John Murphy Farley

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hồng y
 
John Murphy Farley
Hồng y Tổng giám mục Tổng giáo phận New York
(1902 – 1918)
John Murphy Farley.jpg
Chức vụ chính yếu
Tổng giám mục Tổng giáo phận New York
Giáo tỉnhNew York
TòaNew York
Bổ nhiệmNgày 15 tháng 9 năm 1902
Hết nhiệmNgày 17 tháng 9 năm 1918
&0000000000000016.00000016 năm, &0000000000000002.0000002 ngày
Tiền nhiệmMichael Corrigan
Kế nhiệmPatrick Joseph Hayes
Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận New York
Giáo tỉnhNew York
Bổ nhiệmNgày 5 tháng 5 năm 1902
Hết nhiệmNgày 15 tháng 9 năm 1902
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000133.000000133 ngày
Giám mục phụ tá Tổng giáo phận New York
TòaHiệu tòa Zeugma
Bổ nhiệmNgày 18 tháng 11 năm 1895
Tựu nhiệmNgày 21 tháng 12 năm 1895
Các chức khácHồng y đẳng Linh mục Nhà thờ S. Maria sopra Minerva (1911 – 1918)
Truyền chức
Thụ phongNgày 11 tháng 6 năm 1870
bởi Costantino Patrizi Naro
Tấn phongNgày 21 tháng 12 năm 1895
bởi Michael Corrigan
Thăng hồng yNgày 27 tháng 11 năm 1911
bởi Giáo hoàng Piô X
Cấp bậcHồng y đẳng Linh mục
Thông tin cá nhân
Sinh(1842-04-20)20 tháng 4 năm 1842
Newtownhamilton, Quận Armagh, Ireland
Mất17 tháng 9 năm 1918(1918-09-17) (76 tuổi)
Mamaroneck, New York, Hoa Kỳ
Nơi an tángNhà thờ chính tòa Thánh Patriciô, New York
Khẩu hiệu"Non Nobis Domine"
(Không phải để cho chúng con Chúa ơi)
Phù hiệu{{{coat_of_arms_alt}}}
Cách xưng hô với
John Murphy Farley
Coat of arms of John Murphy Farley.svg
Danh hiệuĐức Hồng y
Trang trọngĐức Hồng y
Thân mậtCha
Khẩu hiệu"Non Nobis Domine"
TòaNew York

John Murphy Farley (20 tháng 4 năm 1842 – 17 tháng 9 năm 1918) là một hồng y người Mỹ gốc Ireland của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông giữ chức Tổng giám mục Tổng giáo phận New York từ năm 1902 cho đến khi qua đời vào năm 1918. Khẩu hiệu giám mục của ông là "Non Nobis Domine" (có nghĩa là "Không phải để cho chúng con Chúa ơi").

Thân thế và tu tập[sửa | sửa mã nguồn]

John Farley sinh ngày 20 tháng 4 năm 1842 ở Newtownhamilton, Quận Armagh, Ireland, cha mẹ là Philip và Catherine (nhũ danh Murphy) Farley.[1] Năm mười hai tuổi, ông mồ côi và đến sống với gia đình nhà ngoại ở thị trấn Moyles.[2] Ông được giáo dục sớm dưới sự hướng dẫn của một gia sư riêng tên Hugh McGuire.[3] Sau đó, ông theo học tại Học viện Thánh MacartanMonaghan từ năm 1859 đến năm 1864.[4]

Dưới sự bảo trợ của một người chú, năm 1864 Farley di cư sang Hoa Kỳ vào thời kỳ Nội chiến. Ông ngay lập tức đăng ký vào Trường đại học Thánh GioanThành phố New York và tốt nghiệp vào năm 1865. Sau đó, ông bắt đầu nghiên cứu về chức linh mục tại Chủng viện Thánh GiuseTroy.[5] Năm 1866, ông được tiếp tục gửi đi học tại Giáo hoàng Học viện Bắc MỹRoma.[3] Ông đã có mặt ở Roma trong toàn bộ thời kỳ Công đồng Vaticanô I.[6]

Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Farley được Hồng y Costantino Patrizi Naro chủ phong linh mục vào ngày 11 tháng 6 năm 1870 tại Giáo phận Rôma, Ý.[7] Sứ vụ đầu tiên của ông sau khi trở về New York là làm linh mục phó xứ tại Nhà thờ Thánh Phêrô (Đảo Staten) và giữ chức này trong hai năm.[8] Sau khi bổ nhiệm Francis McNeirny đến Giáo phận Albany, năm 1872 Farley trở thành thư ký cho Tổng giám mục John McCloskey,[6] người mà ông đã gặp trước đó khi ở Roma. Trong khoảng thời gian này, ông đã thay đổi cách đánh vần tên của mình từ "Farrelly" sang "Farley".[2] Ông đi cùng McCloskey đến Mật nghị Hồng y 1878, nhưng họ đã đến sau cuộc bầu cử Giáo hoàng Lêô XIII.[1] Farley đã viết bài về Hồng y McCloskey cho Catholic Encyclopedia (tạm dịch: Bách khoa toàn thư Công giáo).[9]

Từ 1884 đến 1902, Farley là linh mục chính xứ của Nhà thờ Thánh GabrielManhattan.[3] Trong nhiệm kỳ của mình, ông đã giải thoát giáo xứ khỏi nợ nần, giám sát việc thánh hiến nhà thờ và xây dựng một hội trường. Có một khoảng thời gian phục vụ tại đây, linh mục phó xứ là Patrick Joseph Hayes (người sau này sẽ làm thư ký riêng của ông khi tấn phong giám mục, giám mục phụ tá khi ông làm Tổng giám mục Tổng giáo phận New York và kế nhiệm ông khi qua đời).[10] Ông được phong tuyên úy của giáo hoàng vào năm 1884 với danh hiệu "đức ông" và được thăng lên bậc giáo sĩ danh dự của giáo hoàng vào năm 1892.[4] Ngoài các công việc mục vụ tại Nhà thờ Thánh Gabriel, Farley còn là đại diện cho Tổng giáo phận New York từ năm 1891 đến 1902.[1] Ông cũng từng là chủ tịch hội đồng trường Công giáo, trên cương vị này này ông đã tổ chức một cuộc diễu hành trường Công giáo vào năm 1892. Sau đó, ông tổ chức một cuộc triển lãm trường Công giáo vào năm 1894.[5] Ông trở thành đức ông đệ nhất đẳng vào năm 1895.[4]

Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 11 năm 1895, Farley được Giáo hoàng Lêô XIII bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá New York và Giám mục hiệu tòa Zeugma tại Syria. Ông được tấn phong vào ngày 21 tháng 12 cùng năm tại Nhà thờ chính tòa Thánh Patriciô, do Tổng giám mục Michael Corrigan chủ phong cùng các Giám mục Charles Edward McDonnell (Giám mục Brooklyn) và Henry Gabriels (Giám mục Ogdensburg) phụ phong.[7] Farley trở thành Giám quản Tông Tòa của tổng giáo phận sau khi Tổng giám mục Corrigan qua đời vào ngày 5 tháng 5 năm 1902, và chính ông được bổ nhiệm làm Tổng giám mục thứ tư của New York vào ngày 15 tháng 9 cùng năm.[11]

Hồng y Tổng giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hoàng Piô X đã vinh thăng ông thành Hồng y đẳng Linh mục Santa Maria sopra Minerva trong công nghị ngày 27 tháng 11 năm 1911.[9] Ông là một trong những hồng y cử tri đã tham gia vào Mật nghị Hồng y 1914 mà người đắc cử là Giáo hoàng Biển Đức XV. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Farley tuyên bố: "Là người Công giáo ở Hoa Kỳ, chúng tôi có lòng trung thành với Chính phủ Hoa Kỳ và có nghĩa vụ thiêng liêng phải trả lời một cách trung thực mọi yêu cầu của đất nước đối với sự trung thành và tận tụy của chúng tôi... Tôi nghĩ rằng hòa bình sẽ đến nhờ vào sự hòa giải và ngoại giao. Tuy nhiên, dường như không thể hi vọng vào hòa bình vĩnh viễn nào ngoại trừ thông qua sự thất bại của vũ khí Đức hoặc sự từ chối chế độ chuyên chế của Phổ bởi chính người dân Đức. Sự chỉ trích của chính phủ chọc tức tôi. Tôi coi đó là một chút phản bội."[12] Sự cống hiến của ông cho chiến thắng trong chiến tranh đã chọc giận yếu tố Sinn Féin của hàng giáo sĩ New York – những người tin rằng vị hồng y đang "cúi đầu trước những kẻ khổng lồ bài Ireland".

