Josip Iličić

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Josip Iličić
Calcio di inizio Lecce Atalanta - Josip Iličić (cropped).jpg
Iličić với Atalanta năm 2020
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Josip Iličić
Ngày sinh 29 tháng 1, 1988 (32 tuổi)
Nơi sinh Prijedor,
SFR Yugoslavia
Chiều cao 1,90 m
Vị trí Tiền đạo thứ hai, đá cánh
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Atalanta
Số áo 72
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1995–2006 Triglav Kranj
2006–2007 Britof
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2007–2008 Bonifika 24 (3)
2008–2010 Interblock 55 (12)
2010 Maribor 5 (1)
2010–2013 Palermo 98 (20)
2013–2017 Fiorentina 105 (29)
2017– Atalanta 90 (38)
Đội tuyển quốc gia
2008–2010 U-20 Slovenia 4 (0)
2009–2010 U-21 Slovenia 6 (0)
2010– Slovenia 68 (10)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 17 tháng 10 năm 2020
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 18 tháng 11 năm 2020

Josip Iličić (phát âm tiếng Croatia: [jǒsip ǐlitʃitɕ];[1][2] sinh ngày 29 tháng 1 năm 1988) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Slovenia chơi bóng ở vị trí tiền vệ công cho câu lạc bộ Atalanta của giải vô địch quốc gia Ýđội tuyển quốc gia Slovenia. Anh khởi nghiệp trong màu áo câu lạc bộ Bonifika, tiếp đó là InterblockMaribor tại quê nhà, trước khi chuyển đến Ý đầu quân cho Palermo vào năm 2010. Năm 2013, anh ký hợp đồng gia nhập Fiorentina và hiện tại là Atalanta vào năm 2017. Ở cấp độ tuyển quốc gia, Iličić có trận ra mắt đội một của Slovenia vào năm 2010.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại Prijedor, Iličić khởi nghiệp quần đùi áo số tại đội trẻ lần lượt của Triglav KranjBritof từ vùng Kranj.[3] Năm 19 tuổi, anh chuyển đến SC Bonifika, nơi anh thi đấu trong một mùa bóng tại giải bóng đá hạng nhì Slovenia 2. SNL. Đó là lúc anh được Interblock để ý và chiêu mộ, tại đây anh có hai mùa góp mặt ở giải bóng đá hạng nhất Slovenia 1. SNL. Cuối mùa 2009–10, Interblock bị rớt hạng xuống 2. SNL sau hai trận đấu loại trực tiếp với Triglav. Dù là một trong những chân sút xuất sắc nhất của đội và một trong những tài năng triển vọng nhất của bóng đá Slovenia, nhưng Iličić chỉ kết thúc mùa giải với vai trò cầu thủ dự bị.[4]

Palermo[sửa | sửa mã nguồn]

Iličić ra mắt trong màu áo đội bóng mới Palermo tại Serie A vào ngày 12 tháng 9 năm 2010 trong cuộc đối đầu với Brescia khi vào sân thế chỗ Giulio Migliaccio trong hiệp hai.[5] Ở vòng đấu kế tiếp, anh được đá chính từ đầu và ghi một bàn thắng cho Palermo trên sân nhà vào lưới các nhà đương kim vô địch Inter Milan.[6] 4 ngày sau, tức ngày 23 tháng 9 năm 2010, anh ghi bàn thắng thứ hai trong mùa giải, lần này là vào lưới một ông lớn khác của bóng đá Ý là Juventus.[7] Anh tiếp tục thể hiện màn trình diễn tốt trước các đội bóng hàng đầu của Ý khi ghi một pha lập công lần lượt xé lưới Fiorentina (3 tháng 10 năm 2010)[8][9]Roma (ngày 28 tháng 11 năm 2010).[10]

Fiorentina[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 6 năm 2017, Palermo chính thức xác nhận đã bán Iličić cho đối thủ kình địch ở Serie A là Fiorentina trên trang website của đội. Sau đó, thỏa thuận được bên phía Fiorentina chính thức công bố trên trang web của đội.[11] Mức phí chuyển nhượng không được tiết lộ, được đồn đoán rơi vào mức 9 triệu euro tính cả phụ phí.[12] Anh ghi 6 pha lập công trong mùa giải đầu tiên cho Fiorentina. Đối với anh mùa 2014–15 còn thành công hơn khi kết thúc mùa với vị thế vua phá lưới của câu lạc bộ – 10 bàn thắng trên mọi đấu trường, ngang với Mario Gómez.

