Jennie Kim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Kim.
Jennie Kim
킴제니
170517 Jennie Kim Blackpink 01.jpg
Jennie Kim biểu diễn trên sân khấu vào ngày 17 tháng 5 năm 2017
Tên bản ngữ김제니
SinhKim Jen-nie
16 tháng 1, 1996 (24 tuổi)
Gangnam-gu, Seoul, Hàn Quốc
Nơi cư trúSeoul, Hàn Quốc
Quốc tịch Hàn Quốc
Quê quánCheongdam-dong, Hàn Quốc
Chiều cao163 cm (5 ft 4 in)
Cân nặng50 kg (110 lb)
Sự nghiệp âm nhạc
Nghệ danhJennie
Thể loại
Nghề nghiệpCa sĩ
Năm hoạt động2013 (2013) – nay
Hãng đĩaYG Entertainment, Interscope[1]
Hợp tác với
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
김제니
Hanja
金珍妮
Romaja quốc ngữGim Jen-ni
McCune–ReischauerKim Cheni
Hán-ViệtKim Trân Ni
Signature of Jennie.svg

Jennie Kim (Hangul: 김제니, Hanja: 金珍妮, Hán-Việt: Kim Trân Ni, sinh ngày 16 tháng 1 năm 1996), thường được biết đến với nghệ danh Jennie (Hangul: 제니), là một nữ ca sĩ, rapper người Hàn Quốc. Cô ra mắt với vai trò rapper chính và hát phụ của nhóm nhạc nữ Black Pink do công ty YG Entertainment thành lập và quản lý.

Tiểu sử

Jennie sinh ngày 16 tháng 1 năm 1996 tại Cheongdam-dong, Gangnam, Seoul, Hàn Quốc và là con một trong gia đình.[2][3][4][5] Vào năm 8 tuổi, cô đã có một chuyến du lịch với gia đình đến ÚcNew Zealand. Khi ở New Zealand, mẹ cô hỏi cô rằng cô có thích nơi này không và có muốn ở lại đây không, cô đã trả lời "Có ạ". Một năm sau, cô được gửi đi du học tại trường trung cấp Waikowhai, Auckland, New Zealand và sống tại nhà của một gia đình ở đây.[6] Jennie nói về trải nghiệm trong việc học ngôn ngữ mới trong phim tài liệu đặc biệt của MBC "English, Must Change to Survive" (2006).[7] Trong suốt thời niên thiếu, cô mong muốn trở thành một vũ công ballet.[8] Sau khi tốt nghiệp trung học, cô tiếp tục theo học tại Cao đẳng ACG Parnell.[6]

Jennie bắt đầu nghe nhạc Kpop khi cô còn ở New Zealand và cô cảm thấy rất thích thú với âm nhạc của YG Entertainment.[9] Mẹ của cô dự định chuyển cô đến Florida, Mỹ vào năm 14 tuổi để cô có thể trở thành một luật sư hoặc giáo viên, nhưng cô đã gọi điện cho mẹ và khóc trong điện thoại để phản đối ý kiến đó. Jennie nghĩ rằng cô có thể không tìm được một công việc mà cô thích khi sống một mình tại Florida; gia đình cô ủng hộ quyết định của cô và cô đã trở lại Hàn Quốc.[9][10] Jennie tham gia vào buổi audition được tổ chức bởi YG Entertainment vào cùng năm và trình diễn ca khúc "Take a Bow" của Rihanna, cô trở thành thực tập sinh ngay sau đó.[11] Jennie từng kể trên High Cut Korea rằng cô rất sợ tiếp xúc với người lạ và tệ trong khoản bắt chuyện, ngay cả trong buổi audition cô hầu như không thể nói "Xin chào".[12] Ban đầu, cô tham gia audition với vai trò là một giọng ca, nhưng sau đó công ty nghĩ rằng cô nên trở thành một rapper vì cô là thực tập sinh duy nhất có khả năng nói được tiếng Anh, hầu hết tất cả bài hát cô cover đều có rap.[13][14] Cô theo học tại Trường trung học cơ sở Cheongdam và Cao trung Chungdam.[15]

Sự nghiệp

2012-2016: Ra mắt với Blackpink và trở nên nổi tiếng

Vào ngày 10 tháng 4 năm 2012, bức ảnh của Jennie được đăng tải với câu hỏi "Who's that girl?" lên trang web chính thức của YG Entertainment.[16] Tên của cô chưa được tiết lộ vào lúc đó, vì thế cô được gọi là "Mystery Girl" và được đồn rằng cô sẽ là thành viên của một nhóm nhạc nữ mới từ YG.[17][18] Bức hình của cô nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng mạng về sự bí ẩn và vẻ đẹp lạ thường. Cô ngay lập tức trở thành chủ đề được tìm kiếm nhiều nhất trên các trang tìm kiếm với cái tên "Mystery Girl".[19][20] Thông tin về danh tính của cô cuối cùng đã được tìm thấy thông qua cuộc tìm kiếm của cộng đồng mạng. Vào ngày 13 tháng 4, YG Entertainment lên tiếng xác nhận thông tin và không giấu được sự ngạc nhiên: "Tên và tuổi của cô ấy đều đúng. Khi còn nhỏ, cô ấy đã chuyển ra nước ngoài sinh sống nên chúng tôi không ngờ rằng các bạn tại Hàn Quốc sẽ phát hiện ra thông tin của cô ấy chỉ với một bức hình"[21].

