Kính thiên văn không gian James Webb

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kính viễn vọng không gian James Webb
James Webb Space Telescope model
Mô hình kích thước thực tế của kính thiên văn không gian James Webb trưng bày tại Austin
Tên Kính thiên văn không gian James Webb
Dạng nhiệm vụ Thiên văn học
Nhà đầu tư NASA / ESA / CSA / STScI[1]
Website jwst.nasa.gov
sci.esa.int/jwst
stsci.edu/jwst
Thời gian nhiệm vụ 5 năm (thiết kế)
10 năm (mục tiêu)
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Nhà sản xuất Northrop Grumman
Ball Aerospace
Trọng lượng phóng 6.500 kg (14.300 lb)[2]
Kích thước ba chiều 20,1 m × 7,21 m (65,9 ft × 23,7 ft) (tấm che Mặt Trời)
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng Tháng Mười 2018[3]
Tên lửa Ariane 5 ECA
Địa điểm phóng Kourou ELA-3
Nhà thầu chính Arianespace
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếu điểm L2 Mặt Trời-Trái Đất
Chế độ Quỹ đạo quanh Mặt Trời
Củng điểm quỹ đạo 374.000 km (232.000 mi)[4]
Củng điểm quỹ đạo 1.500.000 km (930.000 mi)[4]
Chu kỳ quỹ đạo 6 tháng
Kỷ nguyên chưa thực hiện
Gương chính
Kiểu gương kính viễn vọng Korsch
Đường kính 6,5 m (21 ft)
Tiêu cự 131,4 m (431 ft)
Diện tích thu nhận 25 m2 (270 sq ft)
Bước sóng từ 0,6 µm (da cam)
tới 28,5 µm (hồng ngoại trung)
Bộ phát đáp
Dải tần băng S (hỗ trợ điều khiển)
băng Ka (thu dữ liệu)
Băng thông Băng S tải lên: 16 kbit/s
Băng S tải xuống: 40 kbit/s
Băng Ka tải xuống: lên tới 28 Mbit/s
Thiết bị khoa học
NIRCam Near IR Camera
NIRSpec Near-Infrared Spectrograph
MIRI Mid IR Instrument
NIRISS Near Infrared Imager and Slitless Spectrograph
FGS Fine Guidance Sensor
JWST logo
Huy hiệu của nhiệm vụ James Webb Space Telescope

Kính thiên văn không gian James Webb (JWST), trước đó gọi là Kính thiên văn không gian thế hệ tiếp theo (NGST), là một kính viễn vọng không gian đang được chế tạo và dự kiến phóng lên vào tháng Mười năm 2018. Kính JWST có độ nhạy và độ phân giải chưa từng có với khả năng thu thập từ bước sóng khả kiến cho tới hồng ngoại trung, và là thế hệ kính thiên văn kế tiếp của kính thiên văn không gian Hubblekính thiên văn không gian Spitzer. Kính viễn vọng này có đặc điểm bao gồm một gương chính ghép mảnh đường kính 6,5 mét được tên lửa đưa tới điểm L2 của hệ Mặt Trời-Trái Đất. Các tấm chắn Mặt Trời lớn sẽ giữa cho gương và bốn thiết bị khoa học luôn ở dưới 50 K (−220 °C; −370 °F).

Khả năng của JWST sẽ cho phép khảo cứu trên diện rộng đối với lĩnh vực thiên văn họcvũ trụ học.[5] Một mục tiêu quan trọng đó là quan sát những thiên thể ở xa nhất trong Vũ trụ, vượt phạm vi khả năng nghiên cứu của các thiết bị mặt đất và kính viễn vọng không gian hiện tại. Chúng bao gồm những ngôi sao đầu tiên, kỷ nguyên tái ion hóa, và sự hình thành của các thiên hà đầu tiên. Một mục tiêu khác đó là tìm hiểu sự hình thành saohành tinh. Để làm điều đó, JWST sẽ chụp ảnh các đám mây phân tử và các cụm mây hình thành sao, nghiên cứu các đĩa khí bụi bao quanh các sao trẻ, chụp ảnh trực tiếp các hành tinh, và ghi lại phổ của bầu khí quyển các hành tinh đi ngang qua ngôi sao mẹ.

