Jura Sớm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hệ/
Kỷ
Thống/
Thế
Tầng/
Kỳ
Niên đại
(triệu năm)
Phấn Trắng Hạ/Sớm Berrias trẻ/muộn hơn
Jura Thượng/Muộn Tithon 152.1 ± 0.9
Kimmeridge 157.3 ± 1.0
Oxford 163.5 ± 1.0
Trung/Giữa Callove 166.1 ± 1.2
Bathon 168.3 ± 1.3*
Bajocy 170.3 ± 1.4*
Aalen 174.1 ± 1.0*
Hạ/Sớm Toarcy 182.7 ± 0.7
Pliensbach 190.8 ± 1.0*
Sinemur 199.3 ± 0.3*
Hettange 201.3 ± 0.2*
Trias Thượng/Muộn Rhaetia cổ/sớm hơn
Mộth mỏm đá khổng lồ ở Zion Canyon bao gồm các thành hệ của Jura sớm (từ trên xuống): Thành hệ KayentaSa thạch Navajo lớn.

Jura sớm (trong phân vị địa tầng tương ứng với Hạ Jura) là thế sớm nhất trong số ba thế của kỷ Jura. Jura sớm được bắt đầu ngay sau khi các sự kiện tuyệt chủng kỷ Trias-Jura vào 199,6 Ma (triệu năm trước) và kết thúc vào lúc bắt đầu của Trung Jura (175,6 Ma).

Một số loại đá biển ở châu Âu có niên đại từ thế này được gọi là " Lias" và cái tên đó đã được sử dụng để chỉ giai đoạn này giống như trong địa chất học của thế kỷ 19.[1]

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai nguồn gốc của tên Lias: Có lý giải thứ nhất là nó được một nhà địa chất lấy từ cách phát âm địa phương từ "layers" của công nhân mỏ đá Anh: Hai là, sloops from north Cornish ports such as Bude would sail across the Bristol Channel to the Vale of Glamorgan to load up with rock from coastal limestone quarries (Đá vôi lias từ miền nam xứ Wales  đã được sử dụng trên khắp Bắc Devon / Bắc Cornwall vì nó có chứa canxi cacbonat để bón cho các loại đất Devon chất lượng kém của các nước phương Tây)); Cornish would pronounce the layers of limestone as 'laiyers' or 'lias'.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Có mỏm Liassic rộng lớn xung quanh bờ biển của Vương quốc Anh, đặc biệt là tại Glamorgan, Bắc YorkshireDorset. Các 'Bờ biển kỷ Jura' của Dorset thường gắn liền với các công trình nghiên cứu tiên phong của Mary Anning và của Lyme Regis. Các nham tướng Hạ Jura ở khu vực này chủ yếu là các loại đất sét, đá vôi mỏng và bột kết, lắng đọng hoàn toàn trong điều kiện biển.

Địa tầng Nhóm Lias tạo thành những vách đá hùng vĩ trên bờ biển Vale of Glamorgan, miền nam xứ Wales. Trải dài khoảng 14 dặm (23 km) từ Cardiff đến Porthcawl, các lớp đáng chú ý của những vách đá, nằm ​​trên kênh Bristol là lặp đi lặp lại sự xen kẽ giữa một tấc đá vôi và một lớp đá bùn được hình thành từ các sa mạc ở Trias muộn đã bị biển xâm lấn.[2]

Thành hệ Lias tại Lyme Regis, UK, tên địa phương Blue Lias.

Địa tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện đã có một số cuộc tranh luận[3] về ranh giới đáy của tầng Hettangi, và cả hệ thống phân vị của Kỉ Jura. Sinh địa tầng lấy sự xuất hện đầu tiên của Cúc đá psiloceratidae làm ranh giới; nhưng điều này phụ thuộc vào cách phân chia dựa trên hệ động vật Amonit tương đối hoàn chỉnh hiện nay, một vấn đề mà làm cho mối tương quan giữa các phần trong các phần khác nhau của thế giới khó khăn. Nếu các phân chia của Sinh địa tầng được áp dụng thì sau đó Lias Group sẽ là một phân cấp thạch địa tầng — nối giữa ranh giới Jura / Trias.