Vào 30 tháng 8 năm 2012, YG Entertainment đăng tải lên YouTube một video với tựa đề "YG Trainee - Jennie Kim". Cô thành thạo tiếng Hàn, tiếng Anhtiếng Nhật.[22] Trong video, Jennie cover bài hát "Strange Clouds" của B.o.B. ft. Lil Wayne và được xác nhận là thành viên chính thức của nhóm nhạc nữ mới. Cô thu hút được sự chú ý khi thực hiện một bản rap tiếng Anh, thể hiện được kỹ năng rap của mình một cách sành điệu nhưng mạnh mẽ, trái ngược với hình ảnh nữ tính của cô.[23][24] Ngày 1 tháng 9, Jennie xuất hiện trước công chúng truyền thông lần đầu tiên với tư cách là nữ diễn viên chính trong MV "That XX" của G-Dragon từ album solo của anh, One of a Kind.[25][26] Các trang báo đưa tin rằng Jennie được lên kế hoạch ra mắt trong một nhóm nhạc nữ với hơn bảy thành viên trong khoảng từ tháng 9 đến tháng 10, nhưng kế hoạch đã bị lùi sang tháng 1 năm 2013.[27][28]

Vào ngày 21 tháng 1 năm 2013, công ty phát hành một video thông qua kênh của công ty với tựa đề "Jennie Kim - YG New Artist".[29] Trong video, Jennie cover bài hát "Lotus Flower Bomb" của rapper Wale. Đại diện của công ty nói rằng Jennie được xác định với tư cách là thành viên của nhóm nhạc nữ mới của YG cùng với Kim Jisoo và khả năng của cô nằm ở rap bên cạnh đó cũng tốt cả hát và nhảy.[30][31] Tháng 3 năm 2013, cô có màn góp giọng vào bài hát "Special" trong album ra mắt của Lee Hi, First Love.[32]

Vào ngày 19 tháng 6 năm 2013, YG Entertainment thông báo rằng hoãn kế hoạch ra mắt nhóm nhạc nữ mới.[33] Nhóm dự định ra mắt với 10 thành viên, nhưng sự cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn giữa các thực tập sinh sau một buổi thử giọng, chỉ còn lại Jennie và năm thành viên khác. YG cũng nói rằng Jennie và các thành viên còn lại sẽ xuất hiện liên tiếp để xem họ có thể là người của công chúng hay không và sẽ hoàn thành việc lập nhóm vào năm sau.[34][35] Tháng 8, Jennie là thành viên đầu tiên xuất hiện với vai trò là một giọng ca trong bài hát "GG Be" của Seungri cho đĩa đơn mở rộng của anh, Let's Talk About Love.[36] Jennie cũng bày tỏ trong Vlive rằng cô đã không làm tốt và cô không mong đợi được thể hiện trong bài hát khi Seungri đã nhờ cô giúp đỡ, vì cô đã tập trung vào việc trở thành một rapper và không bắt đầu hát như một giọng ca rất lâu rồi.[37] Tháng 9 năm 2013, cô có màn góp giọng trong ca khúc "Black" của G-Dragon và đã ghi lại ấn tượng trong vòng chưa đầy năm ngày trước khi phát hành album của anh Coup d'etat.[38] Vào ngày 8 tháng 9, cô xuất hiện trên sân khấu lần đầu tiên cùng với G-Dragon trong Inkigayo của SBS.[39][40] Mặc dù có nhiều tuyên bố chính thức của công ty, việc ra mắt của Jennie đã không xảy ra và liên tục bị hoãn lại.[41]

Vào ngày 1 tháng 6 năm 2016, cô là thành viên đầu tiên được tiết lộ của nhóm nhạc nữ mới của YG.[42] Vào ngày 8 tháng 8 năm 2016, Jennie ra mắt với nhóm nhạc nữ Blackpink và phát hành album đĩa đơn Square One.[43] Jennie là rapper chính và giọng ca (tùy thuộc vào từng bài hát cô sẽ trở thành giọng ca chính[44] hoặc giọng ca phụ[45] cùng với Jisoo). Theo thành viên cùng nhóm Jisoo, Jennie cũng chịu trách nhiệm trong tổ chức chung[46] và là người đưa ra quyết định cho nhóm.[47] Jennie mô tả cuộc sống 6 năm làm thực tập sinh của mình là một "thế giới trái tim đá" thực sự "đáng sợ". Cô nhớ lại trải nghiệm sáu năm làm thực tập sinh của mình trong V Live, nói rằng vào cuối mỗi tháng, tất cả các nhà sản xuất của YG đôi lúc còn có những nghệ sĩ và chính chủ tịch sẽ theo dõi và đánh giá thực tập sinh. Mỗi thực tập sinh đều phải biểu diễn một bài solo, một bài hát nhóm và một bài vũ đạo. Cô nói rằng có rất nhiều việc phải làm mỗi tháng, mỗi người đều phải tự chuẩn bị trang phục, nhóm, phần trình diễn, bài hát, làm MR, luyện tập vũ đạo. Về cuộc sống thời thực tập sinh của mình, Jennie cũng cho biết cô phải quay các video về việc mình rap, hát, poppingkrumping mỗi tuần để cho buổi đánh giá giữa kỳ.[37]

2017: Ra mắt đĩa đơn "As If It's Your Last"

Vào lúc 18:00 (KST) ngày 22 tháng 6 năm 2017, Jennie cùng Black Pink chính thức tung ra ca khúc "As If It's Your Last" và MV cùng tên sau 7 tháng vắng bóng.

2018: Gia tăng độ phổ biến và ra mắt solo

Jennie xuất hiện cùng Jisoo, thành viên cùng nhóm, trên chương trình Running Man vào tháng 7 năm 2018.[48] Đoạn video cô khóc khi vào nhà ma cùng với Lee Kwang-soo trở nên phổ biến tại Hàn Quốc, có hơn 1 triệu lượt xem trên các trang thông tin và tổng cộng 3 triệu lượt xem trên các trang VODMXH. Cô được chọn là một trong những ngôi sao của chương trình thực tế tốt nhất năm 2018 được phát hiện bởi Running Man.[49] Sau đó, cô được chương trình mời lại sau khi đạt được nhiều sự chú ý cho lần xuất hiện lần trước.[50][51] Jennie được xếp hàng đầu tiên giữa các lựa chọn casting và nhận được nhiều đề xuất của các nhà đài cho các chương trình tạp kỉ.[52][53] Vào ngày 1 tháng 10, Jennie được xác nhận sẽ trở thành thành viên chính thức của cho chương trình tạp kỹ mới "Village Survival, the Eight" của SBS. Điều này đánh dấu lần đầu tiên casting của cô cho một seris truyền hình.[54]

