Jun Ji-hyun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một Jun, họ là Wang.
Jun Ji-hyun
Jun Ji-hyun in 2012 01.jpg
SinhWang Ji-hyun
30 tháng 10, 1981 (38 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Tên khácGianna Jun
Học vấnĐại học Dongguk
(nhà hát và phim)
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1997–nay
Đại lý
  • SidusHQ (1997–2010)
  • Culture Depot (2012–nay)
Chiều cao173 cm (5 ft 8 in)
Cân nặng48 kg (106 lb)
Nhiệm kỳ2001-2003
Tiền nhiệmShim Eun Ha
Kế nhiệmSon Ye Jin
Vợ/chồng
Choi Joon-hyuk (cưới 2012)
Con cái2[1]
Trang webwww.giannajun.com
Tên tiếng Hàn
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữWang Ji-hyeon
McCune–ReischauerWang Chi-hyŏn
Hán-ViệtVương Trí Hiền
Chữ ký
Gianna Jun Signature.svg

Wang Ji-hyun (sinh ngày 30 tháng 10 năm 1981), được biết đến nghệ danh Jun Ji-hyun hay Gianna Jun, là một nữ diễn viên người Hàn Quốc. Cô là 1 trong tam đại mỹ nhân Hàn Quốc và là "tình đầu quốc dân" thứ 4 của Đại Hàn Dân Quốc sau Im Ye Jin, Lee Mi Yeon và Shim Eun Ha. Diễn xuất và nhan sắc của cô được giới chuyên môn đánh giá cao.

Jun Ji-hyun cũng đã tham gia bộ phim truyền hình Vì sao đưa anh tới (2013–2014) và Huyền thoại biển xanh (2016–2017). Thành công của các bộ phim và phim truyền hình ở quốc tế đã giúp cô trở thành một ngôi sao hàng đầu của Hallyu.Jeon Ji Hyun sở hữu một vẻ đẹp hiện đại, cá tính, rất có sức hút và phù hợp với chuẩn mực nhan sắc của nữ giới Hàn Quốc thế kỷ 21.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Wang Ji-hyun sinh ra và lớn lên tại Seoul, Hàn Quốc. Mẹ và tất cả bạn bè của mẹ cô đều khuyến khích cô trở thành người mẫu hoặc diễn viên nhờ vóc dáng cao ráo và thon gọn. Ước mơ từ thuở nhỏ của cô là trở thành một tiếp viên hàng không, nhưng sau đó cô đã từ bỏ giấc mơ này sau khi trải nghiệm nó trên một chuyến bay. Vào năm 16 tuổi, người bạn thời trung học của cô là một người mẫu đã giới thiệu cô với một nhiếp ảnh gia.[2] Sử dụng nghệ danh Jun Ji-hyun, cô bắt đầu sự nghiệp với tư cách là người mẫu cho Tạp chí Ecole năm 1997.


Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1997–2005: Khởi đầu sự nghiệp và đột phá[sửa | sửa mã nguồn]

Jun Ji-hyun lần đầu tiên được biết đến như một người mẫu quảng cáo và là một nữ diễn viên truyền hình. Mặc dù cô đã ra mắt bộ phim đầu tiên trong Valentine trắng ít được xem vào năm 1999, nhưng mãi đến cuối năm khi cô xuất hiện trong một quảng cáo cho My Jet Printer của Samsung, cô mới bắt đầu trở nên nổi tiếng. Vũ điệu và biểu cảm được thể hiện trong quảng cáo đã đưa cô thành một biểu tượng cho người Hàn Quốc ở độ tuổi vị thành niên và độ tuổi đôi mươi.[3][4][5]

Năm sau, Jun Ji-hyun xuất hiện lần đầu tiên với bộ phim được đón nhận rộng rãi vào cuối năm 2000 với Người tình không chân dung, một bộ phim tình cảm được quay đẹp mắt trên đảo Ganghwa.[6] Bộ phim đã làm rất tốt tại phòng vé (mặc dù khởi chiếu cùng ngày với bom tấn Khu vực an ninh chung) và củng cố vị thế của cô như một ngôi sao.[3]

Bộ phim đột phá của Jun Ji-hyun là bộ phim hài Cô nàng ngổ ngáo, một câu chuyện về một sinh viên đại học cả tin và cô bạn gái hơi vô duyên của anh.[7] Bộ phim trở thành bộ phim hài Hàn Quốc có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở Hàn Quốc và cũng đã dành hai tuần ở vị trí số 1 tại Hồng Kông, đưa Jun Ji-hyun trở thành ngôi sao hàng đầu châu Á với tư cách là một trong những ngôi sao Hallyu có ảnh hưởng nhất tại thị trường Trung Quốc.[8] Thành công vang dội của Cô nàng ngổ ngáo cũng củng cố sự nổi tiếng trong nước của Jun và cô được trao danh hiệu "Tình đầu quốc dân".[9] Sự nổi tiếng ngày càng tăng của Jun Ji-hyun dẫn đến việc nhiều công ty mời chào cô làm người mẫu quảng cáo. [10] Cô cũng đã giành giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Grand Bell Awards năm 2002.

