Jennie Kim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Jennie Kim
170621 샤넬 3P (1).jpg
Jennie tại Mademoiselle Privé Chanel Event 2017
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Kim Jennie
Nghệ danh Jennie
Sinh 16 tháng 1 năm 1996 (22 tuổi)
Thể loại K-pop
Nghề nghiệp Ca sĩ, rapper
Năm hoạt động 2016-nay
Hãng đĩa YG Entertainment
Hợp tác với Black Pink
Chữ ký
Signature of Jennie.png

Jennie Kim (Tiếng Hàn: 제니김, Hán-Việt: Kim Trân Ni), thường được biết đến với nghệ danh Jennie (Hangul: 제니) là một nữ ca sĩ người Hàn Quốc. Thành viên nhóm nhạc nữ Black Pink[1] do YG Entertainment thành lập và quản lý.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Jennie sinh ngày 16 tháng 1 năm 1996 tại Anyang, Gyeonggi, Hàn Quốc.[2] Cô chuyển đến New Zealand sống khi còn rất nhỏ và học tại tiểu học Waikowhai với tư cách là một du học sinh trao đổi.[3]

Vào tháng 8 năm 2010, cô trở thành thực tập sinh của YG Entertainment.

Jennie thông thạo tiếng Hàn, tiếng Anhtiếng Nhật.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Jennie Kim đã xuất hiện trong MV That XX của G-Dragon với vai nữ chính. Ngoài ra, cô đã góp giọng trong Special của Lee Hi, GG Be của SeungriBlack của G-Dragon.[4]

2016: Ra mắt với Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Black Pink

Jennie được xác nhận là thành viên đầu tiên của Black Pink vào ngày 01 tháng 6 năm 2016.

Ngày 8 tháng 8 năm 2016, cô chính thức ra mắt với Black Pink trong 2 MV "Boombayah" và "Whistle". Cô đảm nhận vai trò rap chính và hát phụ của nhóm. Ngày 31 tháng 10 năm 2016, Jennie cùng với BLACKPINK đã trở lại với single Square Two gồm 2 bài hát "Playing With Fire" và "Stay" đạt nhiều thành tích và nhiều giải thưởng.

Vào lúc 18:00 (KST)ngày 22 tháng 6 năm 2017, cô cùng Black Pink chính thức tung ra ca khúc "As If It's Your Last" và MV cùng tên. Bài hát đã nhanh chóng trở thành MV đạt được nhiều lượt xem nhất trong vòng 24h đối với nhóm nhạc nữ với hơn 13 triệu views.

2018: Ra mắt Mini Album Square Up cùng Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Jennie Kim tiếp tục cùng Black Pink cho ra mắt Mini Album đầu tiên mang tên Square Up gồm bài hát chủ đề "Ddu Du Ddu Du" và 3 bài hát "Forever Young", "Really" và "See U Later"

Chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Thành viên
2018 Youtube BLACKPINK HOUSE Với BLACKPINK
Vlive
JTBC2
Olleh TV

Chương trình giải trí trên sóng truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Vai trò Ngày phát sóng Ghi Chú
2016 MBC Every 1 Weekly Idol Khách mời 16 tháng 11 Tập 227 ( với Black pink )
SBS Running Man Khách mời 18 tháng 12 Tập 330 ( với Black pink )
2017 MBC My Little Television Khách mời 20 tháng 5 - 27 tháng 5 Tập 98-99 ( với Black pink)
MBC Every 1 Weekly Idol Khách mời 5 tháng 7 Tập 310 ( với Black pink )
JTBC Knowing Bros Khách mời 5 tháng 8 Tập 87 (với Black pink )

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “BLACKPINK”. 
  2. ^ Hui-ling, Chew (28 tháng 9 năm 2016). Teo, Johanna, biên tập. “The Breakout Kids”. Teenage Magazine (Singapore: Key Editions Pte Ltd) (334): 48–49. ISSN 0219-9645. OCLC 224927719. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016. 
  3. ^ Mi-hyun, Lee (8 tháng 8 năm 2016). “[블랙핑크 데뷔②] 블랙핑크 입덕 준비 끝…괴물 신인 스포일러”. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). South Korea: JTBC Plus. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ http://www.blackpinkyg.com/2016/06/jennie-kim-profile.html

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]