Joan của Pháp, Nữ công tước của Berry

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Thánh Joan de Valois
St. Jeanne de Valois.jpg
và người sáng lập tôn giáo
Sinh23 tháng 4 năm 1464
Nogent-le-Roi, Bá quốc Dreux
Mất4 tháng 2 năm 1505 (40 tuổi)
Bourges, Công quốc Berry
Tôn kínhCông giáo La Mã
Chân phước18 tháng 6 năm 1742 bởi Giáo hoàng Benedict XIV, tại Rome, Lãnh địa Giáo hoàng
Tuyên thánh28 tháng 5 năm 1950 bởi Giáo hoàng Pius XII, tại thành phố Vatican
Lễ kínhngày 4 tháng 2
Biểu trưngNữ tu Annonciade, cùng cây thánh giá và chuỗi tràng hạt, bế bàn tay của Chúa Con đang cầm cái rổ, hoặc Nữ tu Annonciade với giỏ rõ chứa bánh mì và thịt, ngón tay được có chiếc nhẫn mà Chúa Con đeo cho
Quan thầy củaNữ sơ; người cầm bánh mì và rượu

Joan xứ Valois, Nữ Công tước xứ Berry (tiếng Pháp: Jeanne de Valois, Duchesse de Berry; 23 tháng 4 năm 1464 - 4 tháng 2 năm 1505), là một công chúa người Pháp, giữ tước vị độc lập Nữ Công tước xứ Berry và Công tước phu nhân của Orléans khi là vợ của Louis, Công tước Orléans. Sau khi Louis lên ngôi trở thành Louis XII, Joan cũng trở thành Vương hậu của Vương quốc Pháp với tư cách là vợ của Quốc vương, trong thời gian từ ngày 7 tháng 4 năm 1498 đến khi hủy hôn vào ngày 15 tháng 12 cùng năm.

Quốc vương Louis XII là người đã kế vị ngai vàng của dòng dõi Valois sau sự qua đời của em trai bà, Quốc vương Charles VIII. Sau khi hủy hôn, người em dâu từng nhậm vị khi trước bà là Anne của Brittany tiếp tục tái hôn với Vua Louis XII, trong khi Joan đã nghỉ hưu ở lãnh địa Berry của mình, nơi bà sớm thành lập dòng tu gọi là Nữ tu Truyền tin của Đức mẹ đồng trinh Mary và phục vụ với tư cách là Viện mẫu. Từ dòng này sau đó xuất hiện hội chứng tôn giáo của các Nữ tu truyền giáo, được thành lập năm 1787 để giáo dục và dạy dỗ con cái của người nghèo. Bà được phong thánh vào ngày 28 tháng 5 năm 1950 và được biết đến trong Giáo hội Công giáo La MãThánh Joan de Valois, O.Ann.M[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Joan xứ Valois sinh ra ở Nogent-le-Roi, Bá quốc Dreux, tại Lâu đài của Pierre de Brézé, một cận thần trung thành của ông nội bà, Quốc vương Charles VII của Pháp. Là người con gái út của Quốc vương Louis XI của PhápCharlotte của Savoie, Joan là em gái của Anne của Pháp, là chị gái của Dauphin Charles, tức Vua Charles VIII tương lai. Chỉ ngay sau khi vừa sinh ra, Vua Louis XI đã ký kết hôn nhân cho Joan với người anh họ cùng ông cố, Công tước Orléans, tức Vua Louis XII trong tương lai[2]. Khi sinh ra, Joan được miêu tả rất ốm yếu, sách "Women Saints – Lives of Faith and Courage" của Kathleen Jones mô tả Joan có vết bướu sau lưng, đi lại khó khăn, được cho là một dạng chứng vẹo cột sống[3].

Sự giáo dục của Joan và chị mình được Vua Louis giao cho vợ chồng Nam tước François de Linières và Anne de Culan - một cặp vợ chồng hiếm muộn. Do đó, hai vợ chồng cực kỳ chăm sóc hai vị công chúa, đặc biệt nhất là Joan. Bà được học chủ yếu là thơtoán học, vẽ tranh, may vá cùng chơi đàn lute. Hai vợ chồng là người Công giáo ngoan đạo, và điều này ảnh hưởng lên Joan từ khi còn nhỏ. Đến tuổi, Vua Louis hỏi bà chỉ định ai làm Thầy tu xưng tội cho mình, và Joan chỉ nói tên duy nhất một người mà bà biết, Jean de La Fontaine, Giám hộ của dòng Anh Em Giảng Thuyết tại Amboise. Dù khoảng cách khó khăn, La Fontaine vẫn thuyền đến gặp Joan để hoàn thành nghĩa vụ xưng tội của mình, và từ đấy Joan ngày càng chú tâm vào cầu nguyện khi có thể dành cả ngày cả tháng trong hầm nguyện của lâu đài.