Năm 2003, Jun Ji-hyun đóng vai chính trong bộ phim kinh dị sinh lý, The Uninvited, được các nhà phê bình đón nhận nhưng không thành công với người xem.[11][12] Trong suốt thời gian này, cô luôn có mặt trong các quảng cáo truyền hình, trên quảng cáo ở Hàn Quốc và cả ở các nước châu Á khác.[3][13][14] Cô tái hợp với Kwak Jae-yong, đạo diễn của Cô nàng ngổ ngáo năm 2004, xuất hiện như một nữ cảnh sát trong bộ phim hài lãng mạn Ngọn gió yêu thương.[15] Tuy nhiên, người xem cảm thấy vai diễn của cô quá giống với Cô nàng ngổ ngáo. Cũng có những dấu hiệu cho thấy sự nổi tiếng của cô đã bắt đầu bị ảnh hưởng vì xuất hiện quá nhiều trong quảng cáo.[16][17] Tuy nhiên, Ngọn gió yêu thương trở thành bộ phim Hàn Quốc hay nhất tại Nhật Bản vào thời điểm đó, nơi mà Cô nàng ngổ ngáo không được biết đến nhiều.[3][18][19] Trong một cuộc khảo sát năm 2005 về các nhà sản xuất phim có ảnh hưởng, cô được xếp hạng trong số 10 ngôi sao có khả năng ngân hàng cao nhất tại Hàn Quốc.[20]

Dự án tiếp theo của Jun Ji-hyun, Daisy đã hợp tác với Jung Woo-sung (người thường xuyên xuất hiện cùng với cô trong quảng cáo Giordano và 2% Lotte Chilsung Water), và đã thu hút sự chú ý khi quay 100% địa điểm ở Hà Lan và sử dụng đạo diễn Andrew Lau của Hồng Kông (Infernal Affairs).[3][21][22]

2006–2010: Ra mắt tại Hollywood[sửa | sửa mã nguồn]

Tại một sự kiện quảng bá cho bộ phim Máu: ma cà rồng cuối cùng năm 2009

Cuối năm 2006, truyền thông tiết lộ rằng Jun Ji-hyun sẽ ra mắt tại Hollywood sau một thời gian dài ấp ủ với vai chính trong Máu: ma cà rồng cuối cùng.[23] Việc hợp tác quốc tế, được quay tại Trung Quốc và Argentina vào năm 2007, là bản chuyển thể trực tiếp của một bộ phim hoạt hình nổi tiếng của Nhật Bản.[3][24] Cô đã trải qua ba tháng khổ luyện để đóng vai nữ anh hùng võ thuật cầm kiếm.[23] Trong quá trình quay phim và quảng bá cho bộ phim trước khi phát hành năm 2009,[25][26] cô đã lấy tên phương Tây là Gianna Jun.[27] Jun Ji-hyun sau đó ra mắt thương hiệu quần jean xa xỉ của riêng mình vào năm 2008, được đặt tên là "Gianna by True Religion", dòng sản phẩm nổi tiếng đầu tiên của cô. Cô đã tham gia vào mọi giai đoạn sản xuất, từ thiết kế đến quyết định phù hợp và trang trí với các phụ kiện.[28]

Đối với bộ phim Người đàn ông siêu nhân, Jun Ji-hyun đã cắt đi mái tóc dài mượt đặc trưng của mình để vào vai một nhà sản xuất phim tài liệu hoài nghi, gặp một anh hùng thời hiện đại, mặc áo sơ mi Hawaii, chiến đấu với sự thờ ơ ở thành thị và thuyết phục những đức tính của việc cho mượn tay. Ban đầu cô cảm thấy bị áp lực khi có cơ hội làm việc với nam diễn viên nổi tiếng Hwang Jung-min, cô nói: "Mặc dù may mắn có thể có liên quan, tôi nghĩ rằng đó là định mệnh để một diễn viên 'gặp' tác phẩm mới. Vào ngày đầu tiên tôi gặp anh ấy, tôi nhận ra rằng tôi có nhiều điều để học hỏi từ anh ấy, không chỉ từ diễn xuất của anh ấy, mà còn với tư cách cá nhân."[29]

Năm 2010, cô đóng cặp với nữ diễn viên Trung Quốc Lý Băng Băng trong bộ phim tiếng Anh Tuyết Hoa và cây quạt bí mật, dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên bán chạy của Lisa See, do Wayne Wang (The Joy Luck Club) đạo diễn. Bộ phim lấy bối cảnh Trung Quốc từ thế kỷ 19 xa xôi, kể về tình bạn trọn đời giữa hai người phụ nữ, Lily và Snow Flower, và sự giam cầm của họ bị áp đặt bởi các quy tắc ứng xử văn hóa nghiêm ngặt dành cho phụ nữ thời đó.[30][31][32] Cô được Annie Leibovitz chụp ảnh cho số tháng 7 của tạp chí Vogue phiên bản Mỹ, nữ diễn viên đầu tiên của Hàn Quốc được xuất hiện trên tạp chí thời trang mang tính biểu tượng.[33]

2012–nay: Hồi sinh sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Liên hoan phim quốc tế Busan, ngày 22 tháng 7 năm 2012

