Jung Yun-ho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Jung Yun-ho
Kpop World Festival 113 (cropped).jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhJung Yun-ho
Nghệ danhU-Know, U-Know Yunho
Sinh6 tháng 2, 1986 (33 tuổi)
Nguyên quánHàn QuốcGwangju, Hàn Quốc
Thể loạiPop, R&B, dance, electronic, ballad
Nghề nghiệpCa sĩ, vũ công, rapper, nhạc sĩ, người mẫu, diễn viên
Năm hoạt động2003 - nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websiteu-know.smtown.com
Jung Yunho
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữJeong Yunho
McCune–ReischauerChŏng Yunho
Hán-ViệtTrịnh Tuấn Hạo
Tên nghệ danh
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữYu-no Yun-ho
McCune–ReischauerYuno Yunho
Hán-ViệtDu Lỗ Tuấn Hạo

Jung Yun-ho (Hangul: 정윤호; Hanja: 鄭允浩; Hán-Việt: Trịnh Tuấn Hạo; sinh ngày 6 tháng 2 năm 1986) thường được biết đến với nghệ danh U-Know Yunho hay đơn giản hơn là U-Know tại Hàn Quốc hay Yunho (ユンホ Yunho?) (tại Nhật Bản), là một ca sĩ-nhạc sĩ, diễn viên, rapper, và là nhóm trưởng của nhóm nhạc TVXQ. Yunho bắt đầu sự nghiệp âm nhạc bằng việc gia nhập SM Entertainment vào năm 2001 và có mặt trong đội hình TVXQ vào năm 2003. Yunho được đánh giá là một trong những nghệ sĩ nam có gương mặt điển trai nhất xứ Hàn và ngoại hình vô cùng chuẩn mẫu.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yunho sinh ngày 6 tháng 2 năm 1986 tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc. Anh có một em gái tên Jung Ji Hye kém anh 2 tuổi. Một vài người trong gia đình làm việc trong ngành luật, cho nên ước mơ thởu nhỏ của anh là trở thành công tố viên.[1] Tuy nhiên đến khi học trung học, anh và một vài người bạn thành lập nhóm nhảy A+ và biểu diễn tại một vài cuộc thi nhảy trên cả nước.

Yunho có một tuổi thơ khá êm đềm cho đến năm anh 14, 15 tuổi thì gia đình anh gặp khó khăn trong cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, lúc bây giờ đã không chấp nhận quyết định trở thành ca sỹ của anh ấy. Trong thời gian làm thực tập sinh, Yunho thường phải ngủ tạm ở những trạm ga xe lửa, dùng giấy báo cũ làm chăn giữ ấm và nệm sống qua ngày. Anh đã phải đi làm thêm kiếm tiền phụ giúp gia đình, cũng như phải làm rất nhiều công việc vất vả khác khi lên Seoul vừa học vừa làm.

Nghệ danh U-Know, theo ý Yunho có thể viết thành "Yunho knows you" (Yunho biết bạn), thể hiện sự đồng cảm, hiểu biết với các thành viên DBSK trong tư cách trưởng nhóm.[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: TVXQ

Năm 13 tuổi, Yunho gia nhập SM Entertainment sau khi đoạt giải nhất một cuộc thi nhảy. Khi TVXQ chưa được thành lập, Yunho từng được công ty xếp vào cùng một nhóm với Jaejoong (thành viên DBSK sau này), HeechulKangin (thành viên Super Junior sau này), nhóm này dự định có tên là Four Seasons nhưng dự án không thành. Trước khi ra mắt cùng DBSK vào cuối năm 2003, Yunho đã từng xuất hiện trong MV "Diamond" của Dana với tư cách vũ công và rapper.

Ngoài vai trò ca sĩ, Yunho còn biết sáng tác và viết rap. Yunho hát đơn tiếng Nhật bài "Crazy Life" trong đĩa đơn "Close to you / Crazy Life", thuộc series TRICK của nhóm; sáng tác bài và viết lời "Checkmate"; viết lời, soạn nhạc và trình bày "Spokesman" cùng Dong-hae (Super Junior) trong tour diễn châu Á lần 2 - "O". Anh còn viết lời rap cho "Love Ater love" (nằm trong album Rising Sun của nhóm) cùng YoochunJunsu; viết lời rap cho "Wrong Number" và "Love Bye love" (nằm trong album Mirotic). Trong album mới đây Spellbound, Yunho cũng đã solo bài "November with love", bài hát mà anh đã cùng hợp tác sáng tác vơi đội ngũ Real Guys.

U-Know Yunho không phải là một nghệ sĩ có giọng ca quá xuất sắc trong nhóm nhưng anh là một vũ công có khả năng vũ đạo tuyệt vời bậc nhất của showbiz Hàn Quốc.

