Kế Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kế hoàng hậu)
Jump to navigation Jump to search
Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu
清高宗继皇后
Càn Long Đế Hoàng hậu
C-F Attiret La Concubine.jpg
Bức chân dung được cho là Kế hoàng hậu, hiện trưng bày tại Musée des Beaux-Art de Dole, Pháp
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 17501766
Tiền nhiệm Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Cao Tông
Càn Long hoàng đế
Hậu duệ Vĩnh Cơ
Vĩnh Cảnh
Hoàng ngũ nữ
Tước hiệu [Nhàn phi; 嫻妃]
[Nhàn Quý phi; 嫻貴妃]
[Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi; 摄六宫事皇贵妃]
[Hoàng hậu; 皇后]
Thụy hiệu Không có
Thu hồi sách bảo, tương đương bị phế truất
Thân phụ Na Nhĩ Bố
Thân mẫu Lang Giai thị
Sinh 11 tháng 3, 1718(1718-03-11)
Mất 19 tháng 8, 1766 (48 tuổi)
Vĩnh Hòa cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An táng 28 tháng 9, 1766
Dụ lăng (裕陵), Phi viên tẩm

Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu (chữ Hán: 清高宗继皇后, 11 tháng 3, năm 1718 - 19 tháng 8, năm 1766), Ô Lạp Na Lạp thị, là Hoàng hậu thứ hai của Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế.

Thanh sử cảo - Hậu phi liệt truyện (后妃列傳), bà được ghi là Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị (皇后烏拉那拉氏), bà được biết đến là Hoàng hậu nhà Thanh duy nhất không có thụy hiệu. Việc bà bị thất sủng và không được đặt thụy hiệu của bà cho đến nay vẫn còn là uẩn khúc lớn của lịch sử Đại Thanh.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng dõi[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu sinh ngày 10 tháng 2 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 57, được gọi là Ô Lạp Na Lạp thị (烏拉那拉氏), tuy nhiên đúng ra bà phải được gọi là Huy Phát Na Lạp thị (輝發那拉氏), do dòng tộc bà là hậu duệ của Huy Phát Bối lặc Vương Cơ Trữ (王機褚).

Theo Khâm định Bát Kỳ thông chí (钦定八旗通志) và Bát Kỳ Mãn Châu thị tộc tông phổ (八旗满洲氏族通谱), nguyên bản dòng tộc của Hoàng hậu Na Lạp thị sống tại vùng đất tên Huy Phát, là khởi thủy bởi Huy Phát Bối lặc Vương Cơ Trữ, xét là Mãn quân Tương Lam kỳ thuộc Hạ ngũ kỳ xuất thân. Xuất thân của dòng họ Kế hoàng hậu, cần phải giải thích khá phức tạp, cũng vì sự phân nhánh và tình trạng leo lên trong các dòng họ Mãn Châu.

Vốn dĩ, dòng họ Na Lạp thị là dòng dõi cổ xưa, đã có ghi chép cuối thời nhà Đường, sang thời Minh sinh ra 4 bộ lớn ở Hải Tây, tất cả đều mang họ Na Lạp thị, nên gọi Na Lạp tứ bộ. Bốn bộ ấy bao gồm: Diệp Hách, Ô Lạp, Cáp ĐạtHuy Phát. Căn cứ Tông phổ, trong 4 bộ thì có sớm nhất là Ô Lạp, sau một nhánh của tộc trưởng tộc Ô Lạp di cư sang Cáp Đạt, vì để phân biệt mà họ gọi là Ô Lạp Na Lạp thịCáp Đạt Na Lạp thị[1], trở thành một chi của Ô Lạp Na Lạp thị. Ngoài ra nếu trong lãnh thổ có một địa danh do họ Na Lạp cai quản, cũng lấy tên địa danh gọi thành tông tộc, như Trương Na Lạp thị nếu vùng đất tên Trương. Về sau, một người Mông Cổ tên Tinh Căn Đạt Nhĩ Hán (星根達爾漢), nguyên dòng dõi Thổ Mặc Đặc thị, xuất quân tiêu diệt Trương Na Lạp bộ, thì phát hiện địa phương này lấy Na Lạp thị làm thủ lĩnh, nên đổi qua Na Lạp thị, gọi là Thổ Mặc Đặc Na Lạp thị. Về sau Thổ Mặc Đặc di cư đến Diệp Hách, hình thành nên Diệp Hách Na Lạp thị.

Đồng dạng, Hắc Long giang Nữ Chân có một chi là Ích Khắc Đắc Lý thị, thủ lĩnh là một đôi anh em tên Ngang Cổ Lý (昂古里) và Tinh Cổ Lực (星古力), đem toàn bộ bộ tộc đến địa phương tên Trương. Địa phương có đại bộ chủ, tên Cát Dương Cát Thổ Mặc Đồ (噶揚噶土墨圖), họ Na Lạp thị, chịu trợ giúp hai anh em, nên hai anh em từ đó sửa họ lại thành Na Lạp thị. Về sau hậu duệ Tinh Cổ Lực di cư đến Huy Phát, phát kiến ra Huy Phát quốc, là ngọn nguồn của Huy Phát Na Lạp thị. Do tính chất phân nhánh như vậy của Na Lạp thị, các chi Na Lạp thị luôn tự xưng mình là dòng dõi cổ nhất trong 4 chi, tức Ô Lạp Na Lạp thị.

Cho nên đáng lý ra, Thanh Cao Tông Kế hoàng hậu phải được gọi là Hoàng hậu Huy Phát Na Lạp thị, nhưng dòng dõi của bà vẫn tự xưng là Ô Lạp Na Lạp thị, cũng đều có nguyên do, đó là vì các gia tộc Mãn Châu luôn có hiện tượng "leo lên", tức là các bộ tộc ít tiếng tăm hơn, đều tự xưng là một bộ tộc có cùng họ (trong đây Huy Phát là nơi phát tích, Na Lạp thị là họ).