Là một phần trong dàn diễn viên chính của Đội quân siêu trộm, Jun Ji-hyun đã chiếm trọn sự chú ý của khán giả trong bộ phim trộm cắp năm 2012 của Choi Dong-hoon về những tên trộm đến từ Hàn Quốc và Trung Quốc đã hợp tác với nhau để đánh cắp một viên kim cương trị giá 30 triệu USD, được khóa đặc biệt phòng tại một sòng bạc ở Macau.[34][35][36] Đội quân siêu trộm trở thành bộ phim Hàn Quốc bán chạy thứ hai mọi thời đại.[37]

Tiếp theo cô đóng vai một dịch giả kết hôn với một điệp viên tình báo Bắc Triều Tiên trong bộ phim kinh dị gián điệp 2013, Hồ sơ Berlin, và đạo diễn Ryoo Seung-wan cũng đã ca ngợi những cảnh hành động của Jun Ji-hyun và phương ngữ Bắc Triều Tiên của cô.[38] Thành công của Jun Ji-hyun trên màn ảnh rộng đã khẳng định vị thế của cô là một trong những nữ diễn viên hàng đầu tại Hàn Quốc, đồng thời là một trong những diễn viên có doanh thu phòng vé lớn nhất ở Chungmuro.[39]

14 năm sau Happy Together năm 1999, Jun Ji-hyun đã trở lại truyền hình trong bộ phim tình cảm giả tưởng rất được mong đợi, Vì sao đưa anh tới,[40] cùng với bạn diễn Kim Soo-hyun.[41] Jun Ji-hyun đóng vai một nữ diễn viên hàng đầu thời hiện đại phải lòng một người ngoài hành tinh đã hạ cánh xuống trái đất 400 năm trước trong triều đại Joseon, do Kim Soo-hyun thủ vai. Bộ phim là một thành công trên bảng xếp hạng, tạo ra xu hướng thời trang, trang điểm và nhà hàng.[42] Jun Ji-hyun đã giành được Daesang (Giải thưởng danh giá), giải thưởng cao nhất dành cho truyền hình, tại Baeksang Arts Awards 2014 và SBS Drama Awards 2014.[43][44] Bộ phim đã củng cố vị thế của Jun Ji-hyun với tư cách là người dẫn đầu của Hallyu và cô đã được trao giải thưởng của Tổng thống tại Korean Popular Culture and Arts Awards.[45][46]

Năm 2015, cô tái hợp với đạo diễn Choi Dong-hoon cho Sứ mệnh truy sát, một bộ phim hành động gián điệp lấy bối cảnh thời thuộc địa những năm 1930, trong đó cô vào vai một tay bắn tỉa tập hợp một đội chiến binh độc lập để giết một chỉ huy quân đội Nhật Bản và một ông trùm doanh nghiệp thân Nhật Bản.[47][48] Bộ phim là một thành công phòng vé khác cho Choi Dong-hoon và Jun Ji-hyun, Sứ mệnh truy sát là bộ phim Hàn Quốc có doanh thu cao nhất trong năm cũng như là bộ phim có doanh thu cao thứ bảy ở mọi thời đại trong lịch sử điện ảnh Hàn Quốc.[49] Jun Ji-hyun được trao giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Grand Bell Awards và Max Movie Awards.[50][51]

Vào tháng 1 năm 2016, công ty giải trí và truyền thông Hàn Quốc, CJ E&M đã mua lại công ty Culture Depot của cô.[52] Cùng năm, Jun Ji-hyun được xếp hạng 8 trong trong danh sách những người nổi tiếng quyền lực nhất Hàn Quốc do tạp chí Forbes bình chọn. Đây là năm thứ hai liên tiếp của cô trong Top 10, được xếp hạng 4 năm 2015.[53][54][55]

Vào tháng 11 năm 2016, Jun Ji-hyun đã trở lại màn ảnh nhỏ trong bộ phim tình cảm giả tưởng Huyền thoại biển xanh của SBS cùng với Lee Min-ho, tái hợp với biên kịch Park Ji-eun của Vì sao đưa anh tới.[56] Jun Ji-hyun xếp thứ 9 trong danh sách 10 diễn viên xuất sắc nhất năm 2016 của Gallup Korea, trở thành người phụ nữ duy nhất nằm trong danh sách.[57]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn 600 khách, bao gồm những người nổi tiếng, bạn bè thân thiết và gia đình của ngôi sao, đã tham dự đám cưới của cô với người bạn từ thuở nhỏ là nhân viên ngân hàng Choi Joon-hyuk vào ngày 13 tháng 4 năm 2012 tại khách sạn Shilla ở Jangchung-dong, trung tâm Seoul.[58][59][60] Chồng cô là cháu ngoại của nhà thiết kế hanbok nổi tiếng Lee Young-hee và là con trai của nhà thiết kế thời trang Lee Jung-woo.[61][62] Jun Ji-hyun đã hạ sinh đứa con đầu lòng của cả hai, một bé trai, vào ngày 10 tháng 2 năm 2016.[63] Cô hạ sinh con trai thứ hai vào ngày 26 tháng 1 năm 2018.[1]

Pháp lý[sửa | sửa mã nguồn]

Jun Ji-hyun, cùng với 6 ngôi sao Hàn Quốc khác (Jung Woo-sung, Kim Sun-a, Jo In-sung, Ji Jin-hee, Cha Tae-hyun and Yang Jin-woo), đã kiện tạp chí điện ảnh hàng tháng Screen vào năm 2006 vì sử dụng hình ảnh của họ mà không được phép.[64] Tòa án quận trung tâm Seoul phán quyết năm 2007 rằng nhà xuất bản phải trả từ 5 triệu ₩ đến 15 triệu ₩ cho mỗi ngôi sao vì vi phạm quyền công khai của họ.[65]

