Kế Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kế hoàng hậu)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu
清高宗继皇后
Càn Long Đế Hoàng hậu
C-F Attiret La Concubine.jpg
Bức chân dung được cho là Kế hoàng hậu, hiện trưng bày tại Musée des Beaux-Art de Dole, Pháp
Hoàng quý phi Đại Thanh
(Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi)
Tại vị 1 tháng 7 năm 1748
- 2 tháng 8 năm 1750
Đăng quang 5 tháng 4 năm 1749
Tiền nhiệm Tuệ Hiền Hoàng quý phi
Kế nhiệm Thuần Huệ Hoàng quý phi
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 2 tháng 8 năm 1750
- 14 tháng 7 năm 1766
Đăng quang 2 tháng 8 năm 1750
Tiền nhiệm Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Cao Tông
Càn Long hoàng đế
Hậu duệ
Thụy hiệu Không có
Thu hồi sách bảo
Thân phụ Na Nhĩ Bố
Thân mẫu Lang Giai thị
Sinh (1718-03-11)11 tháng 3, 1718
Bắc Kinh, Đại Thanh
Mất 19 tháng 8, 1766(1766-08-19) (48 tuổi)
Vĩnh Hòa cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An táng 28 tháng 9 năm 1766
Dụ lăng (裕陵), Phi viên tẩm

Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu (chữ Hán: 清高宗继皇后, 11 tháng 3, năm 1718 - 19 tháng 8, năm 1766), Ô Lạp Na Lạp thị, là Hoàng hậu thứ hai của Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế. Bà là Hoàng hậu nhà Thanh duy nhất không có thụy hiệu. Trong Thanh sử cảo, bà được ghi là Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị (皇后烏拉那拉氏), sử thần Triều Tiên gọi bà là Thanh Cao Tông hoàng hậu (清高宗皇后), các sách đương thời hay gọi Na Lạp hoàng hậu (那拉皇后), vì bà không có thụy hiệu để xưng hô.

Vụ việc của bà cho đến nay vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi của lịch sử Đại Thanh. Một số nhận định bà đã làm điều thất đức hay tàn ác độc khiến Càn Long Đế chán ghét, tuy nhiên những tư liệu cho thấy căn bản là giữa bà và Hoàng đế đã xảy ra mâu thuẫn lớn trong chuyến Nam tuần, dẫn đến tình trạng bà bị Hoàng đế ra cấm túc cho đến khi qua đời. Theo lời giải thích vào năm 1778 của bản thân Càn Long Đế, ngày hôm đó Hoàng hậu đã cắt tóc, là điều đại kị nhất trong quốc tục Mãn Châu.

Việc bà bị cấm túc đã dấy lên nhiều dị nghị bất bình trong triều đình. Khi bà mất, Càn Long Đế án theo lễ Hoàng quý phi mà an táng, đã khiến nhiều triều thần phản đối, có quan viên vì ngăn cản mà bị lưu đày. Sự việc của bà cũng được đồn đãi trong dân gian, nổi tiếng nhất là những truyền thuyết ở Giang Nam, tất cả đều cho rằng Càn Long Đế khi du tuần Giang Nam, nổi dâm ý muốn nạp ca kỹ làm cung phi, dẫn đến việc Hoàng hậu can ngăn mà bị khiển trách.

Nhìn chung, dưới con mắt đương thời, sự việc của Hoàng hậu không hề khiến bà mang tiếng ác, thậm chí vì bênh vực bà mà đều hướng đến Càn Long Đế chỉ trích.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng dõi[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu sinh ngày 10 tháng 2 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 57, được gọi là Ô Lạp Na Lạp thị (烏拉那拉氏), tuy nhiên đúng ra bà phải được gọi là Huy Phát Na Lạp thị (輝發那拉氏), do dòng tộc bà là hậu duệ của Huy Phát Bối lặc Vương Cơ Trữ (王機褚).

Theo Khâm định Bát Kỳ thông chí (钦定八旗通志) và Bát Kỳ Mãn Châu thị tộc tông phổ (八旗满洲氏族通谱), nguyên bản dòng tộc của Hoàng hậu Na Lạp thị sống tại vùng đất tên Huy Phát, là khởi thủy bởi Huy Phát Bối lặc Vương Cơ Trữ, xét là Mãn Châu Tương Lam kỳ thuộc Hạ ngũ kỳ xuất thân. Xuất thân của dòng họ Kế Hoàng hậu, cần phải giải thích khá phức tạp, cũng vì sự phân nhánh và tình trạng leo lên trong các dòng họ Mãn Châu. Vốn dĩ, dòng họ Na Lạp thị là dòng dõi cổ xưa, đã có ghi chép cuối thời nhà Đường, sang thời Minh sinh ra 4 bộ lớn ở Hải Tây, tất cả đều mang họ Na Lạp thị, nên gọi Na Lạp tứ bộ. Bốn bộ ấy bao gồm: Diệp Hách, Ô Lạp, Cáp ĐạtHuy Phát.

