Javen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cấu tạo phân tử NaClO

Javel hay là nước Javen là hỗn hợp khí sục Cl2 dư vào dung dịch NaOH. Nước Javel là hỗn hợp hai muối NaCl và NaClO. Muối NaClO có tính oxi hóa rất mạnh, do vậy nước Javel có tính tẩy màu và sát trùng. Do đó nó thường được dùng để tẩy trắng vải, sợi, giấy và tẩy uế chuồng trại vệ sinh.  Muối NaClO – muối của axit yếu hipoclorơ, dễ tác dụng với CO2 trong không khí tạo ra axit hipoclorơ có tính oxi hóa mạnh

Cl2 + 2NaOH → NaCl + NaClO + H2O

Nước Javel có tính tẩy màu vì nó có chứa NaClO. Tương tự như HClO, NaClO có tính oxi hóa rất mạnh nên phá vỡ các sắc tố màu sắc của các chất. Vì thế, Nước Javel được dùng làm thuốc tẩy trắng trong công nghiệp cũng như trong gia đình

Điều chế.[sửa | sửa mã nguồn]

Trong công nghiệp, nước Gia–ven được sản xuất bằng cách điện phân dung dịch muối ăn (nồng độ từ 15 – 20%) trong thùng điện phân không có màng ngăn.

2NaCl + 2H2O → 2NaOH + H2 ↑ + Cl2 ↑

(catôt)    (anôt)

Do không có màng ngăn nên Cl2 thoát ra ở anôt tác dụng vói NaOH (cũng vừa được tạo thành ở catôt) trong dung dịch tạo ra nước Gia–ven.

Cl2 + 2NaOH → NaCl + NaClO + H2O

Giải thích tên gọi.[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Javel đuợc sản xuất lần đầu bởi Claude Louis Berthollet trong phòng thí nhiệm tại Javel, Paris, Pháp bằng cách dẫn khí Clo vào dung dịch Natri Cacbonat. Chất lỏng thu đuợc là Eau de Javel (nuớc Javel), dung dịch Natri Hypoclorit yếu.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Natri hiđroxit

Natri hypoclorit

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]