Jennie Kim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Kim.
Kim Jennie
Jennie Kim for Marie Claire Korea Magazine on October 9, 2018 (5).png
Jennie chụp ảnh cho tạp chí Marie Claire vào ngày 9 tháng 10 năm 2018
Tên bản ngữ 김젠니
Sinh Kim Jen-nie
16 tháng 1, 1996 (22 tuổi)
Gangnam-gu, Seoul, Hàn Quốc
Nơi cư trú Seoul, Flag of South Korea.svg Hàn Quốc
Quốc tịch
Quê quán Cheongdam-dong,  Hàn Quốc
Sự nghiệp âm nhạc
Nghệ danh Jennie
Thể loại
Nghề nghiệp Ca sĩ
Nhạc cụ Thanh nhạc
Năm hoạt động 2016 (2016) – nay
Hãng đĩa YG Entertainment
Hợp tác với
Tên tiếng Hàn
Hangul 김젠니
Hanja 金珍妮
Romaja quốc ngữ Gim Jen-ni
McCune–Reischauer Kim Cheni
Hán-Việt Kim Trân Ni
Chữ ký
Signature of Jennie Kim.jpg

Jennie Kim (hay còn được viết là Kim Jen-nie, Hangul: 김젠니, Hanja: 金珍妮, Hán-Việt: Kim Trân Ni, sinh ngày 16 tháng 1 năm 1996), thường được biết đến với nghệ danh Jennie (Hangul: 제니), là một nữ ca sĩ, rapper người Hàn Quốc, từng là du học sinh ở New Zealand, thành viên của nhóm nhạc nữ Black Pink[1] do công ty giải trí YG Entertainment thành lập và quản lý.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Jennie sinh ngày 16 tháng 1 năm 1996 tại Anyang, Gyeonggi, Hàn Quốc.[2] Cô chuyển đến New Zealand sống năm 10 tuổi và học tại tiểu học Waikowhai với tư cách là một du học sinh trao đổi.[3]

Vào tháng 8 năm 2010, cô trở thành thực tập sinh của YG Entertainment.

Jennie thông thạo tiếng Hàn, tiếng Anhtiếng Nhật.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Jennie Kim đã xuất hiện trong MV That XX của G-Dragon với vai nữ chính. Ngoài ra, cô đã góp giọng trong Special của Lee Hi, GG Be của SeungriBlack của G-Dragon.[4]

2016: Ra mắt với Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Black Pink

Jennie được xác nhận là thành viên đầu tiên của Black Pink vào ngày 01 tháng 6 năm 2016.

Ngày 8 tháng 8 năm 2016, cô chính thức ra mắt với Black Pink trong 2 MV "Boombayah" và "Whistle". Cô đảm nhận vai trò rap chính và hát phụ của nhóm. Ngày 31 tháng 10 năm 2016, Jennie cùng với BLACKPINK đã trở lại với single Square Two gồm 2 bài hát "Playing With Fire" và "Stay" đạt nhiều thành tích và nhiều giải thưởng.

Vào lúc 18:00 (KST)ngày 22 tháng 6 năm 2017, cô cùng Black Pink chính thức tung ra ca khúc "As If It's Your Last" và MV cùng tên. Bài hát đã nhanh chóng trở thành MV đạt được nhiều lượt xem nhất trong vòng 24h đối với nhóm nhạc nữ với hơn 13 triệu views.

2018: Ra mắt Mini Album "Square Up" cùng Black Pink và chính thức là nghệ sĩ solo[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Jennie tiếp tục cùng Black Pink cho ra mắt Mini Album đầu tiên mang tên Square Up gồm bài hát chủ đề " DDU-DU-DDU-DU" và 3 bài hát "Forever Young", "Really" và "See U Later". Bài hát chủ đề cùng Mini Album đã giúp Black Pink phá hàng loạt kỉ lục.

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, Jennie chính thức được ra mắt với tư cách là một nghệ sĩ solo với single đầu tay mang tên "SOLO". Trước đó, vào ngày 10-11 tại concert đầu tiên của Black Pink tại Seoul, Hàn Quốc, cô đã giới thiệu trước sản phẩm trước tới người hâm mộ và nhận được nhiều phản hồi tích cực. Nên ngay khi ra mắt chính thức sản phẩm âm nhạc của mình, ca khúc đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ phía khán giả và đoạt rất nhiều thành tích "ngoài sức tưởng tượng" với tư cách một nghệ sĩ solo mới.

Chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Thành viên
2018 Youtube BLACKPINK HOUSE Với BLACKPINK
Vlive
JTBC2
Olleh TV

Chương trình giải trí trên sóng truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Vai trò Ngày phát sóng Ghi Chú
2016 MBC Every 1 Weekly Idol Khách mời 16 tháng 11 Tập 227 ( với Black pink )
SBS Running Man 18 tháng 12 Tập 330 ( với Black pink )
2017 MBC My Little Television 20 tháng 5 - 27 tháng 5 Tập 98-99 ( với Black pink)
MBC Every 1 Weekly Idol 5 tháng 7 Tập 310 ( với Black pink )
JTBC Knowing Bros 5 tháng 8 Tập 87 (với Black pink )
2018 JTBC Idol Room 23 tháng 6 Tập 7 (với Black Pink)
SBS Running Man 15 tháng 7 Tập 409 (với Jisoo)
SBS My Ugly Duckling 22 tháng 7

Chú Thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “BLACKPINK”. 
  2. ^ Hui-ling, Chew (28 tháng 9 năm 2016). Teo, Johanna, biên tập. “The Breakout Kids”. Teenage Magazine (Singapore: Key Editions Pte Ltd) (334): 48–49. ISSN 0219-9645. OCLC 224927719. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016. 
  3. ^ Mi-hyun, Lee (8 tháng 8 năm 2016). “[블랙핑크 데뷔②] 블랙핑크 입덕 준비 끝…괴물 신인 스포일러”. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). South Korea: JTBC Plus. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ http://www.blackpinkyg.com/2016/06/jennie-kim-profile.html

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]