Trường hợp này tương tự Giác La thị, có: Ái Tân Giác La thị, Y Nhĩ Căn Giác La thị, Tây Lâm Giác La thị, Thư Thư Giác La thịGia Mộc Hồ Giác La thị. Trong đó, ngoại trừ Ái Tân Giác La, còn thì Y Nhĩ Căn Giác La là dòng họ có nhiều nhất, nên trong sách phong hoặc truyện ký, hậu duệ Thư Thư Giác La thị và Gia Mộc Hồ Giác La thị thường xuyên tự nhận mình là Y Nhĩ Căn Giác La. Trong các kim sách về sau, bà hay được gọi ngắn gọn là Na Lạp thị (那拉氏), cũng vừa để giản lược, cũng là cách gọi chính xác họ của bà.

Xét ra bà không cùng dòng dõi với Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu, nguyên phối của Thanh Thế Tông Ung Chính Đế.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu chỉ xét về nguồn gốc, dòng dõi của Kế hoàng hậu là dòng dõi của Huy Phát quốc chủ Na Lạp thị, nhìn chung gốc gác rất cao quý. Cao tổ phụ là Mãng Khoa (莽科), là cháu nội của Huy Phát bối lặc Vương Cát Nỗ (王吉砮), cùng thế hệ với vị Bối lặc cuối cùng của Huy Phát quốc, Bái Âm Đạt (拜音達). Mãng Khoa dẫn tông tộc nhập Mãn Châu kỳ, phân phó ở Tương Lam kì, này qua các đời thế tập[2] chức vụ Tá lĩnh (佐领), thuộc hàng Tứ phẩm. Mãng Khoa sinh La Hòa (罗和) nhậm chức Phó đô thống. La Hòa sinh ra La Đa (罗多) nhậm chức Hộ quân Tham lĩnh và Na Nhĩ Bố (那爾布) nhậm chức Tá lĩnh (佐領). Na Nhĩ Bố là cha thân sinh ra Kế hoàng hậu, chính thất và cũng là mẹ của Hoàng hậu là Lang Giai thị (郎佳氏), trong nhà bà còn có người anh em tên Nột Lý (讷里), Nột Lý sinh ra Nạp Tô Khẳng (纳苏肯).

Suy xét về gia thế, gia đình của Kế hoàng hậu không hề tồi, nhưng cũng không xem là quá vinh quý. Tổ phụ đảm nhiệm "Phó đô thống", bá phụ đảm nhiệm "Hộ quân Tham lĩnh", tuy xem là cao cấp quan viên, song xét với Thượng thư hay Đô thống vẫn là có chênh lệch. Cha bà tập tước Tá lĩnh, mà ở xã hội Mãn Châu, tầng lớp cai trị rất xem trọng thể thức Thế quản Tá lĩnh, rồi Thế tước thế chức; biểu thị cho địa vị của dòng tộc trong xã hội Mãn Châu khi đó. Trong đó, Thế tước thế chức biểu thị địa vị gia tộc có công lao khai quốc mà được thụ phong, còn Thế quản Tá lĩnh lại biểu thị dòng dõi có truyền thống và gốc gác cao. Đấy là bởi vì để có được chức "Tá lĩnh", thông thường đều là từ tầng lớp giai cấp Bộ trưởng người Nữ Chân khi xưa, vì những Bộ trưởng sau khi nhập kỳ mới đủ tư cách có chức Tá lĩnh. Tư duy tôn sùng "Bộ trưởng" đặc biệt cao, nhất là giai đoạn đầu thời kì nhập quan. Khi Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế chọn lập Hoàng hậu, tính chọn cháu gái Sách Ni, thì Ngao Bái không đồng tình, mà nên chọn con gái của Át Tất Long. Vì bởi lẽ, Sách Ni tuy là phụ chính đaị thần, quan hàm cao quý, song xuất thân Hách Xá Lý thị rất thấp, chỉ là Hải Tây bộ nhân, không có chức Bộ trưởng hay Lộ trưởng, trong khi đó Át Tất Long xuất thân cao quý Nữu Hỗ Lộc, thế tập Lộ trưởng của Anh Ngạch địa phương. So sánh thì dòng dõi của Sách Ni hoàn toàn thua xa.

Điều này không có nghĩa gia đình của Kế hoàng hậu là có địa vị cực khủng, nếu tính ra thì tuy dòng dõi Huy Phát quốc chúa, song gia đình bà không thuộc chi gần bằng gia tộc của Thông Quý (通貴) thuộc Tương Hồng kỳ, cũng là tử tôn của Vương Cát Nỗ, chi tộc này có Thế quản Tá lĩnh lẫn Thế tước truyền đời. Đặc biệt gia tộc của Kế hoàng hậu, nếu so với Phú Sát thị của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu thì cũng là một quãng xa, do dòng họ này xuất xứ từ "Lộ trưởng", thế tập Tá lĩnh lẫn thừa tước, nhập kì phân ở Tương Hoàng kỳ cao quý, hơn nữa bản thân gia tộc Phú Sát thị khi đó đã có danh vị trọng thần, địa vị gốc gác lẫn thực tế quyền hành đều cao cấp.

Tuy vậy, so với các phi tần khác, đặc biệt là mẹ sinh của Thanh Nhân Tông, Hiếu Nghi Thuần hoàng hậu Ngụy Giai thị, thì Kế hoàng hậu vẫn có xuất thân cao quý hơn hẳn.

Trở thành Trắc Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Không rõ từ khi nào mà bà kết hôn với Càn Long Đế. Bà là Tương Lam kỳ xuất thân, thì chắc chắn sẽ là được chỉ định ban hôn Trắc Phúc tấn trong các đợt Bát Kỳ tuyển tú[3], chứ không phải từ hầu gái thỉnh phong.

Căn cứ vào tư liệu tuyển tú, năm Ung Chính thứ 5 (1727) tiến hành Bát Kỳ tuyển tú, dựa theo thường quy suy tính, thì các mốc tuyển tú còn lại sẽ là: năm thứ 2 (1724), năm thứ 8 (1730) và năm thứ 11 (1733). Nhưng về phương diện khác, căn cứ hồ sơ ghi nhận, Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao Giai thị ở năm Ung Chính thứ 12 (1734) sách phong Trắc phúc tấn, mà Ô Lạp Na Lạp thị được cho là trở thành Trắc phúc tấn muộn hơn so với Cao thị (do địa vị của Ô Lạp Na Lạp thị thấp hơn Cao thị), cho nên có lẽ thời gian tuyển tú sẽ có biến hóa.