Căn cứ "Tông phổ", trong 4 bộ thì có sớm nhất là Ô Lạp, sau một nhánh của tộc trưởng tộc Ô Lạp di cư sang Cáp Đạt, vì để phân biệt mà họ gọi là Ô Lạp Na Lạp thịCáp Đạt Na Lạp thị[1], trở thành một chi của Ô Lạp Na Lạp thị. Ngoài ra nếu trong lãnh thổ có một địa danh do họ Na Lạp cai quản, cũng lấy tên địa danh gọi thành tông tộc, như Trương Na Lạp thị nếu vùng đất tên Trương. Về sau, một người Mông Cổ tên Tinh Căn Đạt Nhĩ Hán (星根達爾漢), nguyên dòng dõi Thổ Mặc Đặc thị, xuất quân tiêu diệt Trương Na Lạp bộ, thì phát hiện địa phương này lấy Na Lạp thị làm thủ lĩnh, nên đổi qua Na Lạp thị, gọi là Thổ Mặc Đặc Na Lạp thị. Về sau Thổ Mặc Đặc di cư đến Diệp Hách, hình thành nên Diệp Hách Na Lạp thị.

Đồng dạng, Hắc Long giang Nữ Chân có một chi là Ích Khắc Đắc Lý thị, thủ lĩnh là một đôi anh em tên Ngang Cổ Lý (昂古里) và Tinh Cổ Lực (星古力), đem toàn bộ bộ tộc đến địa phương tên Trương. Địa phương có đại bộ chủ, tên Cát Dương Cát Thổ Mặc Đồ (噶揚噶土墨圖), họ Na Lạp thị, chịu trợ giúp hai anh em, nên hai anh em từ đó sửa họ lại thành Na Lạp thị. Về sau hậu duệ Tinh Cổ Lực di cư đến Huy Phát, phát kiến ra Huy Phát quốc, là ngọn nguồn của Huy Phát Na Lạp thị. Do tính chất phân nhánh như vậy của Na Lạp thị, các chi Na Lạp thị luôn tự xưng mình là dòng dõi cổ nhất trong 4 chi, tức Ô Lạp Na Lạp thị.

Cho nên đáng lý ra, Thanh Cao Tông Kế hoàng hậu phải được gọi là Hoàng hậu Huy Phát Na Lạp thị, nhưng dòng dõi của bà vẫn tự xưng là Ô Lạp Na Lạp thị, cũng đều có nguyên do, đó là vì các gia tộc Mãn Châu luôn có hiện tượng "leo lên", tức là các bộ tộc ít tiếng tăm hơn, đều tự xưng là một bộ tộc có cùng họ (trong đây Huy Phát là nơi phát tích, Na Lạp thị là họ). Trường hợp này tương tự Giác La thị, có: Ái Tân Giác La thị, Y Nhĩ Căn Giác La thị, Tây Lâm Giác La thị, Thư Thư Giác La thịGia Mộc Hồ Giác La thị. Trong đó, ngoại trừ Ái Tân Giác La, còn thì Y Nhĩ Căn Giác La là dòng họ có nhiều nhất, nên trong sách phong hoặc truyện ký, hậu duệ Thư Thư Giác La thị và Gia Mộc Hồ Giác La thị thường xuyên tự nhận mình là Y Nhĩ Căn Giác La. Trong các kim sách về sau, bà hay được gọi ngắn gọn là Na Lạp thị (那拉氏), cũng vừa để giản lược, cũng là cách gọi chính xác họ của bà.