Năm 2009, cảnh sát phát hiện ra rằng điện thoại di động của Jun Ji-hyun đã được nhân bản bất hợp pháp. Cảnh sát thành phố Seoul đã bắt giữ một thám tử tư, được xác định là Kim, người đã làm chứng rằng nó được làm theo lệnh của SidusHQ (công ty Jun Ji-hyun từng trực thuộc 13 năm), anh được trả 6.4 triệu ₩ bởi anh trai của người sáng lập công ty và sau đó là CEO Jung Hoon-tak. Cảnh sát cho biết công ty quản lý của Jun Ji-hyun đã sử dụng điện thoại nhân bản để theo dõi cô trong nỗ lực kiểm soát mọi khía cạnh của cuộc sống. SidusHQ phủ nhận các cáo buộc.[66][67][68][69] Jung Hoon-tak sau đó đã được trong sạch sau khi cảnh sát không thể tìm thấy bất kỳ bằng chứng cụ thể nào về sự liên quan trực tiếp của anh.[70] Kim đã bị kết án một năm tù vì xâm phạm quyền riêng tư, anh trai của Jung Hoon-tak đã nhận án tù treo.[71][72] Vì vụ bê bối, nhiều người dự đoán cô sẽ rời đi sau khi hết hạn hợp đồng, nhưng cô bất ngờ gia hạn hợp đồng với SidusHQ thêm một năm nữa. Sau đó vào năm 2011, cô đã thành lập công ty quản lý riêng của mình J&Co,[73] sau này được đổi tên thành Culture Depot.

Vào năm 2011, Giám đốc điều hành SidusHQ, Jung Hoon-tak đã bị buộc tội sử dụng trái phép tài khoản ngân hàng của Jun Ji-hyun để bỏ túi lợi nhuận từ việc sáp nhập và mua lại. Jung Hoon-tak bị cáo buộc đã kiếm được 200 triệu ₩ sau khi mua một cổ phần trong cơ sở KOSDAQ-listed Stom E&F vào năm 2009 với một tài khoản dưới tên của Jun Ji-hyun và thông báo qua một hồ sơ công khai vài tháng sau đó rằng anh sẽ mua Stom E&F. Jung Hoon-tak và cựu CEO của Stom E&F, Kwon Seung-shik đã được báo cáo để đạt được lợi nhuận không công bằng bằng cách rò rỉ thông tin về M&A. Trong một cuộc điều tra của Dịch vụ giám sát tài chính, Jun Ji-hyun đã làm chứng rằng cô không biết về một tài khoản như vậy tồn tại dưới tên của mình.[74] Jung Hoon-tak từ chối cáo buộc.[75]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Nguồn
1999 Valentine trắng Jung-min
2000 Người tình không chân dung Eun-joo [6]
2001 Cô nàng ngổ ngáo The Girl [7]
2003 The Uninvited Yeon [12]
2004 Ngọn gió yêu thương Yeo Kyung-jin [15]
2006 Daisy Hye-young [22]
2008 Người đàn ông siêu nhân Song Soo-jung [29]
2009 Máu: ma cà rồng cuối cùng Saya Otonashi [24]
2011 Tuyết Hoa và cây quạt bí mật Sophia/Snow Flower [30]
2012 Đội quân siêu trộm Yenicall [76][77][78]
2013 Hồ sơ Berlin Ryun Jung-hee [79][80][81]
2015 Sứ mệnh truy sát Ahn Ok-yun/Mitsuko [82][83][84]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Kênh Nguồn
1998 Fascinate My Heart Ka-yeong SBS [85]
1999 Happy Together Seo Yoon-joo [86][87]
2013–2014 Vì sao đưa anh tới Cheon Song-yi [88][89]
2016–2017 Huyền thoại biển xanh Shim Chung/Se-hwa [90][91]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên chương trình Ghi chú Kênh Nguồn
1998 Inkigayo MC cùng với Kim Seung-hyun SBS [92]

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Song Title Nghệ sĩ Nguồn
1997 "Will You Understand" Cho Kyu Man
1999 "The Beginning of Love" Leon Lai
2000 "Hey Girl" Jang Hyuk (T.J Project)
"Love of the Sun and the Moon"
2002 "Love Is Always Thirsty" Yumi [93]

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Jun Ji-hyun là một trong những người nổi tiếng có thu nhập cao nhất ở Hàn Quốc.[94] Năm 2014, cô kiếm được khoảng 20 tỷ ₩ từ tiền quảng cáo.[95] Nghiên cứu thị trường trong cùng năm đó cho thấy dựa trên giá trị nắm giữ bất động sản, cô đứng đầu trong số các ngôi sao nữ Hàn Quốc, và đứng thứ 4 trong cả nam và nữ.[96] Năm 2016, Jun kiếm được 14 tỷ ₩ cho 14 quảng cáo mà cô đã quay, lấy lại vị trí của mình ở đầu bảng xếp hạng quảng cáo.[97]