Dựa theo cứ liệu trước mắt, Ô Lạp Na Lạp thị có lẽ ở năm Ung Chính thứ 12, mùa xuân được chỉ định làm Trắc phúc tấn cho Bảo thân vương Hoằng Lịch, thời gian sắc phong có lẽ hơi muộn so với Cao thị, người được Ung Chính Đế chỉ định sắc phong làm Trắc phúc tấn. Tuy nhiên, ngay bản thân Càn Long Đế về sau cũng từng nói:"Tự hoàng khảo khi ban làm Trắc thất phi của Trẫm, hơn 20 năm tới nay”, trong chỉ dụ vào năm Càn Long thứ 15 (1750), thì có lẽ Ô Lạp Na Lạp thị đã ở đợt tuyển tú năm Ung Chính thứ 8 (1730) nhập Bảo thân vương phủ.

Trong các đợt Bát Kỳ tuyển tú, Hoàng đế có thể chọn các tú nữ vừa mắt cho hoàng tử thân vương, đó là một loại vinh dự vì do chính Hoàng đế ban hôn. Mà có thể tham dự Bát Kỳ tuyển tú, thì chắc chắn xuất thân và gia thế không thể nào tồi, nên thông thường đều là Phúc tấn, hoặc ít nhất cũng là Trắc Phúc tấn. Tuy chỉ là trắc phi, song địa vị Trắc Phúc tấn cũng được xem là cao quý, có đãi ngộ và triều phục đều theo quy định của triều đình không kém Phúc tấn. Đây cũng là một trong các lý do Ô Lạp Na Lạp thị được chọn làm Hoàng hậu về sau.

Phong Phi lập Hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long nguyên niên (1735), Thế Tông Ung Chính Hoàng đế băng hà, Bảo Thân vương Hoằng Lịch nối ngôi, sử gọi Càn Long Đế.

Năm thứ 2 (1736), ngày 4 tháng 12, lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Lễ Bộ Thượng thư Tam Thái (三泰) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Đại Kỳ (岱奇) làm Phó sứ, tuyên chỉ sách phong Trắc phúc tấn Ô Lạp Na Lạp thị làm Chính tam phẩm Phi (妃), với phong hiệu là Nhàn (娴). Theo Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội Vụ phủ soạn thảo, “Nhàn” theo Mãn văn là 「Elehun」, ý là “Điềm nhiên”, “Thản nhiên”, “Điềm tĩnh”.

Năm Càn Long thứ 10 (1746), ngày 17 tháng 1, lấy Đại học sĩ Sử Di Trực (史貽直) làm Chính sứ, Lễ bộ Hữu thị lang Giác La Thặc Nhĩ Sâm (覺羅勒爾森) làm Phó sứ, sách phong Nhàn phi Na Lạp thị làm Nhàn Quý phi (嫻貴妃). Khi ấy, Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao thị đã qua đời, Nhàn Quý phi bấy giờ có phẩm vị cao nhất Hậu cung vì chỉ xếp sau Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu Phú Sát thị, ngang hàng với Thuần quý phi Tô thị là thân mẫu của Hoàng tam tử Vĩnh Chương.

Năm Càn Long thứ 13 (1748), ngày 11 tháng 3, Phú Sát Hoàng hậu qua đời, ngôi vị Hoàng hậu do đó để trống. Khi ấy, mẹ của Càn Long Đế là Sùng Khánh hoàng thái hậu Nữu Hỗ Lộc thị nhận thấy Nhàn Quý phi đủ khả năng trở thành Hoàng hậu, nên đề nghị với Càn Long Đế lập bà làm Kế hoàng hậu. Càn Long Đế đối với Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu Phú Sát thị tình cảm nhiều năm, trong lòng đau buồn khôn xiết và không có ý lập Kế hoàng hậu ngay.

Tuy nhiên, Càn Long Đế cũng không thể trái ý của Thái hậu, và cũng không muốn để hậu cung vô chủ, cho nên vào 4 tháng sau, tức ngày 1 tháng 7 cùng năm ấy, Càn Long Đế ra chỉ dụ phong Nhàn Quý phi lên thành Hoàng quý phi, ban đặc ân hưởng mọi nghi lễ của Hoàng hậu, được gọi là Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi (摄六宫事皇贵妃). Theo đó, địa vị Hoàng quý phi của bà tương đồng với Hoàng hậu, như: tế cáo Thái miếu do đích thân Càn Long Đế chủ lễ, Hoàng đế ban chỉ dụ chiếu cáo thiên hạ sắc phong Hoàng quý phi, hưởng hành lễ và biểu dâng chức mừng của công khanh đại thần, Vương phi ngoại mệnh phụ, Tam phẩm quan viên trở lên tiến tiền ăn mừng tại Thái Hòa điện[4][5], ngoài ra sinh thần của bà cũng được chiếu theo lệ của Hoàng hậu mà cử hành. Theo lịch sử Hậu cung nhà Thanh, Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi chỉ có Na Lạp thị, cùng Hiếu Toàn Thành hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị về sau là chính thức được ghi nhận, tuy nhiên chỉ có Na Lạp thị là chiếu cáo toàn thiên hạ, đây có thể thấy là sự vinh hiển rất đáng chú ý của Na Lạp thị từ Càn Long Đế. Cũng trong tháng ấy, Đại học sĩ Nữu Hỗ Lộc Nạp Thân dâng tấu:"Xin để Hoàng quý phi chính vị Khôn Ninh cung", tuy nhiên Càn Long Đế vẫn khước từ.

Ngày 5 tháng 4 sang năm (1749), lấy Đại học sĩ Lai Bảo (來保) làm Chính sứ, Lễ bộ Thượng thư Hải Vọng (海望) làm Phó sứ, chính thức tiền hành đại lễ sắc phong Hoàng quý phi.

