Kế Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kế hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kế Hoàng hậu
继皇后
Càn Long Đế Hoàng hậu
Step Empress Ulanara.PNG
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 17501766
Tiền nhiệm Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Cao Tông
Càn Long hoàng đế
Hậu duệ Vĩnh Cơ
Vĩnh Cảnh
Hoàng ngũ nữ
Thụy hiệu Không có, đồng nghĩa bị phế bỏ
Thân phụ Na Nhĩ Bố (那爾布)
Sinh 10 tháng 2, 1718(1718-02-10)
Mất 14 tháng 7, 1766 (48 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Trung Quốc
An táng Dụ lăng (裕陵), địa cung dành cho phi tần

Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu (chữ Hán: 清高宗继皇后, 10 tháng 2 năm 1718 - 14 tháng 7 năm 1766), Ô Lạt Na Lạp thị, là Hoàng hậu thứ hai của Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế.

Thanh sử cảo - Hậu phi liệt truyện (后妃列傳), bà được ghi là Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị (皇后烏拉那拉氏), bà được biết đến là Hoàng hậu nhà Thanh duy nhất không có thụy hiệu. Việc bà bị thất sủng và không được đặt thụy hiệu của bà cho đến nay vẫn còn là uẩn khúc lớn của lịch sử nhà Thanh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kế Hoàng hậu xuất thân từ gia tộc danh giá Ô Lạp Na Lạp thị (烏拉那拉氏) của Ná Lạp thị, thuộc Mãn quân Tương Hoàng Kỳ, tuy nhiên đúng ra bà phải được gọi là Huy Phát Na Lạp thị (輝發那拉氏), do dòng tộc bà là hậu duệ của Huy Phát Bối lặc Vương Cơ Trữ (王機褚).

Theo Khâm định Bát Kỳ thông chí (钦定八旗通志) và Bát Kỳ Mãn Châu thị tộc tông phổ (八旗满洲氏族通谱), nguyên một dòng tộc Na Lạp thị cư tại vùng đất tên Huy Phát, là khởi thủy bởi Huy Phát Bối lặc Vương Cơ Trữ, xét là Mãn Châu Tương lam kỳ thuộc Hạ ngũ kỳ xuất thân. Dòng dõi này qua các đời thế tập chức vụ Tá lĩnh (佐领), thuộc hàng Tứ phẩm. Mãng Khoa (莽科), là tằng tổ phụ, sinh La Hòa (罗和) nhậm Phó đô thống. La Hòa sinh ra La Đa (罗多) nhậm Hộ quân Tham lĩnh và Na Nhĩ Bố (那爾布) nhậm Tá lĩnh. Na Nhĩ Bố là cha thân sinh ra bà, trong nhà bà còn có người anh em tên Nột Lý (讷里), Nột Lý sinh ra Nạp Tô Khẳng (纳苏肯).

Cho nên đáng lý ra, bà phải được gọi là Hoàng hậu Huy Phát Na Lạp thị, nhưng vào trong cung lẫn Thanh sử cảo đều ghi bà là Ô Lạt Na Lạp thị, vì do trong Na Lạp thị chỉ có Diệp HáchÔ Lạp là hai chi bộ tộc chân chính. Trong các sách văn sách phong về sau, bà hay được gọi ngắn gọn là Na Lạp thị (那拉氏), cũng vì nguyên do như vậy. Xét ra bà không cùng dòng dõi với Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu, nguyên phối của Thanh Thế Tông Ung Chính Đế.

Bà sinh ngày 10 tháng 2 âm lịch, năm Khang Hi thứ 51, tức ngày 11 tháng 3, năm 1718. Bà kém Càn Long Đế độ chừng 7 tuổi, tên thật của bà không được truyền lại.

Không rõ từ khi nào mà bà kết hôn với Càn Long Để. Chỉ biết dưới thời Thanh Thế Tông Ung Chính Hoàng đế, bà nhập phủ Bảo Thân vương Hoằng Lịch và được sắc phong làm Trắc Phúc Tấn. Trong chế độ nhà Thanh, vị trí Trắc phúc tấn tuy được xét cùng là thị thiếp, nhưng có đãi ngộ và lương bổng tương tự Phúc tấn, thậm chí đị vị có thể ngang với dưới chính thất là Phúc tấn vì cùng có áo mũ, quan phục. So ra, tuy cùng là thiếp nhưng cao hơn các thiếp hầu khác, được gọi là Cách cách.

