993, những nỗ lực của họ, cùng với sự hỗ trợ các tổ chức khác đã đạt được một chỉ định như là một khu bảo vệ cho Belize.[5] Gibson và người làm việc trong bảo vệ môi trường bắt đầu nhận ra rằng chỉ bảo vệ khu vực cá nhân là không đủ khi mà không có một phương pháp tiếp cận quản lý bảo vệ toàn bộ khu vực xung quanh, các nhân tố bên ngoài, như tảo sinh ra từ rác thải trồng cây ăn quả, khai thác quá mức tại các khu vực khác gây thiệt hại tài sản, hoặc chất cặn được tạo ra bởi việc mở rộng, đã có những tác động bất lợi.[6] Cùng với các nhà chức trách, đại diện lâm nghiệp, các nhóm môi trường khác và công dân, vào năm 1993 một kế hoạch đã được thông qua để chính thức hóa bảo vệ các rạn san hô như một di sản thế giới tự nhiên trong một đề cử tiếp theo. Sau nhiều năm lập kế hoạch và làm việc, việc chỉ được cấp bởi UNESCO vào tháng năm 1996.[7]

Gibson là giám đốc của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã Belize và đã xuất bản nhiều công trình khoa học.

Tác phẩm chọn lọc[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Janet Gibson”. Goldman Environmental Prize. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2009. 
  2. ^ a ă Auxillou, Ray. "Hol Chan Marine Reserve". San Pedro Town, Belize: Ambergris Caye. Lấy ngày 6 tháng 9 năm 2015.
  3. ^ 3.   ↑^ United Nations Environment Programme-World Conservation Monitoring Centre (22 June 2009). Clough, Langdon D., ed. "Belize Barrier Reef Reserve System, Belize".Encylopedia of Earth. Lấy ngày 6 tháng 9 2015.
  4. ^ 4.   ↑^ Wells, Sue. "Coastal Zone Management Project". San Pedro, Belize: Ambergris Caye. Lấy ngày 6 tháng 9 2015.
  5. ^ 5.   ↑^ "WCS at the forefront of Marine Conservation in Belize". Belize City, Belize: Wildlife Conservaton Society. Lấy ngày 6 tháng 9 2015.
  6. ^ 6.   ↑^ Woodard 2001, pp. 142-143
  7. ^ 7.   ↑^ Gibson, Janet. "The Belize Barrier Reef: a World Heritage Site". produced in Pauly, D, ed. (2011). "Too Precious to Drill: the Marine Biodiversity of Belize". Palomares, M.L.D. University of British Columbia: Fisheries Centre Research Reports. 19 (6): 8–13. ISSN 1198-6727

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Woodard, Colin (2001). Ocean's End: Travels Through Endangered Seas. Sách cơ bản. ISBN 978-0-465-01571-9