Vào giữa tháng 10 năm 2018, một thông báo về Jennie sẽ chính thức ra mắt solo đã được đưa ra.[55] Sau một loạt teaser, nó đã tiết lộ rằng cô sẽ phát hành một single album với tựa đề là Solo với đĩa đơn cùng tên. Giữa lúc chuẩn bị ra mắt, đã được quyết định rằng single của cô "Solo" sẽ lần đầu tiên tiết lộ thông qua tour diễn In Your Area của Blackpink vào ngày 10 tháng 11 trước ngày phát hành chính thức 2 ngày.[56] Jennie giải thích làm thế nào "Solo" trở thành bài hát trong lần ra mắt của cô thông qua buổi họp báo vào ngày 12 tháng 11, cô nói rằng: "Khi tôi ở phòng thu của Teddy, anh ấy sẽ sáng tác một bài hát và tôi chỉ cần thu âm cho nó. Không phải là anh ấy đang làm việc trên một bài hát solo cho tôi. Anh ấy chỉ nói: 'Anh có một bài hát mới này, hãy thử nó đi'. Vì vậy, tôi đã thu âm bài hát đó của anh ấy, và nó rất phù hợp"[57]. Bài hát được mô tả là một ca khúc hip hop với các yếu tố pop, được tạo ra để thể hiện cá tính bên trong lẫn bên ngoài của Jennie, trong khi ở trong con người cô là một "cô gái mong manh" còn bên ngoài là một "người phụ nữ độc lập".[58]

Sau khi phát hành, ở trong nước single "Solo" của cô ra mắt ở vị trí thứ nhất trên Gaon Music Chart và đứng đầu cả ba bảng xếp hạng digital, download và streaming. Đĩa đơn trụ vững trên bảng xếp hạng kỹ thuật số trong 2 tuần liên tiếp, trong khi bảng xếp hạng streaming trụ trong 3 tuần liên tiếp.[59][60] "Solo" đạt chứng nhận bạch kim từ KMCA và sau đó Jennie nhận được giải thưởng "Bài hát của năm – Tháng 11" tại lễ trao giải Gaon Chart Music lần thứ 8 và cũng như giải "Digital Bonsang" tại Golden Disc Awards lần thứ 34.[61] Ở quốc tế, cô đứng đầu bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard.[62][63] Đĩa đơn sau đó xuất hiện trong danh sách phát của New York Times.[64] "Solo" trở thành MV có nhiều lượt xem nhất bởi một nữ nghệ sĩ solo Hàn Quốc từ trước tới nay trong vòng 24 giờ phát hành.[65] Sau đó cô trở thành nghệ sĩ solo nữ Hàn Quốc đầu tiên và duy nhất có MV đạt 300 triệu lượt xem trên YouTube sau 6 tháng tháng phát hành.[66] Jennie xuất hiện lần đầu với tư cách là nghệ sĩ trên Inkigayo của SBS và Show!Music Core của MBC đã bị hoãn lại vì các đài truyền hình đã hủy tất cả các buổi biểu diễn dự kiến ​​trong tuần đó, vì vậy YG đã đăng tải video vũ đạo của "Solo" để bù đắp cho fan.[67] Song song với việc quảng bá, YG phát hành Jennie – ‘Solo’ Diary trên YouTube, chia sẻ những thước phim về hành trình quảng bá của cô.[68] Vào ngày 25 tháng 11, Jennie giành chiến thằng đầu tiên của cô trong một chương trình âm nhạc với tư cách là nghệ sĩ solo trên Inkigayo.[69]

Vào tháng 4 năm 2019, cô trở thành nghệ sĩ solo đầu tiên của Hàn Quốc trình diễn tại Coachella. Màn trình diễn của cô được xếp vào danh sách "The 10 Best Things We Saw at Coachella 2019", Billboard mô tả đây là buổi biểu diễn "gây sốc" và "tuyệt đẹp" cho người hâm mộ và người bình thường.[70][71]

Hoạt động khác

Sự chứng nhận

Jennie được chọn là người mẫu mới cho Chanel Korea Beauty và những bức ảnh đầu tiên của cô cho hãng xuất hiện trên Harper’s Bazzar Korea với tư cách là nàng thơ mới của họ vào tháng 1 năm 2018.[72][73] Jennie trở thành đại sứ thương hiệu của Chanel Korea vào tháng 6. Người phát ngôn của Chanel Korea giải thích rằng sự trung thành của Jennie đối với thương hiệu cũng như phong cách thời trang của cô phù hợp với hình ảnh của Chanel, khi mục tiêu của họ đang nhắm tới hiện nay là thế hệ trẻ và sành điệu bên cạnh những khác hàng tiêu dùng hiện tại.[74] Jennie tham dự buổi ra mắt nước hoa mới của Chanel "Les Eaux De Chanel" tại Deauville, Pháp, trong cùng tháng đó. Cô có buổi gặp gỡ và phỏng vấn nhà sáng tạo nước hoa của Chanel, Olivier Polge và có những bức ảnh cho bộ sưu tập nước hoa mới của ông với Cosmopolitan Korea.[75][76] Vào tháng 10, cô trở thành Đại sứ thương hiệu toàn cầu cho thương hiệu thời trang đến từ Pháp, cùng với đồng nghiệp cùng công ty G-Dragon. Cô tham dự show thời trang đầu tiên của Chanel với tư cách là một đại diện của Hàn Quốc trong Paris Fashion Week, ngồi tại vị trí hàng ghế trước bên cạnh Pharrell WilliamsPamela Anderson.[77]

Hera, một thương hiệu làm đẹp cao cấp của Hàn Quốc có thông báo vào tháng 1 năm 2019 rằng họ đã chọn Jennie trở thành người mẫu mới của hãng do hình ảnh "thanh lịch và sang trọng" của cô. Cô là người đại diện của hãng bên cạnh nữ diễn viên Jun Ji-hyun, bởi vì công ty đã đặt mục tiêu mở rộng đối tương người tiêu dùng thông qua cả hai người mẫu.[78][79] Quảng cáo đầu tiên của Jennie cho nhãn hàng được phát hành vào tháng 2 cho series son Red Vibe, doanh số tăng hơn 5 lần so với sản phẩm son trước đó của Hera và do sự phổ biến ngày càng tăng họ công nhận nó như là "Son môi của Jennie".[80]