Tháng 3 năm 2010, Jung Yunho được chọn là nghệ sĩ châu Á biểu diễn một buổi hòa nhạc riêng để tưởng niệm ông vua nhạc pop Michael Jackson và đã biểu diễn rất thành công.

Từ cuối 2009, Jung Yunho trở thành người mẫu độc quyền cho hãng thời trang Evisu cho đến nay. Doanh số của Evisu tăng lên một cách đáng kinh ngạc từ sau khi Jung Yunho trở thành người mẫu, điều đó đủ cho thấy sức cuốn hút của chàng trai này.

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài lĩnh vực ca nhạc, Yunho còn hoạt động trong điện ảnh. Năm 2005-2006, anh cùng các thành viên khác của TVXQ tham gia diễn xuất trong một số tập của bộ phim ăn khách "Banjun Theater" và "Vacation". Năm 2009, anh đóng vai chính trong bộ phim "Heading to the Ground" (맨땅에 헤딩).

Trong thời gian từ cuối tháng 11/2010 Yunho tham gia vào một bộ phim được đánh giá sẽ là một trong những bộ phim thành công nhất 2011 - "Poseidon" - bộ phim nói về công việc của các cảnh sát biển Hàn Quốc với sự tham gia của nhiều diễn viên tài năng. Với bộ phim này, hi vọng rằng anh sẽ có 1 bước tiến mới trong sự nghiệp diễn xuất sau một "Heading to the Ground" bị đánh giá thấp.

Tuy nhiên, do một vài lý do bí ẩn, "Poisedon" đã bị trì trệ và đã không khởi quay như dự tính. Và sau đó, diễn viên chính của "Poisedon" không phải là anh nữa mà lại là Choi Si Won của Super Junior. Hiện chưa có một lời giải thích đích đáng nào về việc này.

Năm 2013 sau sự trở lại cùng với thành viên cùng nhóm Choikang Changmin trên sân khấu âm nhạc, anh cũng quay trở lại màn ảnh nhỏ với vai diễn Baek Dohoon, người thừa kế của tập đoàn kinh tế hàng đầu Hàn Quốc trong bộ phim Dã Vương. Câu chuyện xoay quanh người phụ nữ tham vọng Jo Da Hae (So Ae thủ vai), người có tham vọng thoát khỏi cảnh nghèo đói để trở thành đệ nhất phu nhân cùng với sự hy sinh của những người đàn ông đi qua đời cô. Với bộ phim này tuy diễn xuất của Jung Yunho cũng không được đánh giá quá cao do dàn diễn viên quy tụ nam chính, nữ chính đều là những diễn viên gạo cội nhưng chàng trai trẻ si tình Baek Dohoon phần nào vẫn chiếm được tình cảm của khán giả.

Năm 2014 được coi là năm thành công trong sự nghiệp diễn xuất của anh, với sự góp mặt trong một vai diễn quan trọng trong phim Nhật ký gác đêm (Night Watchman). Dù không phải vai nam chính, song nhân vật Kang Moo Seok do anh thủ vai được đánh giá là một nhân vật giữ vai trò quan trọng trong phim. Diễn xuất của Yunho được giới chuyên môn đánh giá tròn vai từ những tập đầu phim và bùng nổ ở giai đoạn cuối của phim khi mà những nhân vật chính được đánh giá cao hơn lại không thể làm tốt vai trò nhân vật của họ. Ở bộ phim này, diễn xuất của Jung Yunho và hình tượng nhân vật trung thần Kang Moo Seok tài hoa lạnh lùng chính là điểm sáng duy nhất của Nhật Ký Gác Đêm.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi gia nhập làng giải trí, Yunho cũng đã từng có bạn gái. Nhưng do hiểu lầm nên sau này cả hai đã chia tay. Trong một buổi phỏng vấn, Yunho từng nói sẽ kết hôn vào năm 27 tuổi tuy nhiên sau này anh lại trả lời rằng muốn kết hôn năm 30 tuổi, điều này có lẽ sẽ còn có nhiều thay đổi trong tương lai.

Yunho được biết đến như một người rất có đầu óc và thông minh. IQ của anh là 142. Thực tế, những năm còn trung học, tuy rất bận rộn vừa học vừa làm, nhưng Yunho vẫn luôn đạt điểm cao và được trao bằng khen cho việc không vắng mặt bất cứ một buổi học nào trong suốt 3 năm học. Tất cả mọi người đều yêu anh ấy.