Năm Càn Long thứ 15 (1750), ngày 2 tháng 8, lấy Đại học sĩ Phó Hằng làm Chính sứ, Đại học sĩ Sử Di Trực làm Phó sứ, tuyên sách lập Hoàng quý phi Ô Lạp Na Lạp thị trở thành Hoàng hậu. Khoảng thời gian này bà chủ yếu sống ở Dực Khôn cung (翊坤宮).

Bấy giờ, Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị được Càn Long Đế rất sủng ái, thực sự xuân phong đắc ý, vinh quang phi thường. Từ khi sách phong Hoàng quý phi, gia đình bà đã nhập Chính Hoàng kỳ, còn đạt được "Thừa Ân hầu" (承恩侯) đặc phong. Đến khi vừa phong Hậu, chân chính trở thành Tương Hoàng kỳ, cha bà được phong làm "Nhất đẳng Thừa Ân công" (一等承恩公), mẹ bà trở thành Thừa Ân công phu nhân, cháu trai bà tiếp nhận tước vị Nhất đẳng hầu (一等侯) thế tập. Bà từ vị tần phi, tuy hơn 30 chưa sinh dục, khai chi tán diệp cho hoàng thất nhưng cũng từ từ được phong Hoàng hậu, hơn nữa từng dùng Chính nhất phẩm Hoàng quý phi thân phận quản nhiếp lục cung sự vụ, có thể thấy tương đối hiếm có. Nếu không phải vì năng lực được Sùng Khánh hoàng thái hậu Nữu Hỗ Lộc thị bảo chứng, thì cũng là vì Càn Long Đế đặc biệt coi trọng Kế hoàng hậu. Bà hay cùng Càn Long Đế bái yết Tông miếu, cùng ông ngao du Giang Nam, lên Ngũ Đài sơn thắp hương, tuần du Tây Nam, vinh sủng không ít.

Năm Càn Long thứ 17 (1752), ngày 7 tháng 6, giờ Dần, Hoàng hậu mang thai và sinh hạ Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ. Sang năm sau, ngày 23 tháng 8, giờ Dần, sinh hạ Hoàng ngũ nữ, nhưng mất khi lên 2 tuổi. Ngày 2 tháng 1, năm thứ 21 (1756), sinh hạ Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh (永璟), cũng chết yểu vào năm sau.

Đột ngột thất sủng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 30 (1765), tháng 1, Hoàng hậu đi cùng Càn Long Đế trong lần du hành xuống phương Nam lần thứ 4, còn có 5 vị phi tần khác là Lệnh Quý phi Ngụy thị, Khánh phi Lục thị, Dung tần Hòa Trác thị, Vĩnh Thường tại Uông thị và Ninh Thường tại[6]. Đoàn du hành đi qua Dương Châu, Tô Châu, Giang Ninh trong vỏn vẹn một tháng trời.

Khi đến Hàng Châu, Càn Long vẫn còn sủng ái Hoàng hậu, thậm chí còn tổ chức buổi tiệc sinh nhật linh đình cho bà (tức ngày 10 tháng 2). Đến ngày 18 tháng 2, Càn Long hoàng đế gửi thức ăn đến cho bà nhưng buổi tối hôm đó, bà không lộ diện ăn cùng ông mà chỉ có 5 vị cung phi trên. Ngay ngày hôm đó, Càn Long Đế bí mật phái Ngạch phò Phúc Long An (福隆安) đưa Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu về Bắc Kinh bằng đường thủy, chấm dứt chuyến Nam tuần năm ấy. Sau khi trở về, Càn Long Đế ra lệnh thu hồi 4 sách phong đã ban cho bà trước đây; tức là sách phong của Chính cung Hoàng hậu, Chính nhất phẩm Hoàng quý phi, Chính nhị phẩm Nhàn quý phiChính tam phẩm Nhàn phi kim sách. Bà bị chuyển sang cấm túc ở Vĩnh Hoà cung (永和宫). Càn Long còn thậm chí cắt giảm số cung nữ theo hầu bà, cho đến khi chỉ còn có hai người. Theo cung quy nhà Thanh, chỉ cấp Đáp ứng mới có 2 cung nữ bên cạnh mà thôi.

Năm sau (1766), ngày 14 tháng 7 (âm lịch), giờ Mùi, Hoàng hậu qua đời tại Vĩnh Hòa cung, thọ 48 tuổi. Khi bà mất, Càn Long Đế đang ở Mộc Lang Vi Trường (木蘭圍場) săn thú.

Ngày hôm sau (15 tháng 7), Càn Long Đế ra chỉ dụ, đại khái ý tứ như sau: "Hoàng hậu tự sắc lập tới nay thượng vô thất đức. Mùa xuân năm trước trẫm cung phụng Hoàng thái hậu tuần du Giang Chiết, đúng ra là việc vui mừng, nhưng Hoàng hậu tính khí thay đổi, không thể giữ hiếu đạo với Thái hậu... Khi đến Hàng Châu, hành động sai trái, cử chỉ điên loạn. Vì vậy trước lệnh cho Hoàng hậu hồi kinh, ở trong cung hối lỗi. Sau Hoàng hậu phát bệnh, ngày càng nguy kịch, mất đi tính mạng. Việc này là do Hoàng hậu phúc phận nông cạn, không thể dựa vào Thánh mẫu từ quyến... Luận Hoàng hậu hành sự thất thường, đương nhiên có thể phế truất, nhưng trẫm vẫn giữ lại vị hào đã là phá lệ rộng rãi. Về tang lễ, lấy Hoàng quý phi an táng mà làm, giao cho Nội Vụ phủ đại thần gánh vác". Nhìn chung, Càn Long Đế ý nói Hoàng hậu qua đời là do không có phúc phận, không tiện cử hành đại tang như Hiếu Hiền hoàng hậu năm xưa, nên dụ cho Nội Vụ phủ tiến hành an táng theo nghi thức dành cho Hoàng quý phi, vào Dụ lăng phi viên tẩm.