Atalanta[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 7 năm 2017, Atalanta đã ký hợp đồng với Iličić từ Fiorentina với mức phí được cho là 5,5 triệu euro sau khi Fiorentina từ chối gia hạn hợp đồng với anh.[13][14] Iličić ngay lập tức gây dựng được tầm ảnh hưởng trong năm đầu tiên tại Atalanta. Anh phá lưới 11 lần giúp đội kết thúc ở vị trí thứ 7. Năm kế tiếp anh ghi 12 bàn trong một mùa giải lịch sử mà Atalanta cán đích ở vị trí số 3 tại Serie A, đem về cho họ một suất dự vòng bảng thuộc Champions League lần đầu tiên.[15] Anh cũng được trao một suất góp mặt trong đội hình xuất sắc nhất mùa tại Serie A bên cạnh đồng đội Duván Zapata.[16]

Ngày 25 tháng 1 năm 2020, Iličić lập một cú hat-trick, trong đó có một cú sút phạt từ vạch giữa sân trong chiến thắng đậm 7-0 trước Torino tại Serie A.[17] Ngày 10 tháng 3 năm 2020, Iličić ghi cả bốn bàn thắng cho Atalanta tại vòng 16 đội của UEFA Champions league 2019–20 trước đối thủ Valencia của Tây Ban Nha, qua đó ấn định thắng lợi 4-3 chung cuộc và giúp Atalanta tiến vào vòng tứ kết. Không chỉ trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử giải đấu ghi 4 bàn trên sân khách ở một trận đấu loại trực tiếp, anh còn là cầu thủ lớn tuổi nhất ghi 4 bàn chỉ trong một trận đấu, khi đã 32 tuổi 41 ngày.[18] Iličić cũng đoạt danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất tuần của UEFA sau khi khép lại vòng 16 đội của Champions League.[19]

Sự nghiệp cấp đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Iličić đã bỏ lỡ giải vô địch thế giới 2010 nhưng có trận ra mắt đội một của tuyển quốc gia trong một trận đấu giao hữu với Úc vào ngày 11 tháng 8 năm 2010.[20] Ngày 10 tháng 9 năm 2013, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển vào lưới đảo Síp.[21]

Lối chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn là một cầu thủ thuận chân trái,[22][23] Iličić có thể thi đấu như một tiền đạo thứ hai,[23][24] tiền vệ lệch biên hoặc chạy cánh dù ở trái hay phải,[25] hay thậm chí ở vị trí trung tâm như một tiền vệ công ở đội hình 4-3-2-1 hoặc 4-2-3-1.[22][26][27] Cựu huấn luyện viên của Iličić tại Palermo, ông Bortolo Mutti tin rằng hệ thống 4-3-3 là đội hình lý tưởng để phát huy những tố chất của anh, bởi nó cho phép chân sút người Slovenia được chuyển sang hành lang cánh phải, từ đó anh có thể cứa lòng (cut inside) và sút vào gôn bằng chân thuận của mình.[28] Đôi khi Iličić cũng từng được bố trí đá tiền vệ trung tâm, dù cho đây không phải vị trí yêu thích của anh.[29] Trong thời gian chơi bóng tại Atalanta, cầu thủ này thường được sử dụng đá dâng cao tự do trong đội hình 3–4–3 dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên Gian Piero Gasperini.[30][31]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến trận đấu đã diễn ra 21 tháng 10 năm 2020[32][33]
Câu lạc bộ Mùa giải Vô địch
quốc gia
Cúp Quốc gia Liên lục địa Khác Tổng cộng
Hạng đấu Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng
Bonifika 2007–08 2. SNL 24 3 24 3
Interblock 2008–09 1. SNL 27 9 4 1 0 0 31 10
2009–10 28 3 3 1 2[a] 0 2[b] 0 35 4
Tổng cộng 55 12 7 2 2 0 2 0 66 14
Maribor 2010–11 1. SNL 5 1 0 0 6[a] 3 11 4
Palermo 2010–11 Serie A 34 8 5 0 0 0 39 8
2011–12 33 2 1 3 2[a] 1 36 6
2012–13 31 10 1 1 32 11
Tổng cộng 98 20 7 4 2 1 107 25
Fiorentina 2013–14 Serie A 21 3 2 1 8[a] 2 31 6
2014–15 25 8 2 0 7[a] 2 34 10
2015–16 30 13 1 0 6[a] 2 37 15
2016–17 29 5 2 0 4[a] 1 35 6
Tổng cộng 105 29 7 1 25 7 137 37
Atalanta 2017–18 Serie A 31 11 4 0 6[a] 4 41 15
2018–19 31 12 5 1 0 0 36 13
2019–20 26 15 1 1 7[c] 5 34 21
2020–21 2 0 0 0 2[c] 0 4 0
Tổng cộng 90 38 10 2 15 9 115 49
Tổng cộng sự nghiệp 377 103 31 9 50 20 2 0 460 132
  1. ^ a ă â b c d đ e Ra sân tại UEFA Europa League
  2. ^ Ra sân tại các trận play-off thăng-xuống hạng ở giải hạng nhất Slovenia
  3. ^ a ă Ra sân ở UEFA Champions League