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long nguyên niên (1735), Thế Tông Ung Chính Hoàng đế băng hà, Bảo Thân vương Hoằng Lịch nối ngôi, sử gọi Càn Long Đế. Phúc tấn Phú Sát thị lên ngôi Hoàng hậu, Trắc phúc tấn Cao thị được phong Quý phi, Trắc phúc tấn Ô Lạt Na Lạp thị được sắc phong phẩm vị Nhàn phi (娴妃), ngự ở Dực Khôn cung (翊坤宫).

Năm Càn Long thứ 10 (1746), ngày 13 tháng 1, Nhàn phi Ô Lạt Na lạp thị được sách phong Nhàn Quý phi (嫻貴妃). Khi ấy, Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao thị đã qua đời, Nhàn Quý phi có phẩm vị cao nhất chỉ sau Phú Sát Hoàng hậu, ngang hàng với Thuần quý phi Tô thị, mẹ sinh của Hoàng tam tử Vĩnh Chương.

Năm Càn Long thứ 13 (1748), ngày 8 tháng 4, Phú Sát Hoàng hậu qua đời, lúc đó chính sự bận rộn nên Càn Long Đế vẫn để trống ngôi Hoàng hậu. Sùng Khánh hoàng thái hậu Nữu Hỗ Lộc thị nhận thấy Nhàn Quý phi đoan trang huệ hạ, có mẫu nghi chi phong, đủ khả năng trở thành Hoàng hậu, nên đề nghị với Càn Long Đế lập bà làm Tân hậu. Càn Long Đế đối với Phú Sát Hoàng hậu tình cảm nhiều năm, trong lòng đau buồn và không có ý lập Tân hậu ngay. Tuy nhiên Càn Long Đế cũng không thể trái ý của Thái hậu, nên vào 4 tháng sau, tức tháng 8 cùng năm ấy, Càn Long Đế ra chỉ dụ nâng Nhàn Quý phi lên thành Hoàng quý phi, cho cai quản mọi việc lớn nhỏ trong Hậu cung, tạm giữ ấn Hoàng hậu[1]. Sang năm sau (1749), ngày 5 tháng 4, lễ sách phong Hoàng quý phi mới chính thức cử hành.

Năm Càn Long thứ 15 (1750), ngày 2 tháng 8, Hoàng quý phi Ô Lạt Na Lạp thị được chính thức sắc phong thành Hoàng hậu.

Bấy giờ, Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị được Càn Long Đế rất sủng ái, thực sự xuân phong đắc ý, vinh quang phi thường. Này khi vừa phong Hậu, cha bà đã tạ thế trước đó nghiễm nhiên được tặng làm Nhất đẳng Thừa Ân công (一等承恩公), mẹ bà trở thành Thừa Ân công phu nhân, cháu trai bà tiếp nhận tước vị Nhất đẳng hầu (一等侯) thế tập. Bà từ vị tần phi, tuy hơn 30 chưa sinh dục, khai chi tán diệp cho hoàng thất nhưng cũng từ từ được phong Hoàng hậu, hơn nữa từng dùng Hoàng quý phi thân phận quản nhiếp lục cung sự vụ, có thể thấy tương đối hiếm có. Nếu không phải vì năng lực được Thái hậu bảo chứng, thì cũng là vì Càn Long Đế đặc biệt coi trọng. Bà hay cùng Càn Long Đế bái yết Tông miếu, cùng ông ngao du Giang Nam, lên Ngũ Đài sơn thấp hương, tuần du Tây Nam, có thể nói vinh sủng không hề ít.

Năm Càn Long thứ 17 (1752), ngày 7 tháng 6, Hoàng hậu mang thai và sinh hạ Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ, sang năm sau sinh hạ Hoàng ngũ nữ. Ngày 2 tháng 1, năm thứ 21 (1756), sinh hạ Hoàng thập tam tử là Vĩnh Cảnh (永璟), nhưng năm sau thì chết yểu.