Điều này đồng nghĩa với việc phế bỏ danh vị Chính cung Hoàng hậu của Ô Lạp Na Lạp thị. Gia đình bà sau khi Kế hậu thất sủng cũng bị cưỡng chế đổi trở lại thành Tương Lam kỳ, tước vị Thế quản Tá lĩnh cũng bị tước bỏ, đổi lại thành Công trung Tá lĩnh. Gia đình của Kế hậu từ đó trở nên xuống dốc.

Hậu táng[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Càn Long biết tin Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu tạ thế, thì ông đang đi săn ở Mộc Lang Vi Trường. Ông không hề sửng sốt cũng như dừng cuộc đi săn lại, mà chỉ để con trai Hoàng hậu là Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ trở về Bắc Kinh chịu tang, rồi tiếp tục đi săn thú. Qua ngày hôm sau, ông mới ra chỉ dụ an táng Hoàng hậu theo nghi thức Hoàng quý phi.

Ngày 28 tháng 9 cùng năm, táng vào Dụ lăng Phi viên tẩm, bên cạnh Thuần Huệ Hoàng quý phi.

Lưu Li Hoa môn tại Dụ Lăng.

Theo chỉ dụ của Càn Long Đế, Na Lạp Hoàng hậu chỉ được hưởng tang lễ như một vị Hoàng quý phi, nhưng thực tế còn tệ hơn. Trong tang lễ của một Hoàng quý phi; công chúa, các mệnh phụ phu nhân và một số quan lại đại thần được yêu cầu vào viếng tang, nhưng tang lễ của Ô Lạp Na Lạp hoàng hậu thì không có. Bà không phụ táng Dụ Lăng, mà bị nhét vào Phi viên tẩm an táng.

Với danh vị thấp nhất là Phi mà bà từng thụ phong thì bà phải có lăng mộ riêng, tuy nhiên bà chỉ được an táng như một cung nữ kế bên lăng tẩm của Thuần Huệ Hoàng quý phi trong Dụ lăng phi viên tẩm. Đường đường Hoàng hậu bây giờ lại còn phải ở chung mộ phần với một Hoàng quý phi, mà lại còn là thân phận cung nữ vô danh. Theo Đại Thanh hội điển, quan tài Hoàng quý phi là tử mộc (梓木), 35 đạo, khiên bởi 96 người, nhưng theo tài liệu Nội Vụ phủ ghi được thì quan tài của Na Lạp hoàng hậu là sam mộc (杉木), khiên phu 64 người, chỉ là tang nghi thuộc bậc Tần mà thôi. Mặt khác, Hoàng quý phi, Quý phi và Phi thì ít nhất bà phải có bài vịmộ phần, cung phóng tại trong viên tẩm hưởng điện, tế lễ thì tại điện nội cử hành, chỉ có Tần trở xuống không có thần bài. Nay thì Na Lạp thị không có bài vị, chôn chung vào Thuần Huệ Hoàng quý phi mộ, nhập táng về sau cũng không đề cập tới. Căn cứ Nội Vụ Phủ hồ sơ ghi lại, toàn bộ tang sự chỉ dùng bạc 207 hai 9 phân 4 li, còn không bằng một cái cấp thấp triều đình quan viên.

Cái chết của bà cũng không được cáo phát trước triều đình, nên hầu như rất ít người biết được, về sau người ta mới biết và hồ nghi về nguyên nhân bà chết, thì Càn Long Đế mới ra chỉ dụ giải thích qua loa. Họa sĩ Lang Thế Ninh vào năm Càn Long nguyên niên từng vào triều phụng mệnh vẽ chân dung Hoàng đế, Hoàng hậu và Tần phi. Ta có thể thấy tần phi phẩm phục đều được vẽ, ghi chú đàng hoàng, hẳn là phải có chân dung Na Lạp thị khi còn là Nhàn phi. Hơn nữa khi bà làm Hoàng hậu, tất phải có họa tượng mặc Triều bào toàn thân, thế nhưng tất cả tranh vật như vậy về bà hiện không có, rất có thể khi Na Lạp thị bị phế thì Càn Long Đế đã hủy tranh, thậm chí là bất kì tranh có khuôn mặt bà cũng bị sửa.

Hiện nay bức tranh cho là bà vốn là một bức họa vô danh được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Dole của Pháp, [7] từng nói là Thục Gia Hoàng quý phi khi còn trẻ. Nhưng xét ra trong loạt tranh Tâm tả trị bình (心写治平), loạt tranh chân dung còn khá nguyên vẹn về Càn Long Đế cùng tần phi hồi trẻ cũng có một bức hoạ Gia phi, thì lại không khớp như vậy. Hơn nữa trong loạt tranh của Tâm tả trị bình đều có ghi rõ địa vị từng người, mà tranh này thủ pháp tương tự loạt Tâm tả trị bình nhưng lại không hề xuất hiện cùng loạt tranh ấy. Ngoài ra cũng có suy đoán bức hoạ này là của Vương Trí Thành sở hoạ. Người trong tranh mặc trang phục Tần vị, Kim thị từ Gia tần tiến Gia phi chỉ cách 4 năm, dung mạo khó có thể thay đổi nhanh chóng như vậy. Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu cũng chưa từng trải qua Tần vị, nên cũng khó có thể khẳng định đây là hình vẽ của bà mà nhiều khả năng là Du Quý phi hoặc Thư phi khi còn trẻ.

Từ Kế trong cách gọi không phải thụy hiệu của bà, mà có nghĩa là Hoàng hậu kế tiếp của Hoàng đế. Bà được biết đến là Hoàng hậu duy nhất của nhà Thanh không được truy phong thụy hiệu sau khi qua đời.

Hậu thế nghị luận[sửa | sửa mã nguồn]

Ngự sử Lý Ngọc Minh (李玉鸣) bất bình tang nghi của Na Lạp thị Hoàng hậu, đã cầu xin Càn Long Đế hãy tổ chức tang lễ xứng với địa vị của bà. Kết quả ông bị đày ra biên cương.