Cấp đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 18 tháng 11 năm 2020[34]
Slovenia
Năm Số trận Bàn thắng
2010 6 0
2011 8 0
2012 8 0
2013 1 1
2014 4 0
2015 8 1
2016 9 0
2017 6 3
2018 5 0
2019 10 4
2020 3 1
Tổng cộng 68 10

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng và kết quả của Slovenia được để trước.[32]
# Ngày Địa điểm Số trận Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 10 tháng 9 năm 2013 Sân vận động GSP, Nicosia, Síp 23  Síp 2–0 2–0 Vòng loại World Cup 2014
2 27 tháng 3 năm 2015 Sân vận động Stožice, Ljubljana, Slovenia 28  San Marino 1–0 6–0 Vòng loại Euro 2016
3 10 tháng 6 năm 2017 46  Malta 2–0 Vòng loại World Cup 2018
4 4 tháng 9 năm 2017 48  Litva 4–0
5 2–0
6 10 tháng 6 năm 2019 Sân vận động Daugava, Riga, Latvia 59  Latvia 3–0 5–0 Vòng loại Euro 2020
7 4–0
8 10 tháng 10 năm 2019 Toše Proeski Arena, Skopje, Bắc Macedonia 62  Bắc Macedonia 1–2 1–2
9 19 tháng 11 năm 2019 Sân vận động quốc gia, Warsaw, Ba Lan 65  Ba Lan 2–2 2–3
10 15 tháng 11 năm 2020 Sân vận động Stožice, Ljubljana, Slovenia 67  Kosovo 2–1 2–1 UEFA Nations League 2020–21

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Interblock

  • Cúp Slovenia: 2008–09[32]
  • Á quân Siêu cúp Slovenia: 2009[32]

Maribor

  • Á quân Siêu cúp Slovenia: 2010[32]

Palermo

Fiorentina

  • Á quân Coppa Italia: 2013–14[32]

Atalanta

  • Á quân Coppa Italia: 2018–19[32]