Một thỏi son cô dùng trong Vì sao đưa anh tới, YSL "Rouge Pur Couture No. 52" đã được bán hết trên toàn thế giới, trong khi chiếc áo khoác mà cô mặc trong chương trình đã gây ra sự tăng vọt về doanh thu của hơn 2,500 cửa hàng ShesMiss trong mười ngày.[98][99][100]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Result Nguồn
1999 35th Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất Valentine trắng Đoạt giải [101]
SBS Drama Awards Giải thưởng Ngôi sao mới Happy Together Đoạt giải [102]
Giải thưởng phổ biến Netizen Đoạt giải
2001 22nd Blue Dragon Film Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Cô nàng ngổ ngáo Đề cử
2002 39th Grand Bell Awards Đoạt giải [103]
Giải thưởng phổ biến Đoạt giải
2003 3rd Korea World Youth Film Festival Nữ diễn viên được yêu thích nhất Đoạt giải [104]
2006 43rd Grand Bell Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Daisy Đề cử [105]
2007 Korean Entertainment Industry Society Giải thưởng Ngôi sao (Phim) Không có Đoạt giải [106]
2012 56th Asia-Pacific Film Festival Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Đội quân siêu trộm Đề cử
2013 7th Asian Film Awards Đề cử [107]
49th Baeksang Arts Awards Đề cử
7th Mnet 20's Choice Awards 20's Ngôi sao điện ảnh - Nữ Hồ sơ Berlin Đề cử
17th Puchon International Fantastic Film Festival Giải thưởng Lựa chọn của Nhà sản xuất Đội quân siêu trộm, Hồ sơ Berlin Đoạt giải [108]
33rd Korean Association of Film Critics Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Hồ sơ Berlin Đề cử [109]
2014 50th Baeksang Arts Awards Daesang (Giải thưởng danh giá) Vì sao đưa anh tới Đoạt giải [43][110]
Nữ diễn viên xuất sắc nhất, phim truyền hình Đề cử
Giải thưởng thời trang InStyle Không có Đoạt giải
Korea Tourism Awards Ngôi sao của du lịch Hàn Quốc Không có Đoạt giải [111]
41st Korea Broadcasting Awards Nam diễn viên/Nữ diễn viên xuất sắc nhất Vì sao đưa anh tới Đoạt giải [112]
7th Korea Drama Awards Daesang (Giải thưởng danh giá) Đề cử
3rd APAN Star Awards Giải thưởng xuất sắc hàng đầu, nữ diễn viên trong phim ít tập Đề cử [113]
Giải thưởng ngôi sao Hallyu Đoạt giải [114]
SBS Drama Awards Daesang (Giải thưởng danh giá) Đoạt giải [44][115]
Giải thưởng xuất sắc hàng đầu, nữ diễn viên trong phim truyền hình đặc biệt Đề cử
Giải thưởng PD Đoạt giải
Top 10 ngôi sao Đoạt giải
Cặp đôi xuất sắc nhất (với Kim Soo-hyun) Đoạt giải
2015 13th Sichuan Television Festival Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đoạt giải [116]
24th Buil Film Awards Sứ mệnh truy sát Đề cử
6th Korean Popular Culture and Arts Awards Giải thưởng của Tổng thống Không có Đoạt giải [46]
52nd Grand Bell Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Sứ mệnh truy sát Đoạt giải [50]
36th Blue Dragon Film Awards Đề cử [117]
2016 11th Max Movie Awards Đoạt giải [118]
21st Chunsa Film Art Awards Đề cử [119]
52nd Baeksang Arts Awards Đề cử [120]
16th Korea World Youth Film Festival Nữ diễn viên được yêu thích nhất Đoạt giải [121]
SBS Drama Awards Daesang (Giải thưởng danh giá) Huyền thoại biển xanh Đề cử [122]
Giải thưởng xuất sắc hàng đầu, nữ diễn viên trong phim giả tưởng Đề cử
Cặp đôi xuất sắc nhất (với Lee Min-ho) Đoạt giải [123]
Giải thưởng Top 10 ngôi sao Đoạt giải [124]
Giải thưởng Ngôi sao K-Wave Đề cử
Giải thưởng Học viện thần tượng - Ăn uống tốt nhất (Meokbang) Đoạt giải [125]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Actress Jun Ji-hyun gives birth to second son”. Yonhap News Agency. 26 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2018. 
  2. ^ Wang, Ping (ngày 23 tháng 1 năm 2006). “New image for sassy Girl”. CCTV International. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă â b c d Paquet, Darcy. “Actors and Actresses of Korean Cinema: Jeon Ji-hyun”. Koreanfilm.org. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ “10LINE - 전지현”. 10Asia (bằng tiếng Hàn). 26 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  5. ^ “전지현 삼성전자 CF모델에”. KMIB (bằng tiếng Hàn). 8 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  6. ^ a ă [영화]'시월애' 주연 이정재-전지현 인터뷰. The Donga Ilbo (bằng tiếng Hàn). 8 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  7. ^ a ă Ko, Ji-seon (19 tháng 7 năm 2015). “Jun Ji-hyun talks about her love for debut film My Sassy Girl. K-pop Herald. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015. 
  8. ^ “Top Korean Female Star Makes Waves in the Chinese Mobile Market”. The Chosun Ilbo. 7 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ “Korean stars dubbed ‘Nation’s first love’”. Kpop Herald. 10 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  10. ^ 전지현에 대한 3가지 보고서 [3]. Cine21 (bằng tiếng Hàn). 26 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  11. ^ “A Tale of Two Jeons”. The Chosun Ilbo. 1 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  12. ^ a ă 부담스럽다,그래도 달려들었다,<4인용 식탁> 전지현&박신양. Cine21 (bằng tiếng Hàn). 30 tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  13. ^ Hong Joo-hyun, Wohn Dong-hee (20 tháng 1 năm 2005). “Beauty brands seek Korean faces”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ Shim, Seo-hyun (10 tháng 12 năm 2011). “Jun Ji-hyun replaced as Elastine’s go-to girl”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  15. ^ a ă [씨네피플]영화 ’내 여자친구를 소개합니다’ 주연 전지현. The Donga Ilbo (bằng tiếng Hàn). 