Khoảng 12 năm sau, lại có người dâng thư thỉnh Hoàng đế cử hành hậu sự cho Na Lạp thị. Việc này khiến Càn Long tức giận ra lệnh chém đầu kẻ đó, lại nói:"Từ khi Hiếu Hiền Hoàng hậu qua đời đến nay, Na Lạp thị là từ khi Trẫm ở Thanh Cung được Hoàng khảo ban làm Trắc phúc tấn, vị thứ đương cao, lại nghe lời khuyên của Thánh mẫu Hoàng thái hậu, sách vi Hoàng quý phi nhiếp quản lục cung sự vụ. Sau 3 năm sách lập làm Hoàng hậu. Về sau tự mắc lỗi lầm, trẫm vẫn rộng rãi như cũ. Nhưng rồi tự đoạn cắt tóc, tức trái quốc tục, mà tự cho là không biết lỗi, vẫn ngang nhiên như vậy. Trẫm chỉ răn dạy, vì còn nghĩ ơn xưa, không thể phế truất. Sau Hậu bạo băng, trẫm chỉ giảm nghi văn an táng, vẫn chưa lột bỏ danh hào. Huống hồ về sau không lập Hoàng hậu, xử lý việc này trẫm thật là đã tận tình tận nghĩa". Sau đó không còn ai dám đề cập tới hậu sự của Hoàng hậu nữa.

Sự thất sủng đột ngột của Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị luôn là bí ẩn lớn. Nhiều quan viên bị khiển trách vì muốn khôi phục lễ tiết cho bà.

Như vậy, lúc đó Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu đã cắt tóc, mà theo phong tục Mãn Châu thì việc cắt tóc chỉ khi Hoàng đế hoặc Hoàng thái hậu mất, việc Hoàng hậu cắt tóc như xúc phạm bề trên đã khiến Càn Long nổi giận. Tuy nhiên, với một người xuất thân Mãn Châu Bát Kỳ như Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu lại không biết điều cấm kỵ này mà phạm phải? Hơn nữa này là do nhân gian đả kích việc bạc bẽo Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu, mà hơn 10 năm sau khi bà qua đời thì Càn Long Đế mới ra chỉ giải thích, thật giả khó kiểm chứng được. Nếu coi việc bà cắt tóc là nguyên nhân cho việc thất sủng là thật, Ô Lạp Na Lạp thị sống trong hậu cung 30 năm, làm Hoàng hậu 15 năm, luôn ôn nhu uyển thuận, cẩn thận sáng suốt, đến cuối cùng vì việc gì mà phượng vị Hoàng hậu lẫn quốc tục tối kị đều không màng?

Chính điều này đã làm dấy lên nhiều phỏng đoán nghi vấn. Giả thiết được lưu truyền nhiều nhất, là do Hoàng hậu phản đối việc Càn Long xuống Giang Nam vi hành, cho rằng ông chỉ xuống để tìm người đẹp để nhập cung. Càn Long Đế cũng như Khang Hi Đế rất tích cực Nam tuần, không chỉ vì cảnh đẹp Giang Nam, mà còn vì ở đây nổi tiếng nhiều mỹ nữ như hoa như ngọc. Truyền rằng khi tùy Càn Long Đế năm đó, Hoàng đế muốn nhân đêm du hành tìm hoa hỏi liễu, Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu phản đối, thậm chí khóc lóc khuyên can, Càn Long Đế tức giận nên mới bí mật đem bà hồi kinh. Trong Văn tự ngục án cung từ của Nghiêm Tăng (严譄) có nói rằng, vào năm đó Càn Long Đế nam tuần, đang ở trên đường đến Giang Nam, có đưa Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu đi theo. Nghiêm Tăng khi đó ở quê hương Sơn Tây, tức nghe được có việc này. Mọi người đều nói, Hoàng đế ở Giang Nam muốn lập phi tử, Hoàng hậu không thuận theo, bởi vậy rất xúc động đem tóc cắt đi. Cái này người nói rất nhiều.

Một loại thuyết gọi là "Sủng thiếp diệt thê" nói, khi đó Càn Long Đế sủng ái Lệnh Ý Hoàng quý phi, muốn lập làm Hoàng quý phi nên Hoàng hậu phản đối, bị đưa về kinh sư. Từ khi Đại Thanh lập quốc, trừ Đổng Ngạc phi thời Thuận Trị, thì nhà Thanh tối kị việc lập Hoàng quý phi khi đang còn là Hoàng hậu, vì như thế sẽ đe dọa vị trí của Hoàng hậu. Tuy nhiên cũng chỉ là đồn đãi vô căn cứ.

Hành vi khác thường của Ô Lạp Na Lạp thị mà Càn Long đề cập trong chiếu thư, dựa vào y học hiện đại mà giải thích cũng có thể coi là hợp lý. Đầu tiên, sinh hoạt trong hậu cung có vô vàn áp lực, đặc biệt là Mãn Thanh đối với hậu cung quản lý thập phần nghiêm khắc. Hơn nữa, sự việc xảy ra là lúc Ô Lạp Na Lạp thị trung niên, chính là thời điểm tiền mãn kinh của phụ nữ, cho nên cả tâm lí lẫn sinh lý đều chịu áp lực tình huống, cảm xúc nhất thời khó khống chế, do vậy khiến Càn Long long nhan đại nộ là hoàn toàn có khả năng.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị có ba người con với Càn Long Đế:

  1. Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ [永璂; 7 tháng 6, năm 1752 - 17 tháng 3, năm 1776]. Dù là đích xuất nhưng chỉ giữ phong hiệu Bối lặc (貝勒). Sau khi Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị qua đời, ông bị thất sủng và chết khi mới chỉ 25 tuổi.
  2. Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh (永璟; 2 tháng 1, năm 1756 - 7 tháng 9, năm 1757), mất sớm.
  3. Hoàng ngũ nữ [皇五女; 17531755], mất sớm.