Sinh vật[sửa | sửa mã nguồn]

Cúc đá[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế này, cúc đá đã gần như tuyệt chủng trong sự kiện tuyệt chủng cuối kỷ Trias, nhưng sau đó chúng tiến hóa thành rất nhiều các hình thức đa dạng với cấu tạo cơ thể phức tạp hơn. Cúc đá phát triển rất nhanh và vỏ của chúng thường xuyên được bảo quản tạo thành những khu hóa thạch quan trọng. Có nhiều đợt tiến hóa của cúc chỉ riêng tại châu Âu.[4]

Bò sát biển[sửa | sửa mã nguồn]

Jura sớm là thời điểm quan trọng trong sự tiến hóa của loài bò sát biển. Ở tầng Hettang, đã tìm thấy những loài đã tồn tại từ tầng Rhaetian (kỷ Trias), ichthyosaursplesiosaurs tiếp tục phát triển, trong cùng khoảng thời gian này cũng xuất hiện rất nhiều loài bò sát biển mới như IchthyosaurusTemnodontosaurus thuộc ichthyosaurs, các chi Eurycleidus, Macroplata, và Rhomaleosaurus thuộc plesiosaurs (các chi plesiosaurs kể trên đều thuộc họ Rhomaleosauridae, nhưng hiện nay nhóm này có thể được coi như một cận ngành). Tất cả các này đều có cổ dài trung bình và một cái đầ lớn. Ở tầng Toarci (cuối của thế Jura sớm) xuất hiện thalattosuchia ("cá sấu" biển), một số chi thuộc ichthyosaurs mới (Stenopterygius, EurhinosaurusSuevoleviathan), thuộc plesiosaurs (các chi elasmosaurs (cổ dài) như MicrocleidusOccitanosaurus) và chi Pliosaur Hauffiosaurus).

Động vật trên cạn[sửa | sửa mã nguồn]

Trên đất liền, rất nhiều loài khủng lonng đã xuất hiện như heterodontosaurids, scelidosaurs, stegosaurstetanurans –, và cùng tồn tại với các nhóm khádcc như coelophysoids, prosauropodssauropod đã xuất hiện từ kỷ Trias. Đồng hành cùng với những loài săn mồi cỡ nhỏ là những loài có họ hàng với cá sấu (Crocodylomorpha) như sphenosuchiaprotosuchus. Trên bầu trời, nhiều loài pterosaurs đã thay thế những loài bị tuyệt chủng ở cuối kỉ Trias. But in the undergrowth were various types of early mammals, as well as tritylodont mammal-like reptiles, lizard-like sphenodonts, and early Lissamphibians.

Xem thêm [sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rudwick, M.J.S (1992): Scenes from Deep Time: Early Pictorial Representations of the Prehistoric World, University of Chicago Press, 280 pages. Except from Google Books>
  2. ^ Howe, S., Owen, G. & Sharpe, T. 2005 Walking the Rocks Geologists' Association - South Wales Group
  3. ^ INTERNATIONAL SUBCOMMISSION ON JURASSIC STRATIGRAPHY, Newsletter 35/1, December 2008, Edited by Nicol Morton and Stephen Hesselbo
  4. ^ Xem Davies, 1920, pp.173-5

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Davies, A. M., An Introduction to Palaeontology, Thomas Murby & Co., London
  • House, M.R. (1993) Geology of The Dorset Coast, The Geologists' Association.
  • Simms, M.J.,Chidlaw, N., Morton, N. and Page, K.N.(2004) British Lower Jurassic Stratigraphy, Geological Conservation Review Series, No.30, Joint Nature Conservation Committee, Peterborough.

Liên kết ngoài [sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ Jura
Hạ/Tiền Jura Trung Jura Thượng/Hậu Jura
Hettange | Sinemur
Pliensbach | Toarcy
Aalen | Bajocy
Bathon | Callove
Oxford | Kimmeridge
Tithon