24 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  16. ^ “Jeon Ji-hyun Cedes Advertising Power to Jang Dong-gun”. The Chosun Ilbo. 30 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  17. ^ “When Stars Bank on Advertising Only”. The Chosun Ilbo. 5 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  18. ^ Windstruck to Premiere in Hong Kong”. The Chosun Ilbo. 28 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  19. ^ Walsh, Bryan (31 tháng 5 năm 2004). “A Force to Reckon With”. Time. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  20. ^ “Jang Dong-gun Voted Korea's Most Bankable Star”. The Chosun Ilbo. 20 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  21. ^ “Jeon Ji-hyun Vehicle Aims Straight for the Tear Ducts”. Soompi. The Chosun Ilbo. 19 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  22. ^ a ă 다시 출발점에 선 여배우의 고백, <데이지>의 전지현. Cine21 (bằng tiếng Hàn). 12 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  23. ^ a ă “Korean Stars Make Beeline for Hollywood”. The Chosun Ilbo. 9 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  24. ^ a ă Garcia, Cathy Rose A. (5 tháng 6 năm 2009). “Jun Ji-hyun Shines but Blood Disappoints”. The Korea Times. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  25. ^ “Jun hypes vampire movie”. Korea JoongAng Daily. 5 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ “Jeon Ji-hyun Looks to Confound Critics in Vampire Film”. The Chosun Ilbo. 18 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  27. ^ Frater, Patrick (22 tháng 5 năm 2007). “Korean star reborn in Blood: Jun Ji-hyun changes name”. Variety. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  28. ^ “Actress Jeon to Launch Line of Blue Jeans”. The Chosun Ilbo. 21 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  29. ^ a ă Lee, Hyo-won (8 tháng 1 năm 2008). “Jun, Hwang Become Super Heroes”. The Korea Times. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  30. ^ a ă “Jun Ji-hyun Cast in Snow Flower”. The Korea Times. 7 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  31. ^ “Jeon Ji-hyun to Star in Chinese Movie”. The Chosun Ilbo. 5 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  32. ^ “Jeon Ji-hyun Narrates Hollywood Trailer”. The Chosun Ilbo. 28 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  33. ^ “Jeon Ji-hyun to feature in July Issue of Vogue”. The Chosun Ilbo. 28 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  34. ^ Lee, Hye-ji (11 tháng 7 năm 2012). “Jun Ji-hyun "The success of My Sassy Girl gave me both light and shadow". 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  35. ^ “Jeon Ji-hyeon satisfied with her role in new movie”. The Korea Herald. 23 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  36. ^ “Jeon Ji-hyun Gets Back into Groove with The Thieves. The Chosun Ilbo. 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  37. ^ The Thieves Emerges as Most Popular Korean Movie”. The Chosun Ilbo. 4 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  38. ^ "Gianna Jun to be in Ryoo's Berlin File". Korean Film Council. 19 December 2011. Retrieved 18 November 2012.
  39. ^ Jeong, Ji-won (7 tháng 2 năm 2013). “Jun Ji-hyun starts anew”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013. 
  40. ^ “Jeon Ji-hyun Back in My Sassy Girl Mode for TV Soap”. The Chosun Ilbo. 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2014. 
  41. ^ Bae, Ji-sook (17 tháng 12 năm 2013). “Gianna Jun proves aging is good: Actress to return to small screen with Kim Soo-hyun on My Love from the Star. The Korea Herald. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2014. 
  42. ^ Chung, Ah-young (2 tháng 3 năm 2014). My Love sparks hallyu sensation”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2014. 
  43. ^ a ă Chung, Joo-won (27 tháng 5 năm 2014). “Song Gang-ho, Jun Ji-hyun get top nods at Baeksang Awards”. The Korea Herald. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2014. 
  44. ^ a ă Chung, Joo-won (1 tháng 1 năm 2015). “Jun Ji-hyun beats Kim Soo-hyun in SAF”. The Korea Herald. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  45. ^ “The Cheon Song-yi phenomenon”. Korea JoongAng Daily. 7 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2018. 
  46. ^ a ă Chung, Joo-won (1 tháng 1 năm 2015). “Jeon Ji-hyun to Receive President's Award”. The Korea Herald. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  47. ^ Won, Ho-jung (22 tháng 6 năm 2015). Assassination an ode to Korea's 1930s independence fighters”. The Korea Herald. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  48. ^ “Jeon Ji-hyun Shows off Tough Side in New Espionage Film”. The Chosun Ilbo. 1 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2015. 
  49. ^ Lee, Hyo-won (18 tháng 8 năm 2015). “South Korea Box Office: Local Action Movie Assassination On Top, Becomes Biggest Film of 2015”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016. 
