Jun Ji-hyun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jun Ji-hyun
Jun Ji-hyun in 2012 02.jpg
Jun Ji-hyun năm 2012
Sinh Wang Ji-hyun
30 tháng 10, 1981 (35 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Quốc gia Hàn Quốc
Tên khác Gianna Jun
Học vấn Đại học Dongguk
ngàng Phim và Kịch nghệ
Công việc Diễn viên, người mẫu
Năm hoạt động 1997–nay
Đại lý Culture Depot
Tôn giáo Phật giáo
Vợ (chồng) Choi Jun-hyuk (m. 2012)
Con cái Một (con trai)
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 전지현
Hanja
Romaja quốc ngữ Jeon Ji-hyeon
McCune–Reischauer Chŏn Chi-hyŏn
Hán-Việt Toàn Trí Hiền
Tên thật
Hangul 왕지현
Hanja
Romaja quốc ngữ Wang Ji-hyeon
McCune–Reischauer Wang Chi-hyŏn
Hán-Việt Vương Trí Hiền

Jeon Ji Hyun (sinh ngày 30 tháng 10, 1981), còn được biết đến với tên Gianna Jun, là một diễn viên kiêm người mẫu Hàn Quốc. Cô bắt đầu nổi tiếng với phim hài tình cảm có doanh thu cao nhất năm 2001 là Cô nàng ngổ ngáo. Những phim đáng chú ý khác của cô là Ngọn gió yêu thương (2004), The Thieves (2012), The Berlin File (2013), cùng với phim truyền hình ăn khách Vì sao đưa anh tới (2013-2014)

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Wang Ji-hyun sinh ra và lớn lên tại Seoul, Hàn Quốc. Ước mơ từ thuở nhỏ của cô là trở thành tiếp viên hàng không nhưng bước ngoặt đến vào năm 16 tuổi, cô tình cờ được một biên tập viên thời trang phát hiện khi đi trên phố và bước chân vào nghề người mẫu.[1] Với nghệ danh Jun Ji-hyun, cô trở thành người mẫu cho tạp chí Ecole Magazine vào năm 1997.

Cô bắt đầu trở nên nổi tiếng với vai trò người mẫu và diễn viên truyền hình. Phim điện ảnh đầu tay Valentine Trắng của cô vào năm 1999 không mấy thành công mãi cho đến cuối năm đó khi đóng quảng cáo cho sản phẩm máy in My Jet của Samsung cô mới gây được chú ý. Biểu cảm và điệu nhảy của cô trong quảng cáo đã trở thành biểu tưởng với người Hàn Quốc trong độ tuổi thanh xuân[2]

Sau khi tiếp tục với công việc người mẫu và đóng phim truyền, cô đã tạo được ấn tượng tốt đầu tiên với khán giả qua phim điện ảnh Il Mare vào cuối năm 2000.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Cô kết hôn với người bạn từ thuở nhỏ là nhân viên ngân hàng Choi Jun-hyuk vào ngày 13 tháng 4 năm 2012. Trong tiệc cưới với hơn 600 khách mời, gồm nhiều ngôi sao và bạn bè thân thiết tại khách sạn Shilla ở Jangchung-dong, trung tâm Seoul. Chồng cô là cháu ngoại của nhà thiết kế hanbok nổi tiếng Lee Young-hee [3] và là con trai của nhà thiết kế thời trang Lee Jung-woo.[4][5][6][7][8][9] Cô cũng xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Elle ấn bản Hàn Quốc tháng 5 năm 2012 cũng như ấn bản tại Trung Quốc, Singapore và Đài Loan của tạp chí này trong bộ ảnh với nhiều loại váy cưới khác nhau.[10]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai
1999 White Valentine - Valentine Trắng Jung-min
2000 Il Mare - Nơi định mệnh thay đổi - Tình Yêu Kì Lạ Eun-joo
2001 My Sassy Girl - Cô Nàng Ngổ Ngáo The Girl
2003 The Uninvited Yeon
2004 Windstruck - Ngọn gió yêu thương Yeo Kyung-jin
2006 Daisy - Hoa Cúc Dại Hye-young
2008 A Man Who Was Superman - Người đàn ông siêu nhân Song Soo-jung
2009 Blood: The Last Vampire - Máu: ma cà rồng cuối cùng Saya Otonashi
2011 Snow Flower and the Secret Fan - Tuyết Hoa và cây quạt bí mật Sophia/Snow Flower
2012 The Thieves - Đội quân siêu trộm Yenicall
2013 The Berlin File - Hồ sơ Berlin Ryun Jung-hee
2015 Assassination Ahn Ok-yun