Đột ngột thất sủng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 30 (1765), tháng 1, Hoàng hậu đi cùng Càn Long Đế trong lần du hành xuống phương Nam lần thứ 4, còn có 3 vị phi tần khác là Lệnh Quý phi Ngụy thị, Khánh phi Lục thị và Dung tần Hòa Trác thị. Đoàn du hành đi qua Dương Châu, Tô Châu, Giang Ninh trong vỏn vẹn một tháng trời.

Khi đến Hàng Châu, Càn Long vẫn còn rất sủng ái bà, thậm chí còn tổ chức buổi tiệc sinh nhật cho bà (tức ngày 10 tháng 2). Đến ngày 18 tháng 2, Càn Long hoàng đế gửi thức ăn đến cho bà nhưng buổi tối hôm đó, bà không lộ diện ăn cùng ông mà chỉ có 3 vị cung phi trên. Ngay ngày hôm đó, Càn Long Đế bí mật phái Ngạch phò Phúc Long An (福隆安) đưa Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu về Bắc Kinh bằng đường thủy, chấm dứt chuyến Nam tuần năm ấy. Sau khi trở về, Càn Long Đế ra lệnh thu hồi 4 sách phong đã ban cho bà trước đây; tức là sách phong của Hoàng hậu, Hoàng quý phi, Nhàn quý phiNhàn phi kim sách. Từ Dực Khôn cung, bà bị chuyển sang cấm túc ở Vĩnh Hoà cung (永和宫). Càn Long còn thậm chỉ cắt giảm số cung nữ theo hầu bà, cho đến khi chỉ còn có hai người. Theo cung quy nhà Thanh, chỉ cấp Thường tại mới có 2 cung nữ bên cạnh mà thôi.

Năm sau (1766), ngày 14 tháng 7, Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu qua đời, thọ 48 tuổi, có tin đồn rằng bà bị Càn Long Đế ban chết. Khi bà mất, Càn Long Đế đang ở Mộc Lang Vi Trường (木蘭圍場) săn thú.

Ngày hôm sau (15 tháng 7), Càn Long Đế ra chỉ dụ, đại khái ý tứ như sau: "Hoàng Hậu tự sắc lập tới nay thượng vô thất đức. Mùa xuân năm trước trẫm cung phụng Hoàng thái hậu tuần du Giang Chiết, đúng ra là việc vui mừng, nhưng Hoàng hậu tính khí thay đổi, không thể giữ hiếu đạo với Thái hậu... Khi đến Hàng Châu, hành động sai trái, cử chỉ điên loạn. Vì vậy trước lệnh cho Hoàng hậu hồi kinh, ở trong cung hối lỗi. Sau Hoàng hậu phát bệnh, ngày càng nguy kịch, mất đi tính mạng. Việc này là do Hoàng hậu phúc phận nông cạn, không thể dựa vào Thánh mẫu từ quyến... Luận Hoàng hậu hành sự thất thường, đương nhiên có thể phế truất, nhưng trẫm vẫn giữ lại vị hào đã là phá lệ rộng rãi." Nhìn chung ý nói Hoàng hậu qua đời là do không có phúc phận, không tiện cử hành đại tang như Hiếu Hiền hoàng hậu, nên dụ cho Nội Vụ phủ tiến hành an táng theo nghi thức dành cho Hoàng quý phi, vào Dụ lăng phi viên tẩm.

Điều này đồng nghĩa với việc phế bỏ danh vị Hoàng hậu của bà.

Hậu táng[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Càn Long biết tin Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu tạ thế, thì ông đang đi săn ở Mộc Lang Vi Trường. Ông không hề sửng sốt cũng như dừng cuộc đi săn lại, mà chỉ để con trai Hoàng hậu là Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ trở về Bắc Kinh chịu tang, rồi tiếp tục đi săn thú. Qua ngày hôm sau, ông mới ra chỉ dụ an táng Hoàng hậu theo nghi thức Hoàng quý phi.

Lưu Li Hoa môn tại Dụ Lăng.

Theo chỉ dụ của Càn Long Đế, Na Lạp Hoàng hậu chỉ được hưởng tang lễ như một vị Hoàng quý phi, nhưng thực tế còn tệ hơn. Trong tang lễ của một Hoàng quý phi; công chúa, các mệnh phụ phu nhân và một số quan lại đại thần được yêu cầu vào viếng tang, nhưng tang lễ của Ô Lạt Na Lạp hoàng hậu thì không có. Bà không phụ táng Dụ Lăng, mà bị nhét vào Phi viên tẩm an táng.