KT Corporation, công ty viễn thông lớn nhất Hàn Quốc đã mời Jennie trở thành người đại diện cùng với Soojoo quảng cáo cho Samsung Galaxy S20 Aura Red và Blue tương úng vào tháng 2 năm 2020. Cho mục đích marketing, sản phẩm đã được gọi là "Jennie Red", tương tự như campaign trước đó của Samsung Galaxy Note 10 Aure Red, "Dainel Red".[81] Điện thoại được ra mắt dành riêng cho khách hàng KT tại Hàn Quốc.[82] Vào ngày 11 tháng 6 năm 2020, Lotte Confectionery thông báo rằng Jennie sẽ trở thành đại diện mới của hãng cho sản phẩm snack mới nhất, Air Baked. Một người đại diện tiết lộ họ tin rằng Jennie được coi là một mẫu người hợp thời trang trong đối tượng mục tiêu khách hàng của họ là đối tượng nữ ở độ tuổi 20-30 cho sản phẩm mới này.[83]

Phong cách nghệ thuật

Ảnh hưởng

Khi Jennie lần đầu tiên bắt đầu học rap, cô đã học theo những nghệ sĩ như Lauryn HilTLC, những người mà cô ấy hâm mộ và tôn trọng.[84] Jennie đã tiết lộ rằng Rihanna chính là người đã truyền cảm hứng cho cô và là hình mẫu lí tưởng của cô.[85]

Jennie bắt đầu đọc những cuốn tạp chí về thời trang và có những cái nhìn khác nhau về cách ăn mặc kể từ khi cô còn bé.[86] Hứng thú thời trang của cô là ảnh hưởng từ mẹ. Jennie nói rằng Chanel là một phần của cuộc đời cô từ khi còn nhỏ và vẫn còn nhớ như in ký ức đầu tiên của mình với nhãn hiệu thời trang đắt đỏ này. Cô chia sẻ với Elle Indonesia: "Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ, tôi nhìn qua tủ quần áo của mẹ tôi và mặc bất cứ bộ Chanel vintage nào tôi có thể tìm thấy".[87]

Thời trang và giọng hát

Để chuẩn bị cho màn ra mắt solo của mình, cô tham gia vào việc lựa chọn trang phục, ý tưởng và vũ đạo.[88] Jennie đã mặc tổng cộng hơn 20 bộ đồ trong MV "Solo". Cô nhớ lại trong buổi phòng vấn với Billboard rằng trong suốt quá trình đó cô nghĩ về các trang phục có phù hợp với bài hát hay không và cô có thể làm nó trở nên khác biệt hay không, điều đó giúp cô học được nhiều điều để tiếp cận với nền thời trang.[89][90] Huấn luyện viên thanh nhạc Shin Yoo-Mi, người đã làm việc cùng với Blackpink trong 6 năm đến khi họ ra mắt, đã hướng dẫn Jennie trong quá trình cô chuẩn bị cho ra mắt solo. Trong phỏng vấn, cô mô tả Jennie là một người đa năng khi có thể hát, rapviết lời.[91]

Hình ảnh trước công chúng

Jennie là người đại diện cho hình ảnh thời trang của Blackpink. Jennie được gọi với nhiều nickname như "Human Gucci" và "Human Chanel".[92] Các hãng thời trang cô sử dụng từ xa xỉ như GucciSaint Laurent đến các hãng bình dân như Marine SerreRichard Quinn.[93] Jennie nhanh chóng nhận được sự chú ý bởi gu thời trang tuyệt vời của mình và cô được mời đến một số sự kiện thời trang như "Summer 17 Collection Launch Party" của Saint Lauren,[94] buổi triển lãm "Mademoiselle Privé" của Chanel,[95] "Comics Collection Launch Party" của Prada.[96] House of Chanel chọn cô trở thành "House Ambassador" sau khi nhận thấy những ảnh hưởng mà cô tạo ra.[92] Cô được biết đến là một người có sức ảnh hướng về nền thời trang khi các bức ảnh của cô đăng tải lên mạng xã hội nhanh chóng được viết thành báo và những món đồ cô diện lên đều nhanh chóng trở thành xu hướng.[97] Vào lúc quảng bá cho single solo đầu tay Solo, Jennie đã đeo nhiều kẹp tóc khác nhau trên các sân khấu với kiểu tóc 5:5. Các kẹp tóc đã nhanh chóng trở thành một xu hướng và được biết đến như "Kẹp tóc của Jennie" do độ phố biển của món đồ này càng gia tăng.[98][99][100]

Jennie có lần đầu tiên trở thành người đại diện của Dazed Korea và Saint Lauren vào tháng 4 năm 2017.[101] Jennie cũng trở thành người nổi tiếng Hàn Quốc đầu tiên làm người mẫu cho Boucheron, một thương hiệu trang sức cao cấp với 160 năm tuổi. Có người nói rằng Jennie đã tạo ra một bầu không gian "thanh lịch" và "sang trọng" điều đó đã khiến cho người xem chuyển tất cả trọng tâm của Boucheron lên những tấm hình họa báo kia. Bức hình được giới thiệu trên tạp chí Heren vào năm 2017 và cô được gọi là "hiện thân của ánh sáng nghệ thuật".[102] Cô bắt đầu xuất hiện trên trang bìa của các tạp chí như Dazed, Harper’s Bazaar, Elle, Marie Clarie, High Cut, W, CosmopolitanBillboard.[cần dẫn nguồn]

Jennie có một vẻ ngoài sang trọng và mạnh mẽ khi trên sân khấu không thể dễ dàng tiếp cận, nhưng khi bước xuống sân khấu, cô có một tính cách dễ thương và nét quyến rũ làm say đắm cả nam và nữ.[103] Jennie mô tả bản thân mình là một người "trầm tính" và "nhút nhát", nhất là xung quanh toàn người lạ. "Có thể những gì họ thường nghĩ về mình là đúng, nhưng mình muốn trở thành người mà bản thân mình nghĩ là tốt, thay vì những gì người khác nghĩ", cô đã chia sẻ trong phỏng vấn với Harper’s Bazaar khi được hỏi về tính cách của cô.[104] Nhà sản xuất của Village Survival, the Eight Jung Chul-mi nhận xét Jennie: "Đối lập với những nét quyến rũ mà em ấy thể hiện trên sân khấu, Jennie là một cô bé nhút nhát, nữ tính và giống như một đứa trẻ. Bởi vì Jennie càng trở nên thoải mái sau mỗi tập, em ấy đã tạo ra rất nhiều niềm vui và cũng tận hưởng nhiều hơn. Các thành viên cũng rất yêu quý cô bé Jennie ngây ngô này. Em ấy sẽ càng trở nên hài hước trong các tập tiếp theo".[105]