  50. ^ a ă “‘Ode to My Father’ Takes Ten Trophies at Grand Bell Awards”. Variety. 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  51. ^ '베테랑', 관객이 뽑은 최고의 영화상..'4관왕' 싹쓸이[종합]”. Osen. 25 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  52. ^ Kang, Doo-soon; Kim, Hye-soon (7 tháng 1 năm 2016). “Korea's CJ E&M to take over Jun Ji-hyun agency Culture Depot”. Pulse. Maeil Business Newspaper. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016. 
  53. ^ 중앙시사매거진. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  54. ^ “Yoo Ah-in chosen as best actor in Korea”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Hàn). 17 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  55. ^ 1위 지킨 엑소, 단숨에 정상권 오른 유아인·혜리. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). 25 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  56. ^ “Lee Min-ho, Jun Ji-hyun to star together”. The Korea Herald. Maeil Business Newspaper. 30 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2016. 
  57. ^ “Jun Ji-hyun stands out on 10 best actors list”. The Korea Herald. 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  58. ^ Cho, Chung-un (13 tháng 4 năm 2012). “Actress Jun Ji-hyun ties the knot”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  59. ^ “Today's Photo: April 14, 2012”. The Chosun Ilbo. 14 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  60. ^ “Jeon Ji Hyun marries Choi Jun Hyuk in lavish ceremony”. Channel NewsAsia. 16 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  61. ^ Sunwoo, Carla (23 tháng 3 năm 2012). “Designer talks about actress granddaughter-in-law Jun Ji-hyun”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  62. ^ Kwon, Mee-yoo (13 tháng 4 năm 2012). “Actress Jun ties knot with designer's grandson”. The Korea Times. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  63. ^ Kim, Hyang-min (11 tháng 2 năm 2016). “Jun Ji-hyun gives birth to a boy”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016. 
  64. ^ Kim, Seo-jung (20 tháng 3 năm 2007). “Stars break new ground in publicity rights case”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  65. ^ “Stars Win Suit Over Unauthorized Photos”. The Chosun Ilbo. 15 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  66. ^ Bae, Ji-sook (20 tháng 1 năm 2009). “Actress Spied Over Duplicated Phones”. The Korea Times. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  67. ^ Jang Joo-young, Park Sun-young (21 tháng 1 năm 2009). “Top actress' cell phone cloned to eavesdrop”. Korea JoongAng Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  68. ^ “Who Spied on Jeon Ji-hyun?”. The Chosun Ilbo. 21 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  69. ^ “Jeon Ji-hyun Scandal Turns Searchlight on Agencies”. The Chosun Ilbo. 21 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  70. ^ “Jeon Ji-hyun's Agent Cleared of Phone Cloning”. The Chosun Ilbo. 17 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  71. ^ “Jeon Ji-hyun Cell Phone Rigger Gets Jail”. The Chosun Ilbo. 27 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  72. ^ Jang, Joo-young (23 tháng 1 năm 2009). “Man who cloned star's phone arrested”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  73. ^ “Jeon Ji-hyun Stars in Jeans Catalogue”. The Chosun Ilbo. 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  74. ^ Kim, Jessica (7 tháng 4 năm 2011). “Jun Ji-hyun investigated by financial watchdog in Jan”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  75. ^ Kim, Jessica (7 tháng 4 năm 2011). “IHQ chief denies using Jun Ji-hyun's bank account illegally”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  76. ^ Hong, Grace Danbi (5 tháng 7 năm 2012). “Jun Ji Hyun is Just Getting Started as an Actress”. enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  77. ^ Lee, Jin-ho (22 tháng 7 năm 2012). “Interview: Jun Ji Hyun Invites Everyone Into Her Veil of Secrecy”. enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  78. ^ Lee, Jin-ho (13 tháng 6 năm 2012). “Jun Ji Hyun Talks about Kissing with Kim Soo Hyun for The Thieves. enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  79. ^ “Interview with Ha Jeong-woo, Jeon Ji-hyun, and Ryu Seung-beom of The Berlin File”. KOFICE. 20 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013. 
  80. ^ Son, Jin-ah (22 tháng 1 năm 2013). “Jun Ji Hyun talks about speaking in North Korean dialect in the movie”. StarN News. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  81. ^ Sunwoo, Carla (5 tháng 1 năm 2013). “Jun Ji-hyun injured in action scene”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2013. 
  82. ^ Yoon, Sarah (22 tháng 6 năm 2015). “Jun Ji-hyun released stress by shooting guns”. K-pop Herald. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  83. ^ Ji, Yong-jin (3 tháng 7 năm 2015). “Not trying to be the pretty girl”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2015. 
  84. ^ “Actress Jun Ji-hyun faces second heyday with Assassination. The Korea Times. 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2015. 
  85. ^ 전지현, 데뷔 시절 보니…17년 전부터 한결같은 미모. The Fact (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  86. ^ 해피투게더·애인있어요 배유미, '키스 먼저 할까요' 또 통했다. Wow TV (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  87. ^ “SBS 새 수목드라마 `해피투게더'. Yonhap News Agency (bằng tiếng Hàn). 14 tháng 6 năm 1999. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  88. ^ Lee, Sun-min (17 tháng 8 năm 2013). “TV role for Jun Ji-hyun”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2014. 