Dự án khởi phát từ 1996,[6] the project represents an international collaboration of about 17 countries[7] dẫn đầu bởi NASA cùng với những đóng góp quan trọng từ cơ quan không gian châu Âucơ quan không gian Canada. Nó được đặt tên theo James E. Webb, nhà lãnh đạo thứ hai của NASA, người đóng vai trò tổng hợp đối với chương trình Apollo.[8]

Dự án JWST đã có nhiều lần bị trì hoãn và bị đội chi phí. Lúc đầu người ta ước lượng ngân sách cho dự án kính thiên văn này vào khoảng 1,6 tỷ $ và thời điểm phóng vào năm 2011. NASA đã nhiều lẫn điều chỉnh thời điểm phóng và hiện tại là vào năm 2018. Năm 2011, Hạ viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu chấm dứt tiếp tục ngân sách cho dự án sau khi khoảng 3 tỷ $ đã được chi tiêu và 75% thiết bị phần cứng của kính đã được chế tạo.[9] Ngân sách được khôi phục với sự thỏa hiệp pháp lý từ Thượng viện Hoa Kỳ, và dự định ngân sách cho chương trình vào khoảng 8,8 tỷ $.[10] (Tính đến tháng 12 2014), chương trình vẫn nằm trong tiến độ và phạm vi ngân sách được phê duyệt, nhưng với rủi ro sẽ chậm trễ thời điểm phóng.[11]

Đặc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là kính thiên văn làm việc với dải hồng ngoại, với mục tiêu chính là săn tìm những thiên thể tối, nhỏ và mờ nhạt vốn rất khó tìm thấy với điều kiện thông thường. Ngoài ra, nó cũng quan sát những vật thể phát ra bước sóng lệch về phía hồng ngoại, hoặc các vật thể bị che khuất bởi các vụ nổ trong vũ trụ.

Bộ chống nhiễu của nó bao gồm 5 tấm phim lọc, làm từ hợp chất giữa nhômpolymer, dùng để chống lại ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời.

So sánh kích thước với kính Hubble

Gương hội tụ của James Webb có 18 tấm gương lục giác làm từ beri. Đường kính mỗi tấm là 1,3m. Mặt sau được làm mòn bằng axit để loại trừ các kim loại lạ có thể bám vào. Các tấm gương này sẽ hội tụ ánh sáng mạnh hơn kính thiên văn Hubble đến 7-8 lần.

Dự tính nó sẽ được đưa lên quỹ đạo cách Trái Đất 1,5 triệu Km, ở đó lực hấp dẫn tác động lên nó sẽ cân bằng. Tuy nhiên, việc sửa chữa sẽ gặp khó khăn vì quá xa, chi phí để thay pin, sửa chữa hay nâng cấp một bộ phận nào đó sẽ rất tốn kém.

Kỳ vọng[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu nay, quá trình tiến hóa của vũ trụ (theo thuyết Vụ Nổ Lớn) từ khi xuất hiện vũ trụ đến khi ngôi sao đầu tiên xuất hiện vẫn còn một khoảng trống (gọi là Dark Age). Và các nhà khoa học kỳ vọng kính thiên văn James Webb có thể giúp họ gỡ bỏ vấn đề này một cách rõ ràng hơn.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới James Webb Space Telescope tại Wikimedia Commons

Đội các thiết bị khoa học

(tiếng Việt)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “NASA JWST FAQ "Who are the partners in the Webb project?". NASA. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2011. 
  2. ^ “JWST - Frequently Asked Questions”. NASA. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015. 
  3. ^ “JWST factsheet”. ESA. 4 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  4. ^ a ă “JWST (James Webb Space Telescope)”. ESA eoPortal. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015. 
  5. ^ John Mather (2006). “JWST Science”. 
  6. ^ “ESA JWST Timeline”. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012. 
  7. ^ “NASA – JWST – people”. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012. 
  8. ^ During, John. “The James Webb Space Telescope”. The James Webb Space Telescope. National Aeronautics and Space Administration. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2011. 
  9. ^ Bergin, Chris. “James Webb Space Telescope hardware entering key test phase”. NASASpaceflight.com. Truy cập tháng 1 năm 2015. 
  10. ^ “NASA budget plan saves telescope, cuts space taxis”. Reuters. 16 tháng 11 năm 2011. 
  11. ^ “Webb telescope at risk of schedule delays, report finds”. The Baltimore Sun. 22 tháng 12 năm 2014. Truy cập tháng 1 năm 2015.