Kích hoạt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Kích hoạt (tiếng Anh: Provocation) là phương pháp tư duy sáng tạo. Đây là một kĩ thuật tư duy khá quan trọng. Tác động chính của phương pháp là đưa sự suy nghĩ ra khỏi các nền nếp suy nghĩ cũ mà bạn dùng để giải quyết vấn đề. Chúng ta tư duy bằng cách nhận thức các kiểu và phản ứng lại chúng. Các phản ứng đáp trả này dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ và các mở rộng "có lý" cho các kinh nghiệm này. Suy nghĩ của chúng ta thường ít vượt qua hay đứng bên ngoài của các kiểu mẫu cũ. Trong khi chúng ta có thể tìm ra câu trả lời như là một "kiểu khác" của vấn đề, cấu trúc não bộ sẽ gây khó khăn cho chúng ta để liên kết các lời giải này. Kích hoạt là một phương pháp dùng để liên kết các kiểu tư duy này với nhau và tạo thành một giái pháp mới.

Lịch sử phương pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp này được nghiên cứu bởi Edward de Bono, tiến sĩ Tâm lý học. Giáo sư tại các trường đại học Oxford, Cambridge, và Harvard.

Các bước tiến Hành[sửa | sửa mã nguồn]

Hãy viết xuống nhiều mệnh đề ngớ ngẩn (không hợp lý lẽ, không dựạ trên lập luận khoa học và có thể phản khoa học hay đi ngược với thực tế thường nhật) một cách chủ ý, trong đó chúng ta cho phép các tình huống không thực. Các mệnh đề này cần thiết phải "ngu xuẩn" hay "nghịch lý" để tạo cú "sốc" (kích hoạt) cho hệ thống tư tưởng làm nó thoát ra ngoài những cung các suy nghĩ hiện có. Một khi chúng ta đã tạo ra các mệnh đề kích hoạt này, chúng sẽ làm ngưng các đánh giá phán quyết để mà tạo nên ý kiến mới. Kích hoạt cung cấp những điểm khởi đầu nguyên thuỷ cho sự sáng tạo. Các ý tưởng của phương pháp này thường là các bước mở đầu cho những ý tưởng mới.

Lưu ý: Cách xếp đặt ra những mệnh đề kích hoạt như vậy đã được thấy rất nhiều trong các công án thiền (Zen koans) và các thơ haiku (Nhật). Kĩ thuật này, làm giảm các sức ỳ tâm lý trì trệ trong bộ óc, đã được phổ dụng ở Đông Phương từ lâu nhưng đôi khi làm khó khăn cho lối suy nghĩ kiểu Tây phương. Chỉ có điều là cho tới nay các nhà nghiên cứu Đông Phương đã không tận dụng phương pháp này của Thiền Tông (hay chỉ giới hạn nó trong lãnh vực của Phật giáo) để phổ biến thành một phương pháp tư duy chuẩn như đề xuất của De Bono.

Thí du: Chẳng hạn như chúng ta đưa ra câu: "Xe không nên có bánh!". Thông thường thì điều này không phải là ý kiến hay. Mặc dù vậy, ý này dẫn đến suy nghĩ về các thiết bị vận chuyển như các hoover, các dạng di chuyển dùng chân kéo dài (cà kheo), các con robot bò chân rết hay chân nhện, xa hơn nữa toàn bộ thiết bị nằm trong một viên bi lăn, dĩa bay, máy bay cũng là loại thiết bị không bánh, các dạng di chuyển nhảy thay vì lăn bánh hay thậm chí các thiết bị bay nhờ sức gió như diều khinh khi cầu...

Khi đã tạo nên sự kích hoạt, bạn có thể dùng nó trong nhiều phương cách khác nhau bởi kiểm nghiệm:

  • Các hậu quả, hiệu ứng của mệnh đề
  • Các lợi ích có thể nhận được
  • Tình huống đặc thù nào có thể làm cho nó trở thành lời giải bén nhạy
  • Các nguyên tắc, nguyên lý nào cần dùng để làm việc này và để nó hoạt động
  • Làm sao để nó hoạt động trong mọi thời điểm
  • Cái gì sẽ xảy ra nếu như 1 dãy các biến cố bị thay đổi.


Thí dụ[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tiệm cho thuê băng vìdeo và DVD muốn tìm ra phương pháp để cạnh tranh với Internet và các nơi khác. Người chủ bắt đầu với mệnh đề ngớ ngẩn: "khách hàng không nên trả tiền để mướn băng nhạc và DVD" Sau đó người chủ kiểm nghiệm các "kích hoạt" sau đây:

  • Các hậu quả: Cửa tiệm sẽ không có tiền thu nhập qua dịch vụ cho thuê và do đó phải có một nguồn thu nhập khác hơn. Phải làm cho việc mượn băng tại cửa tiệm thì rẻ hơn và dễ dàng hơn là tải về máy các phim mướn trên Internet, đặt cọc mua nó qua catalog, hay mướn ở nơi khác.
  • Các lợi ích: Có nhiều người đến mượn băng video và DVD hơn. Nhiều người hơn sẽ ghé vào tiệm. Cửa tiệm sẽ thu hút khách hàng từ các tiệm cho thuê khác trong địa phương.
  • Tình huống: Cửa hàng cần có nguồn thu nhập thay thế. Có thể chủ tiệm sẽ bán các quảng cáo trong tiệm, hay là bán thêm "đồ nhắm", bán bia, nước ngọt, kẹo bánh, rượu, thức ăn nhanh và các thứ hàng mà người xem phim ở nhà hay thưởng thức tới. Điều này sẽ biến cửa hàng thành "tiệm tạp hoá kiểu mới". Có lẽ chỉ cho người ta mượn băng sau khi đã phải "ngắm" qua ít nhất 30-giây các mặt hàng quảng cáo hay là sau khi hoàn tất các bản câu hỏi nghiên cứu thị trường (mà cửa hàng hợp đồng với cơ sở quảng cáo)
  • Hiệu ứng phụ: Vì là cho mượn nên sẽ có thể phạt nhẹ những người mượn băng DVD quá hạn (để kiếm thêm thu nhập) mức phạt nhẹ này quy định tối đa cũng chỉ bằng hoặc ít hơn giá cho thuê ở các cửa hiệu khác.

Sau khi dùng kích hoạt, chủ tiệm quyết định "thử nghiệm" trong nhiều tháng: cho phép khách hàng mượn miễn phí các "top ten" băng mới ra lò. (nhưng dĩ nhiên khách hàng sẽ bị phạt tiền nếu họ trả băng trễ). Người chủ sẽ đặt các băng video phía đàng trong cùng của cửa tiệm. Phía trước sẽ đập vào mắt khách hàng những thứ hàng "hấp dẫn" khác (để dẫn dụ khách mua hàng) như là các mặt hàng kể trên. Như vậy 1 người khách muốn mượn băng sẽ phải đi ngang qua và ngắm các món khác trước khi tới được quầy video. Ngoài ra, bên cạnh quầy trả băng, cô chủ chưng bán các mặt hàng "mode" có được qua các phim này cộng vào đó là quảng cáo về các kiểu tóc, quần áo, giày dép, đồ trang sức mode theo phim mà mỗi lần giới thiệu được một khách hàng thì chủ tiệm được nhận thêm huê hồng của các tiêm cắt tóc, tiệm may, tiệm giày, tiệm bán đồ trang sức...

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]