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim điện ảnh và truyền hình Diễn viên Nhân vật
1998 Hoàn Châu cách cách Đới Xuân Vinh Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
1999 Hoàn châu cách cách 2 Đới Xuân Vinh Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2002 Hoàn Châu cách cách 3: Chi thiên thượng nhân gian Khương Lê Lê Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2002 Càn Long du Giang Nam Khương Hồng Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
(Nhàn phi → Hoàng hậu)
2004 Càn Long và Hương Phi Ông Hồng Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
(Nhàn phi → Hoàng hậu)
2011 Tân Hoàn Châu cách cách Đặng Tụy Văn Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2012 Hậu cung Chân Hoàn truyện Trương Nghiên Ô Lạp Na Lạp Thanh Anh
(Bảo thân vương Trắc phúc tấn → Càn Long Nhàn phi)
2013 Họa khuông nữ nhân Phạm Băng Băng Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2014 Cung tỏa liên thành Dương Minh Na Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
Hậu cung Như Ý truyện Châu Tấn Ô Lạp Na Lạp Thanh Anh / Như Ý
2017 Diên Hy công lược Xa Thi Mạn Ô Lạp Na Lạp Thục Thận

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều này tương tự cách gọi các dòng họ lớn ở Trung nguyên, như Thái Nguyên Vương thị chẳng hạn.
  2. ^ Thế tập:truyền lại chức vụ từ đời này sang đời khác
  3. ^ Bát Kỳ tuyển tú: tuyển chọn cả thê thiếp cho các hoàng tử, chứ không hẳn chỉ dùng để tuyển phi tần
  4. ^ 乾隆十三年(1748)三月十一日,弘历的嫡皇后孝贤皇后病逝,中宫皇后的位子出现空缺。四个月后,乾隆帝发出一道上谕:“朕躬揽万几。勤劳宵旰。宫闱内政。全资孝贤皇后综理。皇后上侍圣母皇太后。承欢朝夕。纯孝性成。而治事精详。轻重得体。自妃嫔以至宫人。无不奉法感恩。心悦诚服。十余年来。朕之得以专心国事。有余暇以从容册府者。皇后之助也。兹奉皇太后懿旨。皇后母仪天下。犹天地之相成。日月之继照。皇帝春秋鼎盛。内治需人。娴贵妃那拉氏、系皇考向日所赐侧室妃。人亦端庄惠下。应效法圣祖成规。即以娴贵妃那拉氏继体坤宁。予心乃慰。即皇帝心有不忍。亦应于皇帝四十岁大庆之先。时已过二十七月之期矣。举行吉礼。佳儿佳妇。行礼慈宁。始惬予怀也。钦此。朕以二十余年伉俪之情。恩深谊挚。遽行册立。于心实所不忍。即过二十七月。于心犹以为速。但思皇后大事。上轸圣母怀思。久而弥笃。岁时令节。以及定省温凊。朕虽率诸妃嫔、及诸孙、问安左右。而中宫虚位。必有顾之而怆然者。固宜亟承慈命。以慰圣心。且嫔嫱内侍。掖庭之奉职待理者甚众。不可散而无统。至王妃命妇等、皆有应行典礼。允旷不举。亦于礼制未协。册立既不忍举行。可姑从权制。考之明太祖淑妃李氏宁妃郭氏、相继摄六宫事。国朝顺治十三年、册立皇贵妃。皇曾祖世祖章皇帝升殿命使翼日颁诏天下。典至崇重。今应仿效前规。册命娴贵妃那拉氏为皇贵妃。摄六宫事。于以整肃壸仪。上奉圣母。襄助朕躬。端模范而迓休祥。顺成内治。有厚望焉。所有应行典礼。大学士会同礼部、内务府、详议具奏。寻议、恭查皇贵妃册封大典。王妃命妇行礼。已有成例。惟贵妃行礼之处。外廷无案可稽。但皇贵妃摄行六宫事。二十七月后即正位中宫。既统理内政。体制自宜尊崇。贵妃亦应一体行礼。所有册封礼仪应前期一日。遣官祭告太庙。奉先殿告祭礼。上亲诣举行。届期设卤簿仪仗、中和韶乐。上御太和殿阅册宝。大学士等、捧节授持节使。持节使随册宝亭、至景运门授内监。皇贵妃具礼服恭迎。宣受如仪。次日上率王以下文武官员、诣皇太后宫行礼。礼毕。皇贵妃率贵妃以下、公主、王妃、命妇、行礼。上御太和殿受贺。颁诏天下。嗣后遇三大节。及庆贺大典。三品以上大臣官员、进笺庆贺。及每岁行亲蚕礼。应照例举行。得旨、依议册封典礼。著于明年三月后举行。其亲蚕礼。俟正位中宫后。该部照例奏请。: “Trẫm cung lãm vạn kỉ. Cần lao tiêu cán. Cung vi nội chính. Toàn tư hiếu hiền hoàng hậu tổng lý. Hoàng hậu thượng thị thánh mẫu hoàng thái hậu. Thừa hoan triều tịch. Thuần hiếu tính thành. Nhi trị sự tinh tường. Khinh trọng đắc thể. Tự phi tần dĩ chí cung nhân. Vô bất phụng pháp cảm ân. Tâm duyệt thành phục. Thập dư niên lai. Trẫm chi đắc dĩ chuyên tâm quốc sự. Hữu dư hạ dĩ tòng dung sách phủ giả. Hoàng hậu chi trợ dã. Tư phụng hoàng thái hậu ý chỉ. Hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ. Do thiên địa chi tương thành. Nhật nguyệt chi kế chiếu. Hoàng đế xuân thu đỉnh thịnh. Nội trị nhu nhân. Nhàn quý phi na lạp thị, hệ hoàng khảo hướng nhật sở tứ trắc thất phi. Nhân diệc đoan trang huệ hạ. Ứng hiệu pháp thánh tổ thành quy. Tức dĩ nhàn quý phi na lạp thị kế thể khôn ninh. Dư tâm nãi úy. Tức hoàng đế tâm hữu bất nhẫn. Diệc ứng vu hoàng đế tứ thập tuế đại khánh chi tiên. Thời dĩ quá nhị thập thất nguyệt chi kỳ hĩ. Cử