Năm 1471, Vua Louis XI từng kêu gọi toàn quốc cầu Kinh Kính Mừng để cầu xin bình an. Sự ngoan đạo của Joan được thể hiện khi bà rất tích cực tham gia hoạt động này, và bà thuật lại rằng đã nhận được lời báo của Thánh mẫu Maria rằng trong tương lai bà sẽ thành nữ tu phục vụ Thánh mẫu[4].

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1473, Vua Louis XI đã ký hợp đồng hôn nhân cho Anne và Joan. Ngày 8 tháng 10 năm 1476, khi 12 tuổi, Joan cưới vị Công tước trẻ tuổi xứ Orléans là Louis tại Montrichard. Theo ghi chép để lại, Công tước Orléans cực kỳ miễn cưỡng và khó chịu khi phải cưới cô chị em họ hàng lại còn bị dị tật này, và Vua Louis XI đã hi vọng cuộc hôn nhân này sẽ khiến nhánh Orléans của nhà Valois vĩnh viễn bị trượt khỏi quyền thừa kế ngai vàng Pháp[5][6].

Không lâu sau đó, năm 1483, Vua Louis XI qua đời, em trai duy nhất của Joan là Charles kế vị, tức Charles VIII của Pháp. Kế vị còn quá nhỏ, triều đình Pháp lúc này do người chị cả của 2 người là Anne nắm quyền nhiếp chính. Đến năm 1484, Công tước Orléans thực hiện nhiều chiến dịch quân sự tấn công Vương quốc Pháp, và chỉ dừng vào năm 1488 do bị quân đội triều đình bắt giữ. Trong thời gian này, Joan chăm sóc lãnh địa của chồng, đặc biệt là hai vùng MilanAsti ở đất Ý. Và dù có thể thấy được đức tin của chồng mình không tồn tại cũng như sự cư xử trong hôn nhân, Joan vẫn dùng sự ảnh hưởng của mình để Công tước Orléans được thả ra, và chỉ vài năm sau đã được triều đình tin tưởng mà giao cho nhiệm vụ đồng hành cùng Charles VIII tham gia các chiến dịch quân sự bên ngoài.

Năm 1498, Vua Charles VIII qua đời, điều này khiến Công tước có thể kế vị, tức Quốc vương Louis XII của Pháp. Ngay khi lên ngôi, Vua Louis XII đã đề nghị hủy hôn với Joan, để có thể cưới góa phụ Anne của Brittany, với mưu đồ sáp nhập Công quốc Brittany vào vương triều Pháp vĩnh viễn qua hôn nhân. Lý do của Vua Louis XII không dựa theo lý do thông thường là quan hệ cận huyết, mà là vào thời điểm kết hôn đã không đúng tuổi (phải trên 14 tuổi theo quy định), cũng như cuộc hôn nhân chưa bao giờ hoàn tất do cả hai đều chưa quan hệ tình dục, và Vua Louis XII chỉ ra nguyên nhân là do hình dạng dị tật của vợ mình. Đứng trước sự việc, Joan đã đưa ra nhiều nhân chứng rằng cuộc hôn nhân đã hoàn thành do chồng bà đã "quan hệ nhiều lần với vợ trong một đêm", nhưng Vua Lousi XII lại chối và nói "đó hẳn là trò phù thủy của bà". Khi Joan đang thắng thế về lý lẽ lẫn tình cảnh, thì Giáo hoàng Alexander VI do lý do chính trị lại phê duyệt yêu cầu hủy hôn của Vua Lousi XII, với xác nhận cuộc hôn nhân diễn ra với độ tuổi không thích đáng và việc "cả hai chưa hoàn tất" động phòng[7]. Ngày 15 tháng 12 cùng năm, cuộc hôn nhân bị tuyên bố hủy bỏ, tức ["Annulment"]. Để xoa dịu Joan, Vua Louis XII ban cho bà tước vị của Công quốc Berry, và bà nhanh chóng dời đến thủ phủ của công quốc này là Bourges.

Cuộc sống tôn giáo cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đến Bourges, Joan thông báo ý nguyện muốn đi tu cho nhà truyền tín của bà là Gabriel Mary, người thầy tu thuộc dòng Anh Em Hèn Mọn về sau được ban chân phước. Gabriel Mary ủng hộ bà, và đây là lúc bà lên kế hoạch cho dòng tu của mình, Nữ tu Truyền tin của Đức mẹ đồng trinh Mary, một dòng tu dành cho Nữ tu mới để tôn vinh các Thiên sứ truyền tin cho Maria, với tư cách là một nhánh của Dòng tu Thánh Clare xứ Assisi.