Tác động và ảnh hưởng

Cô nổi tiếng với khả năng nhận diện thương hiệu và tiếp thị, đứng đầu bảng xếp hạng độ phổ biến "Individual Girl Group Members Brand Power Ranking" nhiều lần liên tiếp.[106] Dữ liệu được phân tích và công bố hàng tháng bởi Viện nghiên cứu kinh doanh Hàn Quốc để chứng minh tầm ảnh hưởng của người nổi tiếng đối với người tiêu dùng.[107] Năm 2018, cô được xếp thứ 2 chiếm 12,2% tổng số lượt bình chọn trong cuộc khảo sát Most Favorite Idols do Gallup Korea thực hiện vào hàng năm, bao gồm 1,501 nam và nữ người Hàn Quốc đến từ độ tuổi 13-29.[108][109] Instagram trao tặng cô giải "Most Loved Account of 2018" tại Hàn Quốc, dựa trên số lượng người xem và yêu thích trong các bài đăng trên Instagram được cô chia sẻ vào năm đó.[110][111]

Forbes công nhận những đóng góp của Jennie trong việc "đạt được chỗ đứng mới trong xu hướng làm đẹp tại Hàn Quốc", đó cũng là một trong những lý do do mà Blackpink đã đứng đầu trong danh sách Korean Power Celebrity của Forbes vào tháng 4 năm 2019.[112] Cô cũng xếp vị trí thứ nhất trong "Top 50 Google Worldwide Most Searched K-pop Female Idol 2019 Mid-Year Chart", được phát hành vào tháng 8 năm 2019 bởi Google.[113] Cùng năm đó, Jennie được xếp hạng là nữ thần tượng Kpop nổi tiếng thứ bảy trong một cuộc khảo sát về những người lính làm nghĩa vụ quân sự bắt buộc ở Hàn Quốc.[114]

Đời tư

Vào ngày 1 tháng 1 năm 2019, Dispatch tung bằng chứng Jennie và Kai (EXO) xác nhận đang trong mối quan hệ tình cảm. Công ty chủ quản của Kai là SM Entertainment đã lên tiếng xác nhận cả hai đang hẹn hò. Đến cuối ngày hôm đó, công ty chủ quản của Jennie là YG Entertainment cũng đã lên tiếng xác nhận bằng lời đồng ý với công ty SM[115]. Vào ngày 25 tháng 1 năm 2019 cặp đôi đã được SM Entertainment xác nhận là đã chia tay để tập trung vào công việc.

Chương trình

Chương trình thực tế

Năm Kênh Tên Thành viên
2018 Youtube BLACKPINK HOUSE Với BLACKPINK
Vlive
JTBC2
Olleh TV
2019 Youtube 'SOLO' DIARY
Vlive
Youtube Blackpink Diaries Với BLACKPINK
Vlive

Chương trình truyền hình

Năm Kênh Tên Vai trò Ngày phát sóng Ghi chú
2016 MBC Every 1 Weekly Idol Khách mời 16 tháng 11 Tập 227 (với Black Pink)
SBS Running Man 18 tháng 12 Tập 330 (với Black Pink)
2017 Onstyle Get It Beauty 26 tháng 2 Tập 2 (với Black Pink)
MBC My Little Television 20 tháng 5 - 27 tháng 5 Tập 98-99 (với Black Pink)
MBC Every 1 Weekly Idol 5 tháng 7 Tập 310 (với Black Pink)
JTBC Knowing Bros 5 tháng 8 Tập 87 (với Black Pink)
SBS JYP's Party People 13 tháng 8 Tập 4 (với BLACKPINKJung Yong-hwa)
2018 JTBC Idol Room 23 tháng 6 Tập 7 (với Black Pink)
SBS Running Man 15 tháng 7 Tập 409 (với Jisoo)
My Ugly Duckling 22 tháng 7 với BLACKPINKSeungri (BigBang)
Michuri 8-1000 Thành viên cố định 16 tháng 11 [116]
2019 JTBC YG Treasure Box Giám khảo 7 - 14 tháng 12 Tập 4 - 5 (với BLACKPINK)
Stage K 2 tháng 6 Tập 8 (với BLACKPINK)

Danh sách phim

Phim tài liệu

Năm Kênh Tên Ghi chú
2006 MBC MBC Special Documentary Lúc này Jennie đang 10 tuổi, học tập cũng như sinh sống tại New Zealand

Phim truyền hình

Năm Kênh Tên Vai trò Ghi chú
2018 Netflix YG Future Strategy Office Khách mời Tập 1 (với BLACKPINK)

Video âm nhạc

Năm Ngày phát hành Tựa đề Vai trò Đạo diễn Tham khảo
2012 31 tháng 8 "That XX" Chính mình Han Sa-min [117]
2018 12 tháng 11 "SOLO" Chính mình Han Sa-min [118]

Danh sách đĩa nhạc

Giải thưởng và đề cử

Năm Lễ trao giải Hạng mục Đề cử cho Kết quả Nguồn
2018 12th SBS Entertainment Awards Rookie Award (Female) Running Man,
Village Survival, the Eight
Đề cử [119]
Scene Stealer Award Đề cử [120]
2019 8th Gaon Chart Music Awards Song of the Year – November "Solo" Đoạt giải [121]
2nd M2 X Genie Music Awards The Female Solo Không có Đề cử [122]
21st Mnet Asian Music Awards Best Female Artist Đề cử [123]
Artist of the Year Đề cử
Best Dance Performance "Solo" Đề cử
2020 34th Golden Disc Awards Digital Bonsang Đoạt giải [124]

Chương trình âm nhạc

Inkigayo

Năm Ngày Bài hát Điểm
2018 25 tháng 11 "Solo" 10002
2 tháng 12 9719
16 tháng 12 7113