Ông đã đạt được tiến bộ trong giáo dục Công giáo ở tổng giáo phận là bài phát biểu quan trọng trong nhiệm kỳ của mình với tư cách là tổng giám mục và thành lập gần năm mươi trường học mới sau tám năm nhậm chức; ông cũng thành lập Chủng viện Dự bị Nhà thờ chính tòa.[11]

Farley qua đời ở Mamaroneck, thọ 76 tuổi.[8] Ông được chôn cất trong hầm mộ dưới bàn thờ của Nhà thờ chính tòa Thánh Patriciô.

Tông truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng y Tổng giám mục John Murphy Farley được tấn phong giám mục năm 1895, dưới thời Giáo hoàng Lêô XIII, bởi:[7]

Hồng y Tổng giám mục John Murphy Farley là chủ phong nghi thức truyền chức cho các giám mục:[7]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Công giáo
Tiền nhiệm:
Giám mục phụ tá Tổng giáo phận New York
1895 – 1902
Kế nhiệm:
Tiền nhiệm:
Raffaele Rossi
Giám mục hiệu tòa Zeugma, Syria[13]
1895 – 1902
Kế nhiệm:
Libert H. Boeynaems
Tiền nhiệm:
Không rõ
Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận New York
1902
Kế nhiệm:
Không rõ
Tiền nhiệm:
Michael Corrigan
Tổng giám mục Tổng giáo phận New York
1902 – 1918
Kế nhiệm:
Patrick Joseph Hayes
Tiền nhiệm:
Serafino Cretoni
Hồng y đẳng Linh mục Nhà thờ S. Maria sopra Minerva
1911 – 1918
Kế nhiệm:
Teodoro Valfre di Bonzo

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Miranda, Salvador. “The Cardinals of the Holy Roman Church”. Đại học Quốc tế Florida. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. 
  2. ^ a ă “John Murphy Farley (or Farrelly) (1842 – 1918): Cleric: Cardinal Archbishop". Giáo xứ Hạ Creggan. Ngày 19 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. 
  3. ^ a ă â Fitch, Charles Elliott (1916). Encyclopedia of Biography of New York [Bách khoa toàn thư tiểu sử New York]. Hiệp hội Lịch sử Hoa Kỳ. tr. 25 – 26. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. 
  4. ^ a ă â “Archdiocese of New York” [Tổng giáo phận New York]. Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. 
  5. ^ a ă Thornton, Francis Beauchesne (1963). Our American Princes. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. (cần đăng ký (trợ giúp)). 
  6. ^ a ă Walsh, James Joseph (1926). Our American Cardinals. D. Appleton and Company. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. (cần đăng ký (trợ giúp)). 
  7. ^ a ă â b “John Murphy Cardinal Farley”. The Hierarchy of the Catholic Church. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. 
  8. ^ a ă “Cardinal A Leader Of Loyal Americans”. The New York Times. 18 tháng 9 năm 1918. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. (cần đăng ký (trợ giúp)). 
  9. ^ a ă The Catholic Encyclopedia and its Makers. 1917. tr. 55. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. 
  10. ^ William Richard Cutter biên tập (1924). American Biography: A New Cyclopedia, Volume 20. American Historical Society. tr. 240. 
  11. ^ a ă “John Cardinal Farley”. Đại học Fordham. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. 
  12. ^ “All City Mourns Cardinal Farley”. The Evening World. 18 tháng 9 năm 1918. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020. 
  13. ^ “Zeugma in Syria (Titular See)”. The Hierarchy of the Catholic Church. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2020. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]