Bị đầu độc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 10 năm 2006 khi đang quay cho một chương trình thực tế, anh bị một người đầu độc bằng cách trộn keo với nước và giả vờ là một người hâm mộ để đưa cho anh uống. Môi của Yunho thực sự chảy máu rất nhiều, nhưng anh không kiện người đó, bởi anh nói rằng anh cũng có một người em gái ở tuổi đó. Câu nói ấy đã làm hàng nghìn người rơi nước mắt vì sự cao cả của anh.[3]

Nghĩa vụ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Yunho được kết nạp vào Quân đội Hàn Quốc vào ngày 21 tháng 7 năm 2015.[4] Anh cũng đã xuất ngũ vào 20 tháng 4 năm 2017. [5][6]

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Chi tiết Thứ hạng cao nhất Số bản tiêu thụ
KOR[7]
U Know Y
True Colors 1
  • Hàn: 134,127[8]

Danh sách phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh
Tên phim Năm Vai Ghi chú
Dating on Earth 2009 Yunho Direct-to-video
Haru: An Unforgettable Day in Korea 2010 Diễn viên đóng thế Bộ phim quảng bá cho du lịch Hàn Quốc[9]
Chorus City Yunho Phim ngắn cho Shanghai Expo[10]
I AM. 2012 Bản thân Phim tài liệu
Make Your Move 2013 U-Know Khách mời
Ode to My Father 2014 Nam-jin Khách mời[11]
SMTOWN The Stage 2015 Bản thân Phim tài liệu
Phim truyền hình
Tên phim Năm Vai Nhà đài Ghi chú
Banjun Theater 2005 U-Know Yunho SBS
Nonstop 4 2006 Yunho MBC Guest role (Tập 62, 64)
Vacation Yunho Tập: "Cassiopeia"
Heading to the Ground 2009 Cha Bong-Goon MBC
Poseidon 2011 Kang Eun-chul KBS2 Guest role[12]
I Live in Cheongdam-dong Himself JTBC Khách mời (Tập 1)[13]
Welcome to the Show Himself SBS Khách mời (Tập 1)
King of Ambition 2013 Baek Do-hoon SBS
Saki Khách mua cà phê TBS Khách mời (Tập 11)
Diary of a Night Watchman 2014 Kang Moo-seok MBC
I Order You 2015 Yeo Gook-dae Naver TV Cast Web series
Meloholic 2017 Yoo Eun-ho OCN
Confession Couple Salesman KBS2 Khách mời[14]
Tensai Bakabon 3 2018 Yunho NTV Khách mời

Danh sách giải thưởng đã nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Tên phim Kết quả
2010 Baeksang Arts Awards Most Popular Actor Heading to the Ground Đề cử
2013 Baeksang Arts Awards Most Popular Actor King of Ambition Đề cử
2013 Seoul International Drama Awards Most Popular Actor – South Korea King of Ambition Đoạt giải
2014 MBC Drama Awards Excellence Award, Actor in a Special Project Drama Diary of a Night Watchman Đề cử

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “DBSK Yunho Reveals Childhood Dream”. Soompi. 4 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  2. ^ “[피플] 가요계 인기 돌풍의 핵 東方神起” [TVXQ singers of the popular nuclear blast]. enews24 (bằng tiếng Hàn). 13 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2009. 
  3. ^ (tiếng Hàn) “TVXQ Member Recovers from Poisoning”. KBS Global. Ngày 16 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2007. 
  4. ^ “TVXQ's Yunho joins military”. The Korea Times. 21 tháng 7 năm 2015. 
  5. ^ “TVXQ's Yunho finishes military service [VIDEO]”. The Korea Times. 20 tháng 4 năm 2017. 
  6. ^ “Yunho ends military service, pledges return”. Korea JoongAng Daily. 20 tháng 4 năm 2017. 
  7. ^ “2019년 24주차 Album Chart” [Gaon Album Chart Week 24, Year 2019]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Korean). June 9–15, 2019. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019. 
  8. ^ “2019 Monthly Album Chart – June”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2019. 
  9. ^ "Haru : An Unforgettable Day in Korea" brings Lee Da-hae and Yunho to act as a couple”. Hancinema. 23 tháng 9 năm 2010. 
  10. ^ “U-Know Yunho featured in Shanghai Expo video”. 10Asia. 3 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  11. ^ “Yunho makes cameo appearance in ‘Ode to My Father’”. Kpop Herald. 25 tháng 11 năm 2014. 
  12. ^ “TVXQ's U-Know Yunho joins cast of "Poseidon". 10Asia. 10 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  13. ^ “유노윤호, '청담동 살아요' 카메오 출연..김혜자와 호흡”. Osen (bằng tiếng Hàn). 
  14. ^ “TVXQ's U-Know Yunho to cameo in Son Ho Jun's upcoming drama.”. KBS World. 19 tháng 9 năm 2017.