Với danh vị thấp nhất là Phi mà bà từng thụ phong thì bà phải có lăng mộ riêng, tuy nhiên bà chỉ được an táng như một cung nữ kế bên lăng tẩm của Thuần Huệ Hoàng quý phi trong Dụ lăng phi viên tẩm. Đường đường Hoàng hậu bây giờ lại còn phải ở chung mộ phần với một Hoàng quý phi, mà lại còn là thân phận cung nữ vô danh. Theo Đại Thanh hội điển, quan tài Hoàng quý phi là tử mộc (梓木), 35 đạo, khiên bởi 96 người, nhưng theo tài liệu Nội Vụ phủ ghi được thì quan tài của Na Lạp hoàng hậu là sam mộc (杉木), khiên phu 64 người, chỉ là tang nghi thuộc bậc Tần mà thôi. Mặt khác, Hoàng quý phi, Quý phi và Phi thì ít nhất bà phải có bài vịmộ phần, cung phóng tại trong viên tẩm hưởng điện, tế lễ thì tại điện nội cử hành, chỉ có Tần trở xuống không có thần bài. Này thì Na Lạp thị không có bài vị, chôn chung vào Thuần Huệ Hoàng quý phi mộ, nhập táng về sau cũng không đề cập tới. Căn cứ Nội Vụ Phủ hồ sơ ghi lại, toàn bộ tang sự chỉ dùng bạc 207 hai 9 phân 4 li, còn không bằng một cái cấp thấp triều đình quan viên.

Cái chết của bà cũng không được cáo phát trước triều đình, nên hầu như rất ít người biết được, về sau người ta mới biết và hồ nghi về nguyên nhân bà chết, thì Càn Long Đế mới ra chỉ dụ giải thích qua loa. Họa sĩ Lang Thế Ninh vào năm Càn Long nguyên niên từng vào triều phụng mệnh vẽ chân dung Hoàng đế, Hoàng hậu và Tần phi. Ta có thể thấy tần phi phẩm phục đều được vẽ, ghi chú đàng hoàng, hẳn là phải có chân dung Na Lạp thị khi còn là Nhàn phi. Hơn nữa khi bà làm Hoàng hậu, tất phải có họa tượng mặc Triều bào toàn thân, thế nhưng tất cả tranh vật như vậy về bà hiện không có, rất có thể khi Na Lạp thị bị phế thì Càn Long Đế đã hủy tranh, thậm chí là bất kì tranh có khuôn mặt bà cũng bị sửa.

Hiện nay bức tranh cho là bà vốn là một bức họa vô danh được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Dole của Pháp, [2] từng nói là Thục Gia Hoàng quý phi khi còn trẻ. Nhưng xét ra trong loạt tranh Tâm tả trị bình (心写治平), loạt tranh chân dung còn khá nguyên vẹn về Càn Long Đế cùng tần phi hồi trẻ cũng có một bức hoạ Gia phi, thì lại không khớp như vậy. Hơn nữa trong loạt tranh của Tâm tả trị bình đều có ghi rõ địa vị từng người, mà tranh này thủ pháp tương tự loạt Tâm tả trị bình nhưng lại không hề xuất hiện cùng loạt tranh ấy. Ngoài ra cũng có suy đoán bức hoạ này là của Vương Trí Thành sở hoạ. Người trong tranh mặc trang phục Tần vị, Kim thị từ Gia tần tiến Gia phi chỉ cách 4 năm, dung mạo khó có thể thay đổi nhanh chóng như vậy. Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu cũng chưa từng trải qua Tần vị, nên cũng khó có thể khẳng định đây là hình vẽ của bà mà nhiều khả năng là Du Quý phi hoặc Thư phi khi còn trẻ.

Từ Kế trong cách gọi không phải thụy hiệu của bà, mà có nghĩa là Hoàng hậu kế tiếp của Hoàng đế. Bà được biết đến là Hoàng hậu duy nhất của nhà Thanh không được truy phong thụy hiệu sau khi qua đời.