Cá nhân

  • Đội hình hay nhất mùa của Serie A: 2018–19[35]
  • Cầu thủ Slovenia xuất sắc nhất năm: 2019[36]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Jòsip”. Hrvatski jezični portal (bằng tiếng Croatia). Truy cập 16 tháng 2 năm 2020. 
  2. ^ “Ìlija”. Hrvatski jezični portal (bằng tiếng Croatia). Truy cập 16 tháng 2 năm 2020. Ìličić 
  3. ^ STA (3 tháng 7 năm 2017). “Iličić pred podpisom pogodbe s Sampdorio, Oblak ostaja pri Atleticu” (bằng tiếng Slovenia). Siol. Truy cập 19 tháng 1 năm 2018. 
  4. ^ “Gorenjci imajo prvoligaša” (bằng tiếng Slovenia). Siol. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 6 năm 2010. Truy cập 30 tháng 5 năm 2018. 
  5. ^ “Iličić skoraj izenačil, Cesar s Chievom na vrhu”. rtvslo.si (bằng tiếng Slovenian). RTV Slovenija. Truy cập 12 tháng 9 năm 2018. 
  6. ^ “Video: Prvenec Iličiča v Serie A” (bằng tiếng Slovenia). Nogomania. Truy cập 19 tháng 9 năm 2018. 
  7. ^ “Iličič zadel tudi ob veliki zmagi Palerma v Torinu”. rtvslo.si (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Truy cập 23 tháng 9 năm 2010. 
  8. ^ “MatchView: Fio-Pal 1–2” (bằng tiếng Ý). gazzetta.it. Truy cập 3 tháng 10 năm 2010. 
  9. ^ M. L. (3 tháng 10 năm 2020). “Inter ni uspel streti odpora Juventusa, na vrhu Lazio”. rtvslo.si (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Truy cập 26 tháng 1 năm 2020. 
  10. ^ “Posticipo 14/a giornata Palermo-Roma 3-1” (bằng tiếng Ý). gazzetta.it. Truy cập 28 tháng 11 năm 2010. 
  11. ^ “Fiorentina and Palermo agree terms on Ilicic deal”. en.violachannel.tv. Truy cập 3 tháng 11 năm 2019. 
  12. ^ Miles Chambers. “Official: Ilicic joins Fiorentina”. Goal.com. Truy cập 22 tháng 2 năm 2018. 
  13. ^ “Iličićev avtogram na pogodbo z Atalanto”. rtvslo.si (bằng tiếng Slovenia) (RTV Slovenija). 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập 5 tháng 7 năm 2017. 
  14. ^ “Ecco Josip Iličić” (bằng tiếng Ý). Atalanta B.C. 5 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 10 năm 2018. Truy cập 5 tháng 7 năm 2017. 
  15. ^ sport, Guardian (26 tháng 5 năm 2019). “Atalanta win to claim Champions League place for first time”. The Guardian (bằng tiếng en-GB). ISSN 0261-3077. Truy cập 12 tháng 12 năm 2019. 
  16. ^ To. G. (12 tháng 12 năm 2019). “Iličić prvič v najenajsterici Serie A, kjer je Handanović že tretjič”. rtvslo.si (bằng tiếng Slovenia). Milan: RTV Slovenija. Truy cập 12 tháng 12 năm 2019. 
  17. ^ “Torino 0–7 Atalanta: Josip Ilicic hat-trick in seven-goal thrashing”. BBC Sport. 25 tháng 1 năm 2020. Truy cập 26 tháng 1 năm 2020. 
  18. ^ Fernandez, Gabriel (10 tháng 3 năm 2020). “Valencia vs. Atalanta score: Josip Ilicic makes Champions League history with four goals as Atalanta advances”. CBS Sports. Truy cập 10 tháng 3 năm 2020. 
  19. ^ Sport (ngày 13 tháng 3 năm 2020). “Ilicic es elegido jugador de la semana por la UEFA”. sport (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2020. 
  20. ^ S. J.; M. L. “Zlatko in Zlatan z goloma krstila stoženski stadion”. rtvslo.si (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Truy cập 11 tháng 8 năm 2010. 
  21. ^ Izidor Kordič (10 tháng 9 năm 2013). “Rutinirana zmaga na Cipru”. Slovenski nogometni portal (bằng tiếng Slovenia). Truy cập 27 tháng 1 năm 2020. 
  22. ^ a ă Casales, Maria Concetta (4 tháng 10 năm 2010). “Palermo, Ilicic e Pastore, un destro e un mancino alla corte di Zamparini” (bằng tiếng Ý). Tuttopalermo.net. 
  23. ^ a ă Jiang, Allan (25 tháng 7 năm 2013). “Is Josip Ilicic Serie A's Next Big Superstar?”. Bleacher Report. Truy cập 11 tháng 3 năm 2020. 
  24. ^ Carelli, Omar (15 tháng 5 năm 2011). “Il Palermo gela Marassi E per la Samp è Serie B”. La Gazzetta dello Sport (bằng tiếng Ý). Truy cập 11 tháng 3 năm 2020. 
  25. ^ “Il retroscena - Ilicic: un mese fa costava 150 mila euro” (bằng tiếng Ý). Palermo24.net. 21 tháng 8 năm 2010. 
  26. ^ Casales, Maria Concetta (22 tháng 8 năm 2010). “Palermo, Ilic perfetto nel 4-3-2-1” (bằng tiếng Ý). Tuttopalermo.net. 
  27. ^ “Inter: Moratti punta Ilicic”. sportmediaset.mediaset.it. 9 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập 9 tháng 10 năm 2019. 
  28. ^ Ferraioli, Filippo (6 tháng 6 năm 2013). “Mutti: "Ilicic alla Fiorentina? Ideale nel 4-3-3" (bằng tiếng Ý). Palermo24.net. 
  29. ^ “Ilicic: "Fiorentina la squadra giusta per praticare un bel calcio" (bằng tiếng Ý). it.violachannel.tv. 2 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 8 năm 2013. Truy cập 2 tháng 8 năm 2013. 
  30. ^ Pandey, Kaustubh (ngày 11 tháng 3 năm 2020). “Ilicic the icon of Atalanta”. Football Italia. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2020. 
  31. ^ Cappelli, Alessandro (30 tháng 11 năm 2017). “La duttilità dell'Atalanta” (bằng tiếng Ý). Rivista Undici. Truy cập 13 tháng 3 năm 2020. 
  32. ^ a ă â b c d đ e “J. Iličić”. Soccerway. Truy cập 9 tháng 1 năm 2016. 
  33. ^ “Josip Iličić – Statistika vseh odigranih tekem”. nzs.si (bằng tiếng Slovenia). Hiệp hội bóng đá Slovenia. Truy cập 12 tháng 1 năm 2020. 
  34. ^ “Josip Iličić”. eu-football.info. Truy cập 2 tháng 5 năm 2019. 
  35. ^ “Gran Gala del Calcio 2019 winners”. Football Italia. 2 tháng 12 năm 2019. Truy cập 2 tháng 12 năm 2019. 
  36. ^ “Iličić najboljši nogometaš leta 2019”. nzs.si (bằng tiếng Slovenia). Football Association of Slovenia. 3 tháng 1 năm 2020. Truy cập 4 tháng 1 năm 2020. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]