Xét ra bà không cùng dòng dõi với Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu, nguyên phối của Thanh Thế Tông Ung Chính Đế.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu chỉ xét về nguồn gốc, dòng dõi của Kế hoàng hậu là dòng dõi của Huy Phát quốc chủ Na Lạp thị, nhìn chung gốc gác rất cao quý. Cao tổ phụ là Mãng Khoa (莽科), là cháu nội của Huy Phát bối lặc Vương Cát Nỗ (王吉砮), cùng thế hệ với vị Bối lặc cuối cùng của Huy Phát quốc, Bái Âm Đạt (拜音達). Mãng Khoa dẫn tông tộc nhập Mãn Châu kỳ, phân phó ở Tương Lam kì, này qua các đời thế tập[2] chức vụ Tá lĩnh (佐领), thuộc hàng Tứ phẩm. Mãng Khoa sinh La Hòa (罗和) nhậm chức Phó đô thống. La Hòa sinh ra La Đa (罗多) nhậm chức Hộ quân Tham lĩnh và Na Nhĩ Bố (那爾布) nhậm chức Tá lĩnh (佐領). Na Nhĩ Bố là cha thân sinh ra Kế hoàng hậu, chính thất và cũng là mẹ của Hoàng hậu là Lang Giai thị (郎佳氏), trong nhà bà còn có người anh em tên Nột Lý (讷里), Nột Lý sinh ra Nạp Tô Khẳng (纳苏肯).

Suy xét về gia thế, gia đình của Kế hoàng hậu không hề tồi, nhưng cũng không xem là quá vinh quý. Tổ phụ đảm nhiệm "Phó đô thống", bá phụ đảm nhiệm "Hộ quân Tham lĩnh", tuy xem là cao cấp quan viên, song xét với Thượng thư hay Đô thống vẫn là có chênh lệch. Cha bà tập tước Tá lĩnh, mà ở xã hội Mãn Châu, tầng lớp cai trị rất xem trọng thể thức Thế quản Tá lĩnh, rồi Thế tước thế chức; biểu thị cho địa vị của dòng tộc trong xã hội Mãn Châu khi đó. Trong đó, Thế tước thế chức biểu thị địa vị gia tộc có công lao khai quốc mà được thụ phong, còn Thế quản Tá lĩnh lại biểu thị dòng dõi có truyền thống và gốc gác cao. Đấy là bởi vì để có được chức "Tá lĩnh", thông thường đều là từ tầng lớp giai cấp Bộ trưởng người Nữ Chân khi xưa, vì những Bộ trưởng sau khi nhập kỳ mới đủ tư cách có chức Tá lĩnh. Tư duy tôn sùng "Bộ trưởng" đặc biệt cao, nhất là giai đoạn đầu thời kì nhập quan. Khi Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế chọn lập Hoàng hậu, tính chọn cháu gái Sách Ni, thì Ngao Bái không đồng tình, mà nên chọn con gái của Át Tất Long. Vì bởi lẽ, Sách Ni tuy là phụ chính đaị thần, quan hàm cao quý, song xuất thân Hách Xá Lý thị rất thấp, chỉ là Hải Tây bộ nhân, không có chức Bộ trưởng hay Lộ trưởng, trong khi đó Át Tất Long xuất thân cao quý Nữu Hỗ Lộc, thế tập Lộ trưởng của Anh Ngạch địa phương. So sánh thì dòng dõi của Sách Ni hoàn toàn thua xa.

Điều này không có nghĩa gia đình của Kế hoàng hậu là có địa vị cực khủng, nếu tính ra thì tuy dòng dõi Huy Phát quốc chúa, song gia đình bà không thuộc chi gần bằng gia tộc của Thông Quý (通貴) thuộc Tương Hồng kỳ, cũng là tử tôn của Vương Cát Nỗ, chi tộc này có Thế quản Tá lĩnh lẫn Thế tước truyền đời. Đặc biệt gia tộc của Kế hoàng hậu, nếu so với Phú Sát thị của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu thì cũng là một quãng xa, do dòng họ này xuất xứ từ "Lộ trưởng", thế tập Tá lĩnh lẫn thừa tước, nhập kì phân ở Tương Hoàng kỳ cao quý, hơn nữa bản thân gia tộc Phú Sát thị khi đó đã có danh vị trọng thần, địa vị gốc gác lẫn thực tế quyền hành đều cao cấp.

Tuy vậy, so với các phi tần khác, đặc biệt là mẹ sinh của Thanh Nhân Tông, Hiếu Nghi Thuần hoàng hậu Ngụy Giai thị, thì Kế hoàng hậu vẫn có xuất thân cao quý hơn hẳn.

Trở thành Trắc Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Không rõ từ khi nào mà bà kết hôn với Càn Long Đế. Bà là Tương Lam kỳ xuất thân, thì chắc chắn sẽ là được chỉ định ban hôn Trắc Phúc tấn trong các đợt Bát Kỳ tuyển tú[3], chứ không phải từ hầu gái thỉnh phong.