Đến tháng 5 năm 1500, Joan đã thu nhận 11 người theo dòng tu mới này. "Điều luật của sự sống" mà bà viết để quy định dòng tu của mình, được chính thức xác nhận bởi Giáo hoàng Alexander VI vào ngày 12 tháng 2 năm 1502, đưa dòng tu của bà chính thức thành một nhánh dòng nữ tu Công giáo hợp lệ, việc xây dựng Tu viện nhanh chóng được triển khai. Trong ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Joan và Gabriel Mary bắt đầu tuyên thệ theo điều luật, và như vậy, cả hai người trở thành "Đồng sáng lập" của dòng tu này. Năm ấy, ngày 21 tháng 11, là Lễ bổn mạng của Sự hiện thân của Maria, Joan và các Nữ tu sĩ chính thức xác nhận sự tận tụy đối với dòng tu theo điều luật.

Năm 1505, ngày 4 tháng 2, Joan qua đời khi chỉ 40 tuổi. BÀ được chôn cất trong hầm mộ của Tu viện Annonciade. Năm 1562, ngày 27 tháng 5, những người Huguenot khi đốt phá Bourges đã xâm phạm hầm mộ của bà và xác bà bị hỏa thiêu. Khi khai quật mộ, thi thể Joan đã rất nguyên vẹn[8]. Đến ngày nay, các Nữ tu của dòng Truyền tin của Đức mẹ đồng trinh Mary vẫn hoạt động tại các Tu viện nhỏ thuộc Pháp, Bỉ, Phần Lan, Costa Rica, CongoGuatemala.

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “St. Joan of Valois”. AmericanCatholic.org. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  2. ^ “Vie de sainte Jeanne de France”. L'Ordre de la Vièrge Marie (bằng tiếng Pháp). 
  3. ^ Gibson, Mary Lou. "Saints for our times: French saint endured much torment from her family", Diocese of Austin, ngày 8 tháng 2 năm 2013 Lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2015, tại Wayback Machine.
  4. ^ Capes, Florence. "St. Jeanne de Valois." The Catholic Encyclopedia Vol. 8. New York: Robert Appleton Company, 1910. ngày 10 tháng 10 năm 2015
  5. ^ André Vauchez, Michael Lapidge, "Encyclopedia of the Middle Ages: A-J", p.776, 2000: "Infirm from birth, she was obliged by her father, Louis XI, to marry her cousin, Louis of Orleans. The king wished, by a union considered sterile, to extinguish this rival collateral dynasty."
  6. ^ "The Eclectic Magazine of Foreign Literature, Science, and Art, Volume 33", p.42, 1854: "Louis XI compelled him to marry his deformed and sterile daughter Joan, threatening him with death by drowning, if he refused."
  7. ^ Loughlin, James. "Pope Alexander VI." The Catholic Encyclopedia Vol. 1. New York: Robert Appleton Company, 1907. ngày 10 tháng 10 năm 2015
  8. ^ St. Ambroise church, Bourges website (in French); accessed ngày 14 tháng 4 năm 2014.
  9. ^ Vallet de Viriville, Auguste (1859). “Chap. 6”. Chronique dite de la Pucelle (bằng tiếng Pháp). tr. 220. 
  10. ^ a ă â Kekewich, Margaret L. (2008). The Good King: René of Anjou and Fifteenth Century Europe. Palgrave Macmillan. tr. xiv. 
  11. ^ Stieber, Joachim W. (1978). Pope Eugenius IV, the Council of Basel and the Secular and Ecclesiastical Authorities in the Empire. E.J. Brill. tr. 254. 
  12. ^ Jansen, Sharon L. (2004). Chance, Jane, biên tập. Anne of France: Lessons For My Daughter. Boydell & Brewer. tr. 2–3. 
  13. ^ Henneman Jr., John Bell, Jr. (2006). “Charles V the Wise”. Trong Emmerson, Richard K. Key Figures in Medieval Europe: An Encyclopedia. Routledge. tr. 127. 
  14. ^ Hand, Joni M. (2013). Women, Manuscripts and Identity in Northern Europe, 1350-1550. Ashgate Publishing. tr. 217. 
  15. ^ a ă Vaughan, Richard (2002). Philip the Bold: The Formation of the Burgundian State. Boydell Press. tr. 53. 
  16. ^ Nielen, Marie-Adélaïde biên tập (2003). “Vaticanus Latinus 7806”. Lignages d'Outremer. Académie des inscriptions et belles lettres. tr. 170. OCLC 799477136. 
  17. ^ Bingham, Denis (1890). The Marriages of the Bourbons. Chapman and Hall. tr. 47. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2018. 
  • Hale, J. R., Renaissance Europe: Individual and Society, 1480–1520, New York: Harper & Row, 1972.
  • Jones, Terry. “Patron Saint Index”. Catholic Forum website. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)Retrieved ngày 27 tháng 6 năm 2008