Tham khảo

  1. ^ Herman, Tamar (22 tháng 10 năm 2018). “BLACKPINK Sign With Interscope Records & UMG in Global Partnership With YG Entertainment: Exclusive”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018. 
  2. ^ Hui-ling, Chew (28 tháng 9 năm 2016). Teo, Johanna, biên tập. “The Breakout Kids”. Teenage Magazine (Singapore: Key Editions Pte Ltd) (334): 48–49. ISSN 0219-9645. OCLC 224927719. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016. 
  3. ^ “[블랙핑크 VS 투애니원③] 블랙핑크는 누구?”. Donga (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2018. 
  4. ^ Son Min-ji (23 tháng 6 năm 2017). “[아이돌 고향을 찾아서①] 우리 고향 아이돌 누가 있을까”. Sports Khan (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2018. 
  5. ^ “The Reason Koreans Say "Whoa" by Hearing "Jennie Was Born in Cheongdam-dong". JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). 17 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019. 
  6. ^ a ă “[V LIVE] 젠득타임🖤”. V Live (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2019. 
  7. ^ “BLACKPINK JENNIE As A 10-Year-Old In New Zealand Caught On MBC's Documentary”. JoongAng Ilbo (bằng tiếng ko-KR). 29 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018. 
  8. ^ “[V LIVE] BLACKPINK 블랙핑크 'Star Road' EP.14”. V Live (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2019. 
  9. ^ a ă “블랙핑크 "연습생 5년, 독기 품고 버텼다"(인터뷰②)”. 텐아시아 (bằng tiếng Hàn). 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  10. ^ “엘르 최초 K팝 그룹 단체 커버의 주인공 블랙핑크”. ELLE Korea (bằng tiếng Hàn). 5 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2019. 
  11. ^ “[V LIVE] 젠드기지쳤어요..|” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018. 
  12. ^ “[화보S] 블랙핑크 "팬들 덕분에 낯가림 극복했다". SPOTVNEWS (bằng tiếng Hàn). 6 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019. 
  13. ^ “BLACKPINK Talks "Kill This Love", Coachella & How They Formed”. Omny Studio. Zach Sang Show. 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2019. 
  14. ^ “Jennie Black Pink Ungkap Alasan Lucu Kenapa Ia Pilih Jadi Rapper daripada Penyanyi”. WowKeren (bằng tiếng Indonesia). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2019. 
  15. ^ “[V LIVE] Calling for all dog experts”. V Live (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2019. 
  16. ^ “YG 미스테리걸 등장, 눈에 띄는 미모 新걸그룹 멤버(?)”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2019. 
  17. ^ “YG후즈댓걸 사진 속 소녀, "진짜 저 여자애 누구?”. 중앙일보 (bằng tiếng Hàn). 11 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  18. ^ “YG, 의문의 미소녀 미스테리걸 공개 '후즈댓걸?'. 스포츠조선 (bằng tiếng Hàn). 10 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  19. ^ “YG 새 걸그룹 미스테리걸, 신상 단독 공개!”. OSEN (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  20. ^ “YG라이프 후즈댓걸, 김은비-유나킴 새 걸그룹 멤버설…이국적 미모 ‘화제’”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  21. ^ “YG 새 걸그룹 미스테리걸 합류? '궁금증↑'. OSEN (bằng tiếng Hàn). 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  22. ^ “YG Trainee – 김제니 (JENNIE KIM)”. YG LIFE (bằng tiếng ko-KR). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2019. 
  23. ^ '전격 공개' YG 김제니, 앙증맞은 얼굴에 '랩 작렬'. OSEN (bằng tiếng Hàn). 30 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  24. ^ “YG 김제니, 베일 벗었다..미모·랩 실력 `출중`”. 이데일리 (bằng tiếng Hàn). 30 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  25. ^ “YG새걸그룹' 김제니, GD 뮤비 여주인공 전격발탁”. 스타뉴스 (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  26. ^ “YG 신인 김제니, 지드래곤 뮤비 주인공 꿰차”. 이데일리 (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  27. ^ “가요계, `낭랑 18세`는 옛말..조기교육 `붐`”. 이데일리 (bằng tiếng Hàn). 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  28. ^ “YG 新걸그룹, 가요계 정식 데뷔 '내년 1월' 확정”. 스타뉴스 (bằng tiếng Hàn). 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  29. ^ “YG 새걸그룹, 김제니 2번째 멤버 공개..영·일어 능통”. 스타뉴스 (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019. 
  30. ^ “YG걸그룹 2번째 멤버 김제니 공개…음악성·청초한 외모 겸비”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019. 
  31. ^ “YG새걸그룹 3번째 멤버, 24일 사진찍었다..누구?”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019. 
  32. ^ “YG 새 걸그룹 김제니, 이하이 첫 솔로앨범 참여 '눈길'. 이데일리 (bằng tiếng Hàn). 4 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2019. 
  33. ^ “양현석, "새 걸그룹은 10월 데뷔. 김은비 포함 6인조". 스포츠조선 (bằng tiếng Hàn). 19 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  34. ^ “YG "새 걸그룹, 10월 데뷔..유나킴 제외 현재 6명". 스타뉴스 (bằng tiếng Hàn). 19 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  35. ^ OSEN (19 tháng 6 năm 2013). “양현석 "YG 새 걸그룹, 10월 솔로부터..유나킴 제외". mosen.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  36. ^ “승리, 솔로 앨범 베일 벗었다..`작사-작곡-프로듀싱 참여`”. YG LIFE (bằng tiếng ko-KR). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2019. 
  37. ^ a ă “[REPLAY] 블링크 재우고 떠날꺼에요 자러들 오세요”. V LIVE (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019. 
  38. ^ “The Making of G-Dragon's "Coup D'Etat" "Black" feat. Jennie Kim”. Complex (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019. 
  39. ^ “YG’s newbie Jennie Kim makes surprise appearance on Inkigayo with G-DRAGON”. YG LIFE (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2019. 
  40. ^ “지드래곤, SBS '인기가요' 컴백…'YG 히든카드' 제니와 출격”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  41. ^ “블랙핑크, 지난 6년의 데뷔사”. ize (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019. 
  42. ^ “YG 걸그룹, 첫 멤버 제니 공개..실력+비주얼 다 갖췄다”. OSEN (bằng tiếng Hàn). 1 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2019. 