Căn cứ vào tư liệu tuyển tú, năm Ung Chính thứ 5 (1727) tiến hành Bát Kỳ tuyển tú, dựa theo thường quy suy tính, thì các mốc tuyển tú còn lại sẽ là: năm thứ 2 (1724), năm thứ 8 (1730) và năm thứ 11 (1733).

Dựa theo cứ liệu trước mắt, Na Lạp thị có lẽ ở năm Ung Chính thứ 12, mùa xuân được chỉ định làm Trắc phúc tấn cho Bảo thân vương Hoằng Lịch. Tuy nhiên, ngay bản thân Càn Long Đế về sau cũng từng nói:"Tự hoàng khảo khi ban làm Trắc thất phi của Trẫm, hơn 20 năm tới nay”, trong chỉ dụ vào năm Càn Long thứ 15 (1750), thì có lẽ Na Lạp thị đã ở đợt tuyển tú năm Ung Chính thứ 8 (1730) nhập Bảo thân vương phủ.

Trong các đợt Bát Kỳ tuyển tú, Hoàng đế có thể chọn các tú nữ vừa mắt cho hoàng tử thân vương, đó là một loại vinh dự vì do chính Hoàng đế ban hôn. Mà có thể tham dự Bát Kỳ tuyển tú, thì chắc chắn xuất thân và gia thế không thể nào tồi, nên thông thường đều là Phúc tấn, hoặc ít nhất cũng là Trắc Phúc tấn. Tuy chỉ là trắc phi, song địa vị Trắc Phúc tấn cũng được xem là cao quý, có đãi ngộ và triều phục đều theo quy định của triều đình gần giống Phúc tấn. Đây cũng là một trong các lý do Na Lạp thị được chọn làm Hoàng hậu về sau.

Phong Phi lập Hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ung Chính thứ 13 (1735), ngày 23 tháng 8, Thế Tông Ung Chính Hoàng đế băng hà, Bảo Thân vương Hoằng Lịch nối ngôi, sử gọi Càn Long Đế.

Năm Càn Long thứ 2 (1737), ngày 4 tháng 12, lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Lễ Bộ Thượng thư Tam Thái (三泰) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Đại Kỳ (岱奇) làm Phó sứ, tuyên chỉ sách phong Trắc phúc tấn Na Lạp thị làm Chính tam phẩm Phi (妃), với phong hiệu là Nhàn (娴). Theo Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ soạn thảo, “Nhàn” theo Mãn văn là 「Elehun」, ý là “Điềm nhiên”, “Thản nhiên”, “Điềm tĩnh”.

Năm Càn Long thứ 10 (1745), ngày 23 tháng 1, chỉ dụ tấn phong Quý phi Cao thị làm Hoàng quý phi, bên cạnh đó Càn Long Đế quyết định đại phong hậu cung, tấn phong Nhàn phi Na Lạp thị, Thuần phi Tô thị đều trở thành Quý phi[4]. Ngày 17 tháng 11, lấy Đại học sĩ Sử Di Trực (史貽直) làm Chính sứ, Lễ bộ Hữu thị lang Giác La Thặc Nhĩ Sâm (覺羅勒爾森) làm Phó sứ, sách phong Nhàn phi Na Lạp thị làm Nhàn Quý phi (嫻貴妃)[5]. Khoảng 2 ngày sau khi có chỉ dụ, Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao thị đã hoăng thệ, Nhàn Quý phi bấy giờ có phẩm vị cao nhất Hậu cung vì chỉ xếp sau Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu mà thôi.

Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 13 (1748), ngày 11 tháng 3, Phú Sát Hoàng hậu qua đời, ngôi vị Hoàng hậu do đó để trống.

Ngày 1 tháng 7 cùng năm ấy, chỉ khoảng 4 tháng sau khi Phú Sát hoàng hậu qua đời, Càn Long Đế chính thức ra chỉ dụ phong Nhàn Quý phi lên thành Hoàng quý phi, ban đặc ân hưởng mọi nghi lễ của Hoàng hậu, gọi là Hoàng quý phi Nhiếp lục cung sự (皇贵妃摄六宫事), chiếu cáo thiên hạ. Tuyên bố đợi khi mãn tang 3 năm sẽ chính thức phong Hoàng hậu.