Hậu thế nghị luận[sửa | sửa mã nguồn]

Ngự sử Lý Ngọc Minh (李玉鸣) bất bình tang nghi của Na Lạp thị Hoàng hậu, đã cầu xin Càn Long Đế hãy tổ chức tang lễ xứng với địa vị của bà. Kết quả ông bị đày ra biên cương.

Khoảng 12 năm sau, lại có người dâng thư thỉnh Hoàng đế cử hành hậu sự cho Na Lạp thị. Việc này khiến Càn Long tức giận ra lệnh chém đầu kẻ đó, lại nói:"Từ khi Hiếu Hiền Hoàng hậu qua đời đến nay, Na Lạp thị là từ khi Trẫm ở Thanh Cung được Hoàng khảo ban làm Trắc phúc tấn, vị thứ đương cao, lại nghe lời khuyên của Thánh mẫu Hoàng thái hậu, sách vi Hoàng quý phi nhiếp quản lục cung sự vụ. Sau 3 năm sách lập làm Hoàng hậu. Về sau tự mắc lỗi lầm, trẫm vẫn rộng rãi như cũ. Nhưng rồi tự đoạn cắt tóc, tức trái quốc tục, mà tự cho là không biết lỗi, vẫn ngang nhiên như vậy. Trẫm chỉ răn dạy, vì còn nghĩ ơn xưa, không thể phế truất. Sau Hậu bạo băng, trẫm chỉ giảm nghi văn an táng, vẫn chưa lột bỏ danh hào. Huống hồ về sau không lập Hoàng hậu, xử lý việc này trẫm thật là đã tận tình tận nghĩa". Sau đó không còn ai dám đề cập tới hậu sự của Hoàng hậu nữa.

Như vậy, lúc đó Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu đã cắt tóc, mà theo phong tục Mãn Châu thì việc cắt tóc chỉ khi Hoàng đế hoặc Hoàng thái hậu mất, việc Hoàng hậu cắt tóc như xúc phạm bề trên đã khiến Càn Long nổi giận. Tuy nhiên, với một người xuất thân Mãn Châu Bát Kỳ như Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu lại không biết điều cấm kỵ này mà phạm phải? Hơn nữa này là do nhân gian đả kích việc bạc bẽo Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu, mà hơn 10 năm sau khi bà qua đời thì Càn Long Đế mới ra chỉ giải thích, thật giả khó kiểm chứng được.

Nếu coi việc bà cắt tóc là nguyên nhân cho việc thất sủng là thật, Ô Lạt Na Lạp thị sống trong hậu cung 30 năm, làm Hoàng hậu 15 năm, luôn ôn nhu uyển thuận, cẩn thận sáng suốt, đến cuối cùng vì việc gì mà phượng vị Hoàng hậu lẫn quốc tục tối kị đều không màng? Chính điều này đã làm dấy lên nhiều phỏng đoán nghi vấn. Theo một số thuyết là do Hoàng hậu phản đối việc Càn Long xuống Giang Nam vi hành, cho rằng ông chỉ xuống để tìm người đẹp để nhập cung. Càn Long Đế cũng như Khang Hi Đế rất tích cực Nam tuần, không chỉ vì cảnh đẹp Giang Nam, mà còn vì ở đây nổi tiếng nhiều mỹ nữ như hoa như ngọc. Truyền rằng khi tùy Càn Long Đế năm đó, Hoàng đế muốn nhân đêm du hành tìm hoa hỏi liễu, Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu phản đối, thậm chí khóc lóc khuyên can, Càn Long Đế tức giận nên mới bí mật đem bà hồi kinh.

Ngoài ra, trong Văn tự ngục án cung từ của Nghiêm Tăng (严譄) có nói rằng, vào năm đó Càn Long Đế nam tuần, đang ở trên đường đến Giang Nam, có đưa Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu đi theo. Nghiêm Tăng khi đó ở quê hương Sơn Tây, tức nghe được có việc này. Mọi người đều nói, Hoàng đế ở Giang Nam muốn lập phi tử, Hoàng hậu không thuận theo, bởi vậy rất xúc động đem tóc cắt đi. Cái này người nói rất nhiều.