  89. ^ Won, Ho-yeon (26 tháng 12 năm 2013). “Jun Ji-hyun back on TV, sassier, flashier than ever”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2014. 
  90. ^ Kil, Sonia (30 tháng 5 năm 2016). “Gianna Jun and Lee Min-ho to Star in Korean TV Series ‘Blue Sea'. Variety. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  91. ^ “Actress Jun Ji-hyun plays tough mermaid in new series”. Yonhap News Agency. 14 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  92. ^ 전지현에 대한 3가지 보고서 - 3. Cine21 (bằng tiếng Hàn). 26 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2018. 
  93. ^ '슈가맨' 유미, '사랑은 언제나 목마르다'로 인기…정우성·전지현 출연 뮤비 다시 봐도 '대박'. Newspim (bằng tiếng Hàn). 17 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  94. ^ “2014’s top pitchwoman is Jun Ji-hyun”. Korea JoongAng Daily. 2 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2018. 
  95. ^ Choi, He-suk (14 tháng 1 năm 2015). “Kim Soo-hyun, Jun Ji-hyun on course for jackpot year”. The Korea Herald. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  96. ^ “My Love for Real Estate: Jun Ji-hyun richest female celebrity in property assets”. The Korea Times. 5 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  97. ^ '섹션TV' 전지현, 올해 140억원 광고수익 '대박'. Nate (bằng tiếng Hàn). 11 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  98. ^ Hou, Kathleen (3 tháng 4 năm 2014). “A Korean TV Show Caused a YSL Lipstick Shortage”. The Cut. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  99. ^ Park, Si-soo (30 tháng 4 năm 2014). “Six Appeal”. The Korea Times. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  100. ^ “Jeon Ji-hyun Boosts Fashion Sales”. The Chosun Ilbo. 6 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. 
  101. ^ 제35회 백상예술대상 시상식[박영선]. imbc (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 4 năm 1999. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  102. ^ “SBS 연기대상에 심은하”. Yonhap News Agency (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 12 năm 1999. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  103. ^ <집으로…> 대종상 작품상! 설경구, 전지현은 남녀주연상. Max Movie (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  104. ^ 전지현, 청소년이 뽑은 최고의 여배우. Cine21 (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  105. ^ ‘왕의 남자’ 15개 부문 노미네이트. Yonhap News Agency (bằng tiếng Hàn). 20 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  106. ^ “Jang Dong-gun, Bae Yong-joon and others awarded at the First Annual Hallyu Awards”. Hancinema. Broasia. 16 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  107. ^ “PIETA Nominated for Best Film at Asian Film Awards”. Korean Film Biz Zone. 27 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  108. ^ Lee, Sun-min (11 tháng 7 năm 2013). “Lee, Jun named Producers' Choice”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  109. ^ 제33회 영평상 시상식 열려..영화계 한자리에. Star News (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  110. ^ “Paeksang Arts nominees announced”. Korea JoongAng Daily. 29 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  111. ^ “Jun Ji-hyun Recognized for Boosting Tourism with Hit Drama”. The Chosun Ilbo. 23 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  112. ^ '정도전', '한국방송대상' 3관왕 영예…★ 불참 아쉬웠다(종합). TV Report (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014. 
  113. ^ “2014 에이판스타어워즈, '별그대' '응사' 괜사' '장보리' 역대급 경쟁”. TV Report (bằng tiếng Hàn). 11 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  114. ^ [포토엔]전지현 아역 김현수 ‘미래가 기대되는 미모’. Newsen (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  115. ^ “전지현, SBS 연기대상 대상 영예..'별그대' 9관왕(종합)”. Star News (bằng tiếng Hàn). 1 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  116. ^ “[TV특종] 전지현, 중국 '골드 판다' 품다”. KBS News (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  117. ^ “Nomination Announced for 36th Edition of the Blue Dragon Awards”. Korean Film Biz Zone. 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  118. ^ “Winners of ‘2016 Max Movie Best Film Awards’”. Mnet. 26 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  119. ^ '암살'이냐 '사도'냐..2016 춘사영화상 최우수작품 경쟁. Star News (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  120. ^ “2016 백상예술대상 주인공 누가될까…후보 보니 ‘치열’”. The Donga Ilbo (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  121. ^ “Yoo Ah-in, Jun Ji-hyun most popular Korean actors with teens”. The Korea Herald. 17 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  122. ^ Kim, Jin-suk (5 tháng 12 năm 2016). “[SBS 연기대상①]'멱살 잡고 이끈' 김래원·조정석·전지현·한석규 [일간스포츠] 입”. JTBC (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2016. 
  123. ^ “[SBS 연기대상] 베스트커플상 이민호, "(전)지현 누나는 오늘도 물에" 전지현 불참 아쉬워”. Seoul Economic Daily (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  124. ^ “[SBS 연기대상] 한석규-전지현-이민호 등 10대 스타상 수상”. Sports Donga (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018. 
  125. ^ “SBS Drama Awards 2016 Winners”. HanCinema. 1 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]