  43. ^ “Blackpink's Major Debut: New K-Pop Girl Group Lands No. 1 & 2 on World Digital Songs Chart”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2019. 
  44. ^ “[Y기획②]멤버를 알면 '진짜' 블랙핑크가 보인다”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  45. ^ “Artist channel”. Melon. 
  46. ^ “8月日本デビューのBLACKPINKがmini初登場!”. 宝島オンライン (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019. 
  47. ^ “블랙핑크의 순간들”. 나일론 (bằng tiếng Hàn). 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019. 
  48. ^ “일야화] '런닝맨' 제니 입덕 방송, 이 세상 귀여움이 아니다”. xsportsnews (bằng tiếng ko-KOR). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2020. 
  49. ^ '런닝맨' 재출연 블랙핑크 제니, 또 한 번의 '레전드 예고'. Sports Chosun (bằng tiếng ko-KOR). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2020. 
  50. ^ “[어저께TV] '런닝맨' 제니, 허세와 눈물로 탄생한 역대급 예쁜 꽝손(feat. 실검 1위)”. OSEN (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2019. 
  51. ^ “블랙핑크 제니 효과? ‘런닝맨’, 버즈량 1위”. 한국스포츠경제 (bằng tiếng Hàn). 17 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2019. 
  52. ^ “[단독]블랙핑크 제니, 유재석, 새 예능 합류”. 중앙일보 (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019. 
  53. ^ “‘아이린, 나연, 제니’ 예뻐도 너무 예뻐!”. 앳스타일 (bằng tiếng Hàn). 24 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2019. 
  54. ^ 신혜연 (1 tháng 10 năm 2018). “유재석-손담비-송강-제니, SBS 새 예능 '미추리' 출연 확정”. 스포츠서울. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2019. 
  55. ^ “블랙핑크 제니, 첫 솔로곡명은 'SOLO'..테디와 의기투합[공식입장]”. Osen. 27 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2018. 
  56. ^ “YG, 제니 솔로곡 블랙핑크 콘서트서 최초 공개 결정[공식입장]”. Osen. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  57. ^ “연습생 6년+블핑 2년→제니 ‘솔로’, 노력은 배신하지 않는다 (종합)”. Bnt News (bằng tiếng Anh). 12 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2020. 
  58. ^ “제니, 솔로 데뷔 임박‥오늘(5일) 'SOLO 포토북' 예약판매 시작[공식]”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019. 
  59. ^ “제니(JENNIE)-Wanna One (워너원,) 가온차트 47주차 2관왕 차지” (bằng tiếng Hàn). Naver. 29 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2019. 
  60. ^ "음원 올킬→가온차트 1위"…송민호X제니, 솔로로 완성한 'YG 시너지' [종합]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019. 
  61. ^ “[2020 골든디스크] 청하X블랙핑크 제니, 본상 수상 '솔로퀸 활약'. n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). 4 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2020. 
  62. ^ “BLACKPINK's Jennie Rises 'Solo' to No. 1 on World Digital Song Sales Chart”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2019. 
  63. ^ “블랙핑크 제니, 3일만에 '솔로'로 세운 大기록들(종합)[Oh!쎈 이슈]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019. 
  64. ^ Pareles, Jon; Caramanica, Jon; Russonello, Giovanni (16 tháng 11 năm 2018). “The Playlist: Mariah Carey Issues a Warning, and 12 More New Songs”. The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019. 
  65. ^ “Black Pink's Jennie sets records with 'Solo' videos”. kpopherald. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2018. 
  66. ^ “제니 '솔로' 뮤비 3억뷰 돌파…"한국 여성솔로 최초". Yonhap News Agency. 14 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2019. 
  67. ^ “제니 "'SOLO' 첫 방송은 일주일 후"..코레오 얼터니트 버전 추가 공개”. OSEN. 17 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2020. 
  68. ^ “제니 'SOLO' 다이어리 공개…英 런던 MV 촬영 엿보기”. Sports Chosun. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2020. 
  69. ^ “제니, 14일 정상 붙박이→'인기가요' 1위까지..'SOLO' 꽃길ing(종합)[Oh!쎈 이슈]”. Osen. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018. 
  70. ^ “The 10 Best Things We Saw at Coachella 2019”. Billboard. 15 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019. 
  71. ^ “BLACKPINK's Coachella Performance Was a Major Moment”. PAPER (bằng tiếng Anh). 13 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2019. 
  72. ^ “Jennie's Era”. Harper's BAZAAR Korea (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019. 
  73. ^ “제니, 팔색조 매력의 메이크업 화보 공개 "기분따라 화장도 다르게 하는 편". Sports Khan (bằng tiếng Hàn). 19 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019. 
  74. ^ Ahn Sung-mi (4 tháng 1 năm 2019). “Why Chanel loves Jennie of Blackpink”. K-Pop Herald. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 
  75. ^ “Jennie transformed into a beauty editor (!)”. Cosmopolitan Korea (bằng tiếng Hàn). 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019. 
  76. ^ '인간 샤넬' 에서 진짜 샤넬 모델 된 '분위기 여신' 블랙 핑크 제니 브 래피”. Insight Korea (bằng tiếng Hàn). 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  77. ^ “인간 명품'으로 등극한 스타 3 | 엘르코리아”. ELLE Korea (bằng tiếng Hàn). 8 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019. 
  78. ^ “블랙핑크 제니, 전지현과 나란히 '헤라' 모델 됐다”. Naver News (bằng tiếng Hàn). 14 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2019. 
  79. ^ “아모레가 헤라 모델로 전지현과 제니를 '투톱'으로 세운 까닭”. 더스쿠프 (bằng tiếng Hàn). 1 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019. 
  80. ^ 김하경 (14 tháng 4 năm 2019). “쁘띠샤넬·제니립스틱…애칭 생기니 떴죠 – 매일경제”. Maekyung (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2019. 
  81. ^ “강다니엘 이어 이번엔 '제니 레드'…KT, 갤S20 레드 단독 출시”. News1 (bằng tiếng Hàn). 18 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2020. 
  82. ^ “‘갤럭시 S20+’ 광고도 대히트”. Herald Corp (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2020. 
  83. ^ “롯데제과, 공기로 구운 스낵 '에어 베이크드' 출시”. eDaily (bằng tiếng Hàn). 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2020. 
  84. ^ “Inside Blackpink's U.S. Takeover: How the K-Pop Queens Are Changing the Game”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2019. 