Trong đoạn chiếu cáo thiên hạ sách lập Na Lạp thị, Càn Long Đế có viết đoạn:

Theo đó, địa vị Hoàng quý phi của bà không giống Hoàng quý phi bình thường, mà đều tương đồng với Hoàng hậu, như: cử hành tế cáo Thái Miếu do đích thân Càn Long Đế chủ lễ, Hoàng đế còn ban chỉ dụ chiếu cáo thiên hạ sắc phong Hoàng quý phi (theo quy chế cổ thì chỉ có lập Hoàng hậu và lập Thái tử mới ban chiếu cáo thiên hạ); hưởng hành lễ và biểu dâng chức mừng của Công khanh đại thần, Vương phi ngoại mệnh phụ, Tam phẩm quan viên trở lên tiến tiền ăn mừng tại Thái Hòa điện, ngoài ra sinh thần của bà cũng được chiếu theo lệ của Hoàng hậu mà cử hành.

Tuy từ trước đó Đổng Ngạc phi cùng Hiếu Ý Nhân hoàng hậu giữ vị trí Hoàng quý phi trong nhiều năm, có nhiều đặc quyền, song chữ Hoàng quý phi Nhiếp lục cung sự chỉ xuất hiện vào thời điểm này khi Càn Long Đế muốn phong Na Lạp thị, tạo nên một danh hiệu chưa từng có. Về sau, chỉ có Hiếu Toàn Thành hoàng hậu mới có được danh hiệu này, nhưng đại lễ sắc phong và việc chiếu cáo thiên hạ đều bị gộp chung khi tổ chức phong Hoàng hậu.

Ngày 5 tháng 4 sang năm (1749), lấy Đại học sĩ Lai Bảo (來保) làm Chính sứ, Lễ bộ Thượng thư Hải Vọng (海望) làm Phó sứ, chính thức tiến hành đại lễ sắc phong Hoàng quý phi, Nhiếp lục cung sự. Sách văn rằng:

Đăng quang Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 15 (1750), ngày 2 tháng 8, lấy Đại học sĩ Phó Hằng làm Chính sứ, Đại học sĩ Sử Di Trực làm Phó sứ, tuyên sách lập Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi Na Lạp thị trở thành Hoàng hậu. Khoảng thời gian này bà chủ yếu sống ở Dực Khôn cung (翊坤宮). Sách văn viết:

Bấy giờ, Hoàng hậu Na Lạp thị được Càn Long Đế rất sủng ái, thực sự xuân phong đắc ý, vinh quang phi thường.

Từ khi sách phong làm Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi, gia đình bà đã nhập Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, còn đạt được "Thừa Ân hầu" (承恩侯) đặc phong. Đến khi vừa phong làm Hoàng hậu, gia đình của bà chân chính trở thành Tương Hoàng kỳ, cha bà được phong làm "Nhất đẳng Thừa Ân công" (一等承恩公), mẹ bà trở thành Thừa Ân công phu nhân. Cháu trai bà Nạp Tô Khẳng, ngày 11 tháng 4 (âm lịch) năm Càn Long thứ 13 (1748), chỉ tầm 1 tháng sau khi Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu qua đời, được Càn Long Đế phong cho chức Càn Thanh môn thị vệ, khi Na Lạp hoàng hậu trở thành Hoàng hậu, thì được tiếp nhận tước vị "Nhất đẳng hầu" (一等侯) thế tập truyền đời.

Hoàng hậu Na Lạp thị từ vị tần phi, tuy hơn 30 chưa sinh dục, khai chi tán diệp cho hoàng thất nhưng cũng từ từ được phong Hoàng hậu, hơn nữa từng dùng Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi thân phận quản lý Hậu cung, thống lĩnh phi tần, có thể thấy là tương đối hiếm. Nếu không phải vì năng lực được Sùng Khánh Thánh mẫu Hoàng thái hậu Nữu Hỗ Lộc thị bảo chứng, thì cũng là vì Càn Long Đế đặc biệt coi trọng bà. Ô Lạp Na Lạp hoàng hậu thường hay cùng Càn Long Đế bái yết Tông miếu, cùng ông ngao du Giang Nam, lên Ngũ Đài sơn thắp hương, tuần du Tây Nam, vinh sủng không ít.

Năm Càn Long thứ 17 (1752), ngày 25 tháng 4 (tức ngày 7 tháng 6 dương lịch), giờ Dần, Hoàng hậu mang thai và sinh hạ Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ. Sang năm sau, ngày 23 tháng 6 (tức ngày 23 tháng 8 dương lịch), giờ Dần, sinh hạ Hoàng ngũ nữ, nhưng mất khi lên 2 tuổi. Năm thứ 20 (1755), ngày 21 tháng 12 (tức ngày 2 tháng 1 năm 1756), giờ Mẹo, sinh hạ Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh (永璟), cũng chết yểu vào năm sau.