Hành vi khác thường của Ô Lạp Na Lạp thị mà Càn Long đề cập trong chiếu thư, dựa vào y học hiện đại mà giải thích cũng có thể coi là hợp lý. Đầu tiên, sinh hoạt trong hậu cung có vô vàn áp lực, đặc biệt là Mãn Thanh đối với hậu cung quản lý thập phần nghiêm khắc. Hơn nữa, sự việc xảy ra là lúc Ô Lạp Na Lạp thị trung niên, chính là thời điểm tiền mãn kinh của phụ nữ, cho nên cả tâm lí lẫn sinh lý đều chịu áp lực tình huống, cảm xúc nhất thời khó khống chế, do vậy khiến Càn Long long nhan đại nộ là hoàn toàn có khả năng.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị có ba người con với Càn Long Đế:

  1. Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ [永璂; 7 tháng 6, năm 1752 - 17 tháng 3, năm 1776]. Dù là đích xuất nhưng chỉ giữ phong hiệu Bối lặc (貝勒). Sau khi Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị qua đời, ông bị thất sủng và chết khi mới chỉ 25 tuổi.
  2. Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh (永璟; 2 tháng 1, năm 1756 - 7 tháng 9, năm 1757), mất sớm.
  3. Hoàng ngũ nữ [皇五女; 17531755], mất sớm.

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim điện ảnh và truyền hình Diễn viên Nhân vật
1998 Hoàn Châu cách cách Đới Xuân Vinh Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu
1999 Hoàn châu cách cách 2 Đới Xuân Vinh Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu
2002 Hoàn Châu cách cách 3: Chi thiên thượng nhân gian Khương Lê Lê Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu
2002 Càn Long du Giang Nam Khương Hồng Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu
(Nhàn phi → Hoàng hậu)
2004 Càn Long và Hương Phi Ông Hồng Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
(Nhàn phi → Hoàng hậu)
2011 Tân Hoàn Châu cách cách Đặng Tụy Văn Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu
2012 Hậu cung Chân Hoàn truyện Trương Nghiên Ô Lạp Na Lạp Thanh Anh
(Bảo thân vương Trắc phúc tấn → Càn Long Nhàn phi)
2013 Họa khuông nữ nhân Phạm Băng Băng Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu
2014 Cung tỏa liên thành Dương Minh Na Ô Lạt Na Lạp Hoàng hậu
2017 Hậu cung Như Ý truyện Châu Tấn Ô Lạp Na Lạp Như Ý
2017 Diên Hy công lược Xa Thi Mạn Ô Lạt Na Lạp Thục Thận

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyên văn Sách lập Nhàn Quý phi Na Lạp thị làm Hoàng quý phi, nhiếp quản lục cung sự: 命大学士来保为正使。礼部尚书海望为副使。持节、册封娴贵妃那拉氏为皇贵妃摄六宫事。册文曰。朕惟基化必资于内治。宫庭之模范当崇。从宜适协于成规。名位之优隆惟允。稽徽章而具在。重慈命之钦承。咨尔娴贵妃那拉氏、早毓名门。素娴内则。赐从潜邸。久昭婉顺之仪。晋锡荣封。克佐肃雍之化。端庄表度。锵雅韵于珩璜。恪谨持躬。着芳规于翟舀。兹以坤宁之虚位。屡烦圣母之萦怀。选继体于后宫。时加注意。命嗣音于椒殿。每切谕言。朕曲体圣衷。追踪家法。虽母仪俪极。事有待于将来。而阃职总持。典宜隆于此日。恭奉皇太后慈命。以册宝封尔为皇贵妃摄六宫事。尔其只承懿训。益懋壸仪。奉长乐之春晖。勖夏凊冬温之节。统掖庭之内政。赞宵衣旰食之勤。端令范以率先。顺成是望。迓鸿庥而受祉。福履方绥。敬绍前徽。用光显命。钦哉。
  2. ^ “Avec Amélie Lavin, ça déménage au musée des Beaux-Arts”. 
Kế Hoàng hậu
Sinh: , 11 tháng 3 năm 1718 Mất: , 14 tháng 7 năm 1766
Tước hiệu Hoàng gia
Tiền nhiệm:
Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu
Hoàng hậu nhà Thanh
1750 – 1766
Kế nhiệm:
Hiếu Thục Duệ hoàng hậu