  85. ^ “Jennie from Blackpink – New Zealand-raised K-pop singer who, like any good Cub Scout, just wants to do her best” (bằng tiếng Anh). South China Morning Post. 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2018. 
  86. ^ “‘한밤’ 지수, 블랙핑크가 뽑은 얼굴천재... 제니는 여자지디[종합]”. Naver (bằng tiếng Hàn). 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2019. 
  87. ^ “Jennie 'Blackpink' Kim Ungkap Memori Masa Kecil Bersama Chanel”. Elle Indonesia. 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019. 
  88. ^ “블랙핑크 제니 'SOLO', 100% 맞춤옷 입고 비상 할까 (종합)”. Sports Donga (bằng tiếng Hàn). 12 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2019. 
  89. ^ “10 Things You Learn Hanging Out With Blackpink: More From the Group's Billboard Cover Story”. Billboard. 1 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019. 
  90. ^ “All The Outfits Worn By Blackpink's Jennie For Her 'Solo' Debut MV”. E! Online (bằng tiếng Anh). 20 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2019. 
  91. ^ “보컬트레이너 신유미 "프듀 김재환, 가장 눈에 띄는 노래 실력 가져". 서울경제 (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2019. 
  92. ^ a ă “[글로벌 인플루언서] ② 블랙핑크, 아이돌 아닌 K팝 명품 브랜드”. 오피니언뉴스 (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2019. 
  93. ^ “Jennie From Blackpink is the K-Pop Style Icon You Should Know”. Vogue Hong Kong (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2019. 
  94. ^ “[사진]블랙핑크 제니,'신이 내린 보디라인'. Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2019. 
  95. ^ “블랙핑크 제니 '도도한 미모가 그야말로 명품' [포토 종합]”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2019. 
  96. ^ “[포토] 블랙핑크 제니, '머리만 넘겨도 화보'. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2019. 
  97. ^ “요즘 완판 스타의 법칙”. www.thesingle.co.kr (bằng tiếng Hàn). 8 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  98. ^ “핫한 여자 아이돌이 착용해 ‘인싸’는 다 따라 했던 유행 아이템 6”. 인사이트 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019. 
  99. ^ “Trendy! 5 Gaya Rambut dengan Hair Pin ala Jennie BLACKPINK!”. Cosmopolitan Indonesia. 22 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2019. 
  100. ^ “기상캐스터 정주희, 걸그룹 센터급 비주얼 ‘시선 집중’”. 뉴스컬처 (bằng tiếng Hàn). 25 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2019. 
  101. ^ “블랙핑크 제니 첫 단독 화보 "봄 맞아 꼭 팬들과 만나고 싶다”. Sports Khan (bằng tiếng Hàn). 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2019. 
  102. ^ “럭셔리&우아" 블랙핑크 제니. 新 화보 여신의 탄생 예감”. Xports News (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2019. 
  103. ^ “포스 뿜뿜 ‘냉미녀 스타’ 헤어&메이크업 분석”. Hankyung. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2019. 
  104. ^ “제니의 시대 | 하퍼스 바자 코리아 (Harper's BAZAAR Korea)”. Haper's Bazzar (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019. 
  105. ^ “미추리’ PD "NO각본·리더 유재석·막내 제니, 앞으로 더 재미있어져" [직격인터뷰]”. OSEN (bằng tiếng Hàn). 17 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019. 
  106. ^ “블랙핑크 제니, 6월 브랜드평판 男女 1위! '6개월 연속 아이돌 NO.1'. MBC 연예 (bằng tiếng Hàn). 18 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019. 
  107. ^ “[브랜드평판] 걸그룹 개인 브랜드 2019년 4월 빅데이터 분석결과... 1위 블랙핑크 제니, 2위 아이즈원 장원영, 3위 아이즈원 안유진”. Rekorea (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  108. ^ “2018년 올해를 빛낸 가수와 가요 – 최근 12년간 추이 포함”. Gallup Korea (bằng tiếng Hàn). 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2018. 
  109. ^ “2018년 올해를 빛낸 가수와 가요 – 최근 12년간 추이 포함”. Gallup Korea Blog (bằng tiếng Hàn). 18 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2018. 
  110. ^ “인스타그램, 2018년을 빛낸 스타 기념 '인스타그램 어워드' 발표”. iSTYLE24 (bằng tiếng Hàn). 12 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2018. 
  111. ^ '2018 인스타그램 어워드' 지드래곤, 가장 많은 팔로워 1위…보이그룹 1위 방탄소년단”. Naver News (bằng tiếng Hàn). 20 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2018. 
  112. ^ “파워 셀러브리티 부문별 TOP10”. 중앙시사매거진 (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2019. 
  113. ^ “블랙핑크 제니, 구글 '전세계에서 가장 많이 검색된 K팝 여성 아이돌' 1위”. Hankyung (bằng tiếng Hàn). 28 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2019. 
  114. ^ “Sana de Twice es elegida la cantante más popular por los soldados de Corea del Sur”. La República (bằng tiếng Tây Ban Nha). 10 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2020. 
  115. ^ “YG xác nhận tin hẹn hò của Jennie và Kai”. 
  116. ^ “유재석→제니 ‘미추리’ 11월 9일 첫 방송…미스터리스릴러 예능 [공식]”. Sports Donga (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2018. 
  117. ^ “8 songs BLACKPINK appeared on before debut”. SBS TV. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2018. 
  118. ^ “제니, ‘SOLO’ MV 메이킹 공개 "블랙핑크에서 보지 못했던 다른 자아". YG Life. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2018. 
  119. ^ “이승기, 'SBS 연예대상' 대상 수상 "제 능력으로 받은 것 아냐" [종합]”. Star News (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2018. 
  120. ^ '가로채널'·'미우새' 승리, 신스틸러상 수상 [SBS연예대상]”. mydaily (bằng tiếng Hàn). 28 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2018. 
  121. ^ “[2019 가온차트]디지털 베스트 11월, 제니 '솔로'. News1 (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2019. 
  122. ^ Roh, Jung-Myung (20 tháng 6 năm 2019). “2019 MGMA 방탄소년단vs엑소 실시간 순위 결과는? 지니뮤직어워드 티켓 예매”. Gyotongn (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 
  123. ^ Gaea Katreena Cabico (25 tháng 10 năm 2019). “LIST: Official nominees for 2019 MAMA”. The Philippine Star. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2019. 
  124. ^ “[2020 골든디스크] 청하X블랙핑크 제니, 본상 수상 '솔로퀸 활약'. n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). 4 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2020. 

Liên kết ngoài