Bên cạnh đó, Hoàng hậu là một trong số ít những người được Càn Long Đế tin tưởng mà giao cho việc chỉnh sửa y phục. Đó là ghi chép trong Xuyên đái đương (穿戴档), ghi nhận lại những chỉ dụ về việc dâng tiến và chỉnh sửa trang phục cho Hoàng đế. Năm Càn Long thứ 23, ngày 15 tháng 3, Hồ Thế Kiệt truyền chỉ, dẫn nguyên văn của Hoàng đế:“Cổ áo choàng hơi nhỏ, về đến hoàng cung, đưa cho Hoàng hậu sửa lại nhé”[7]. Hay như một lần khác, truyền chỉ mời Hoàng hậu làm thêm một cái túi Đông Châu để đeo thêm nữa[8].

Năm Càn Long thứ 28 (1763), ngày 18 tháng 5, Càn Long Đế thân đến Nhiệt Hà chơi, đi theo có Na Lạp hoàng hậu, ngoài ra còn có Dĩnh phi, Khánh phi, Hãn tần, Dự tần, Thận tần, Dung tầnTân Thường tại[9]. Tại đây Hoàng đế cho vẽ bức Càn Long cung trung hành lạc đồ (乾隆宫中行乐图), đằng sau có câu thơ rằng:

喬樹重密石逕紆,前行迴顧后行呼。
鬆年粉本東山起,摹作宮中行樂圖。
小坐溪亭清且紆,侍臣義漫襍傳呼。
閼氏來備九嬪列,較勝明妃齣塞圖。
幾閑壺單小遊紆,憑檻何鬚清蹕呼。
詎是衣冠希漢代,丹青寓意寫為圖。
瀑水當年落澗紆,巖邊馴鹿可招呼。
林泉寄傲非吾事,保泰思艱懷永圖。
Kiều thụ trọng mật thạch kính hu, tiền hành hồi cố hậu hành hô.
Tùng niên phấn bổn Đông Sơn khởi, mô tác cung trung hành lạc đồ.
Tiểu tọa khê đình thanh thả hu, thị thần nghĩa mạn tập truyện hô.
Yên thị lai bị cửu tần liệt, giác thắng Minh phi xuất tắc đồ.
Kỉ nhàn hồ đan tiểu du hu, bằng hạm hà tu thanh tất hô.
Cự thị y quan hi Hán đại, đan thanh ngụ ý tả vi đồ.
Bộc thủy đương niên lạc giản hu, nham biên tuần lộc khả chiêu hô.
Lâm tuyền ký ngạo phi ngô sự, bảo thái tư gian hoài vĩnh đồ.

Ý thơ rằng, Càn Long Đế trung niên thưởng lãm, mặc đồ người Hán, nhưng so với các Hoàng đế nhà Hán lại thêm uy phong, vì Hán Hoàng phải gả Vương Chiêu Quân (tức Minh phi) để yên bờ cõi. Đặc biệt, Càn Long Đế còn khen Hoàng hậu tuy đã gần 50 tuổi còn đẹp hơn cả Vương Chiêu Quân, dựa vào câu Yên thị lai bị cửu tần liệt, giác thắng Minh phi xuất tắc đồ (閼氏來備九嬪列,較勝明妃齣塞圖). Danh từ Yên thị (閼氏), hay Yên chi, là chính thất của một Thiền vu người Hung Nô.

Đế-Hậu bất hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 30 (1765), tháng 1, Hoàng hậu đi cùng Càn Long Đế trong lần du hành xuống phương Nam lần thứ 4, còn có 5 vị phi tần khác là Lệnh Quý phi Ngụy thị, Khánh phi Lục thị, Dung tần Hòa Trác thị, Vĩnh Thường tại Uông thị và Ninh Thường tại[10]. Đoàn du hành đi qua Dương Châu, Tô Châu, Giang Ninh trong vỏn vẹn một tháng trời.

Trong chuyến tuần du này, hết thảy mọi việc đều diễn ra bình thường, Càn Long Đế vẫn còn rất sủng ái Hoàng hậu, ngày 18 tháng 1 ra chỉ thưởng đồ ăn cho Hoàng hậu (mà không ra chỉ thưởng cho 5 vị cung phi kia)[11], ngày 9 tháng 2 khi Khánh phi dâng món ăn thì Càn Long Đế ra chỉ dụ tặng cho Hoàng hậu[12], thậm chí Càn Long Đế còn tổ chức buổi tiệc sinh nhật linh đình cho bà (tức ngày 10 tháng 2), năm đó vừa 48 tuổi. Sang ngày 14 tháng 2, tại hành cung Tây Hồ, truyền phủ dịch Tô Châu làm món ngũ vị hương nấu tổ yến cho Hoàng hậu[13].