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Kênh phát sóng
1997 The Season of Puberty MBC
1998 Inkigayo (Popular Song) Dẫn chương trình SBS
Fascinate My Heart Wang Ga-young SBS
1999 Happy Together Seo Yoon-joo SBS
2013-2014 Vì sao đưa anh tới Chun Song-yi SBS
2016 Huyền thoại biển xanh Shim Chung/Sae Hwa SBS

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ
1999 "The Beginning of Love" Leon Lai
2000 "Hey Girl" Jang Hyuk (T.J Project)
"January Love"
2002 "Love Is Always Thirsty" Yumi

Awards and nominations[sửa | sửa mã nguồn]

Year Award Category Nominated work Result
1999 35th Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất White Valentine Đoạt giải
SBS Drama Awards Ngôi Sao Mới Happy Together Đoạt giải
2001 22nd Blue Dragon Film Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất My Sassy Girl Đề cử
2002 39th Grand Bell Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
Popularity Award Đoạt giải
2006 43rd Grand Bell Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Daisy Đề cử
2012 56th Asia-Pacific Film Festival Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất The Thieves Đề cử
2013 7th Asian Film Awards Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử
49th Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử
7th Mnet 20's Choice Awards 20's Movie Star - Female The Berlin File Đề cử
17th Puchon International Fantastic Film Festival[11][12] Producer's Choice Award The Thieves, The Berlin File Đoạt giải
33rd Korean Association of Film Critics Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất The Berlin File Đề cử
2014 50th Baeksang Arts Awards 'Giải thưởng lớn' (Daesang) for Television My Love from the Star Đoạt giải
Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (TV) Đề cử
InStyle Fashionista Award N/A Đoạt giải
Korea Tourism Awards[13] Star of Korean Tourism N/A Đoạt giải
41st Korea Broadcasting Awards Best Actor/Actress My Love from the Star Đoạt giải
7th Korea Drama Awards Giải thưởng lớn (Daesang) Đề cử
3rd APAN Star Awards Top Excellence Award, Actress in a Miniseries Đề cử
Hallyu Star Award Đoạt giải
SBS Drama Awards 'Giải thưởng lớn' (Daesang) Đoạt giải
Top Excellence Award, Actress in a Drama Special Đề cử
PD Award Đoạt giải
Top 10 Stars Đoạt giải
Best Couple Award (with Kim Soo-hyun) Đoạt giải
2015 24th Buil Film Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Assassination Đề cử
6th Korean Popular Culture and Arts Awards[14] President's Award N/A Đoạt giải
52nd Grand Bell Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Assassination Đoạt giải
36th Blue Dragon Film Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
2016 2016 Max Movie Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
52nd Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wang, Ping (ngày 23 tháng 1 năm 2006). “New image for sassy Girl”. CCTV International. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ Paquet, Darcy. “Actors and Actresses of Korean Cinema: Jeon Ji-hyun”. Koreanfilm.org. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ Sunwoo, Carla (ngày 23 tháng 3 năm 2012). “Designer talks about actress granddaughter-in-law Jun Ji-hyun”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ Cho, Chung-un (ngày 13 tháng 4 năm 2012). “Actress Jun Ji-hyun ties the knot”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ Kwon, Mee-yoo (ngày 13 tháng 4 năm 2012). “Actress Jun ties knot with designer's grandson”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  6. ^ “Today's Photo: ngày 14 tháng 4 năm 2012”. The Chosun Ilbo. Ngày 14 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ Lee, Jin-ho (ngày 14 tháng 4 năm 2012). “Jun Ji Hyun Ties Knot With Banker”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  8. ^ Han, Ah-yeong (ngày 14 tháng 4 năm 2012). “Jun Jihyun reveals her love story and propose”. StarN News. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. 
  9. ^ “Jeon Ji Hyun marries Choi Jun Hyuk in lavish ceremony”. Channel NewsAsia. Ngày 16 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  10. ^ Sunwoo, Carla (ngày 20 tháng 4 năm 2012). “Jun Ji-hyun to star in wedding pictorial for Elle Asia”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  11. ^ Lee, Eun-ah (10 tháng 7 năm 2013). “Lee Byung-hun, Jun Ji-hyun to Receive Producers Award at Puchon Film Fest”. TenAsia. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  12. ^ Lee, Sun-min (11 tháng 7 năm 2013). “Lee, Jun named Producers' Choice”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  13. ^ “Jun Ji-hyun Recognized for Boosting Tourism with Hit Drama”. The Chosun Ilbo. 23 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  14. ^ “Jeon Ji-hyun to Receive President's Award”. The Chosun Ilbo. 28 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]