hành cát lễ. Giai nhi giai phụ. Hành lễ từ ninh. Thủy khiếp dư hoài dã. Khâm thử. Trẫm dĩ nhị thập dư niên kháng lệ chi tình. Ân thâm nghị chí. Cự hành sách lập. Vu tâm thật sở bất nhẫn. Tức quá nhị thập thất nguyệt. Vu tâm do dĩ vi tốc. Đãn tư hoàng hậu đại sự. Thượng chẩn thánh mẫu hoài tư. Cửu nhi di đốc. Tuế thời lệnh tiết. Dĩ cập định tỉnh ôn sảnh. Trẫm tuy suất chư phi tần, cập chư tôn, vấn an tả hữu. Nhi trung cung hư vị. Tất hữu cố chi nhi sảng nhiên giả. Cố nghi cức thừa từ mệnh. Dĩ úy thánh tâm. Thả tần tường nội thị. Dịch đình chi phụng chức đãi lý giả thậm chúng. Bất khả tán nhi vô thống. Chí vương phi mệnh phụ đẳng, giai hữu ứng hành điển lễ. Duẫn khoáng bất cử. Diệc vu lễ chế vị hiệp. Sách lập kí bất nhẫn cử hành. Khả cô tòng quyền chế. Khảo chi minh thái tổ thục phi lý thị ninh phi quách thị, tương kế nhiếp lục cung sự. Quốc triều thuận trị thập tam niên, sách lập hoàng quý phi. Hoàng tằng tổ thế tổ chương hoàng đế thăng điện mệnh sử dực nhật ban chiếu thiên hạ. Điển chí sùng trọng. Kim ứng phảng hiệu tiền quy. Sách mệnh nhàn quý phi na lạp thị vi hoàng quý phi. Nhiếp lục cung sự. Vu dĩ chỉnh túc khổn nghi. Thượng phụng thánh mẫu. Tương trợ trẫm cung. Đoan mô phạm nhi nhạ hưu tường. Thuận thành nội trị. Hữu hậu vọng yên. Sở hữu ứng hành điển lễ. Đại học sĩ hội đồng lễ bộ, nội vụ phủ, tường nghị cụ tấu. Tầm nghị, cung tra hoàng quý phi sách phong đại điển. Vương phi mệnh phụ hành lễ. Dĩ hữu thành lệ. Duy quý phi hành lễ chi xử. Ngoại đình vô án khả kê. Đãn hoàng quý phi nhiếp hành lục cung sự. Nhị thập thất nguyệt hậu tức chính vị trung cung. Kí thống lý nội chính. Thể chế tự nghi tôn sùng. Quý phi diệc ứng nhất thể hành lễ. Sở hữu sách phong lễ nghi ứng tiền kỳ nhất nhật. Khiển quan tế cáo thái miếu. Phụng tiên điện cáo tế lễ. Thượng thân nghệ cử hành. Giới kỳ thiết lỗ bộ nghi trượng, trung hòa thiều nhạc. Thượng ngự thái hòa điện duyệt sách bảo. Đại học sĩ đẳng, phủng tiết thụ trì tiết sử. Trì tiết sử tùy sách bảo đình, chí cảnh vận môn thụ nội giam. Hoàng quý phi cụ lễ phục cung nghênh. Tuyên thụ như nghi. Thứ nhật thượng suất vương dĩ hạ văn võ quan viên, nghệ hoàng thái hậu cung hành lễ. Lễ tất. Hoàng quý phi suất quý phi dĩ hạ, công chủ, vương phi, mệnh phụ, hành lễ. Thượng ngự thái hòa điện thụ hạ. Ban chiếu thiên hạ. Tự hậu ngộ tam đại tiết. Cập khánh hạ đại điển. Tam phẩm dĩ thượng đại thần quan viên, tiến tiên khánh hạ. Cập mỗi tuế hành thân tàm lễ. Ứng chiếu lệ cử hành. Đắc chỉ, y nghị sách phong điển lễ. Trứ vu minh niên tam nguyệt hậu cử hành. Kỳ thân tàm lễ. Sĩ chính vị trung cung hậu. Cai bộ chiếu lệ tấu thỉnh.”
  5. ^ Nguyên văn Sách lập Nhàn Quý phi Na Lạp thị làm Hoàng quý phi, nhiếp quản lục cung sự: 命大学士来保为正使。礼部尚书海望为副使。持节、册封娴贵妃那拉氏为皇贵妃摄六宫事。册文曰。朕惟基化必资于内治。宫庭之模范当崇。从宜适协于成规。名位之优隆惟允。稽徽章而具在。重慈命之钦承。咨尔娴贵妃那拉氏、早毓名门。素娴内则。赐从潜邸。久昭婉顺之仪。晋锡荣封。克佐肃雍之化。端庄表度。锵雅韵于珩璜。恪谨持躬。着芳规于翟舀。兹以坤宁之虚位。屡烦圣母之萦怀。选继体于后宫。时加注意。命嗣音于椒殿。每切谕言。朕曲体圣衷。追踪家法。虽母仪俪极。事有待于将来。而阃职总持。典宜隆于此日。恭奉皇太后慈命。以册宝封尔为皇贵妃摄六宫事。尔其只承懿训。益懋壸仪。奉长乐之春晖。勖夏凊冬温之节。统掖庭之内政。赞宵衣旰食之勤。端令范以率先。顺成是望。迓鸿庥而受祉。福履方绥。敬绍前徽。用光显命。钦哉。
  6. ^ 乾隆三十年正月十六日,皇帝驾行江南,同行有:皇后、令贵妃、庆妃、容嫔、永常在、宁常在六位。
  7. ^ “Avec Amélie Lavin, ça déménage au musée des Beaux-Arts”. 
Kế Hoàng hậu
Sinh: , 11 tháng 3 năm 1718 Mất: , 14 tháng 7 năm 1766
Tước hiệu Hoàng gia
Tiền nhiệm:
Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu
Hoàng hậu nhà Thanh
1750 – 1766
Kế nhiệm:
Hiếu Thục Duệ hoàng hậu