Đến ngày 18 tháng 2, đoàn Nam tuần đã đến Hàng Châu, ngay khi trời sáng thì Càn Long Đế sai người gửi thức ăn đến cho Hoàng hậu, đặc biệt là trước khi ăn lẫn sau khi ăn đều có chỉ dụ ban thưởng cho Hoàng hậu[14]. Nhưng vào buổi cơm tối hôm đó, bà không lộ diện ăn cùng ông mà chỉ có 5 vị cung phi trên. Về sau, cho đến tận khi kết thúc Nam tuần, Hoàng hậu đều không còn xuất hiện nữa.

Sau này mới biết được, căn cứ Thượng dụ đương (上谕档) của triều Thanh[15], chính ngày 18 tháng 2 ấy, Càn Long Đế đã bí mật phái Ngạch phò Phúc Long An (福隆安), chồng của Hòa Thạc Hòa Gia công chúa, đích thân đưa Na Lạp Hoàng hậu về Bắc Kinh bằng đường thủy. Phân lệ của Na Lạp hoàng hậu trong thời gian này vẫn giữ như cũ, tạm thời bị giam lỏng ở Dực Khôn cung. Tháng 4, sau khi đoàn Nam tuần trở về, Càn Long Đế bắt đầu cắt giảm cung phân của Hoàng hậu.

Ngày 14 tháng 5, Càn Long Đế ra chỉ dụ thu hồi 4 kim sách đã ban cho bà trước đây; tức là kim sách của Hoàng hậu, Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi, Nhàn Quý phi và Nhàn phi. Bên cạnh đó, Hoàng đế còn từng bước cắt giảm số cung nữ theo hầu bà, và đến tháng 7 thì chỉ còn có 2 người bên cạnh Hoàng hậu, nhưng Hoàng đế vẫn giữ lại 10 Thái giám có nhiệm vụ giám sát Hoàng hậu.

Năm Càn Long thứ 31 (1766), ngày 14 tháng 7 (âm lịch), giờ Mùi, Hoàng hậu qua đời tại Vĩnh Hoà cung (永和宫), thọ 49 tuổi. Khi bà mất, Càn Long Đế đang ở Mộc Lang Vi Trường (木蘭圍場) săn thú.

Ngày hôm sau (15 tháng 7), Càn Long Đế ra chỉ dụ, đại khái ý tứ như sau:

Nhìn chung, Càn Long Đế ý nói Hoàng hậu qua đời là do không có phúc phận, không tiện cử hành đại tang như Hiếu Hiền hoàng hậu năm xưa, nên dụ cho Nội vụ phủ tiến hành an táng theo nghi thức dành cho Hoàng quý phi, vào Dụ lăng phi viên tẩm. Điều này đồng nghĩa với việc phế bỏ danh vị Hoàng hậu của Na Lạp thị.

Gia đình bà sau khi Kế hậu thất sủng cũng bị cưỡng chế đổi trở lại thành Tương Lam kỳ, tước vị Thế quản Tá lĩnh cũng bị tước bỏ, đổi lại thành Công trung Tá lĩnh. Gia đình của Kế hậu từ đó trở nên xuống dốc.

Hậu táng sơ sài[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Càn Long biết tin Na Lạp Hoàng hậu tạ thế, thì ông đang đi săn ở Mộc Lang Vi Trường. Ông không hề sửng sốt cũng như dừng cuộc đi săn lại, mà chỉ để con trai Hoàng hậu là Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ trở về Bắc Kinh chịu tang, rồi tiếp tục đi săn thú. Qua ngày hôm sau, ông mới ra chỉ dụ an táng Hoàng hậu theo nghi thức Hoàng quý phi.

Ngày 28 tháng 9 cùng năm, táng vào Minh lâu của Dụ lăng Phi viên tẩm, mộ phần của Thuần Huệ Hoàng quý phi.

Lưu Li Hoa môn tại Dụ Lăng.

Theo chỉ dụ của Càn Long Đế, Na Lạp Hoàng hậu chỉ được hưởng tang lễ như một vị Hoàng quý phi, nhưng thực tế còn tệ hơn. Trong tang lễ của một Hoàng quý phi; công chúa, các mệnh phụ phu nhân và một số quan lại đại thần được yêu cầu vào viếng tang, nhưng tang lễ của Na Lạp hoàng hậu thì không có. Bà không phụ táng Dụ Lăng, mà bị nhét vào Phi viên tẩm an táng.

Với danh vị thấp nhất là Phi mà bà từng thụ phong thì bà phải có lăng mộ riêng, tuy nhiên bà chỉ được an táng bên trong lăng tẩm của Thuần Huệ Hoàng quý phi, là phần Minh lâu rất riêng biệt trong Dụ lăng phi viên tẩm. Đường đường Hoàng hậu Đại Thanh, bây giờ lại còn phải ở chung mộ phần với một Hoàng quý phi. Theo Đại Thanh hội điển, quan tài Hoàng quý phi là tử mộc (梓木), 35 đạo, khiên bởi 96 người, nhưng theo tài liệu Nội vụ phủ ghi được thì quan tài của Na Lạp hoàng hậu là sam mộc (杉木), khiên phu 64 người, chỉ là tang nghi thuộc bậc Tần mà thôi. Mặt khác, Hoàng quý phi, Quý phi và Phi thì ít nhất bà phải có bài vịmộ phần, cung phóng tại trong viên tẩm hưởng điện, tế lễ thì tại điện nội cử hành, chỉ có Tần trở xuống không có thần bài. Nay thì Na Lạp thị không có bài vị, chôn chung vào mộ Thuần Huệ Hoàng quý phi, nhập táng về sau cũng không đề cập tới. Căn cứ Nội vụ Phủ hồ sơ ghi lại, toàn bộ tang sự chỉ dùng 207 lượng 9 phân 4 li bạc, còn không bằng một quan viên cấp thấp.

Cái chết của bà cũng không được cáo phát trước triều đình, nên hầu như rất ít người biết được, về sau người ta mới biết và hồ nghi về nguyên nhân bà chết, thì Càn Long Đế mới ra chỉ dụ giải thích qua loa. Họa sĩ Lang Thế Ninh vào năm Càn Long nguyên niên từng vào triều phụng mệnh vẽ chân dung Hoàng đế, Hoàng hậu và Tần phi. Ta có thể thấy tần phi phẩm phục đều được vẽ, ghi chú đàng hoàng, hẳn là phải có chân dung Na Lạp thị khi còn là Nhàn phi. Hơn nữa khi bà làm Hoàng hậu, tất phải có họa tượng mặc Triều bào toàn thân, thế nhưng tất cả tranh vật như vậy về bà hiện không có, rất có thể khi Na Lạp thị bị phế thì Càn Long Đế đã hủy tranh, thậm chí là bất kì tranh có khuôn mặt bà cũng bị sửa.

Hiện nay bức tranh cho là bà vốn là một bức họa vô danh được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Dole của Pháp,[17] từng nói là Thục Gia Hoàng quý phi khi còn trẻ. Nhưng xét ra trong loạt tranh Tâm tả trị bình (心写治平), loạt tranh chân dung còn khá nguyên vẹn về Càn Long Đế cùng tần phi hồi trẻ cũng có một bức hoạ Gia phi, thì lại không khớp như vậy. Hơn nữa trong loạt tranh của Tâm tả trị bình đều có ghi rõ địa vị từng người, mà tranh này thủ pháp tương tự loạt Tâm tả trị bình nhưng lại không hề xuất hiện cùng loạt tranh ấy. Ngoài ra cũng có suy đoán bức hoạ này là của Vương Trí Thành sở hoạ. Người trong tranh mặc trang phục Tần vị, Kim thị từ Gia tần tiến Gia phi chỉ cách 4 năm, dung mạo khó có thể thay đổi nhanh chóng như vậy. Na Lạp Hoàng hậu cũng chưa từng trải qua Tần vị, nên cũng khó có thể khẳng định đây là hình vẽ của bà mà nhiều khả năng là Du Quý phi hoặc Thư phi khi còn trẻ.

Từ Kế trong cách gọi không phải thụy hiệu của bà, mà có nghĩa là Hoàng hậu kế tiếp của Hoàng đế. Bà được biết đến là Hoàng hậu duy nhất của nhà Thanh không được truy phong thụy hiệu sau khi qua đời.

Nguyên nhân sự việc của Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi nghe chiếu dụ thực hiện tang lễ cho Na Lạp hoàng hậu, có Ngự sử Lý Ngọc Minh (李玉鸣) bất bình, đã cầu xin Càn Long Đế hãy tổ chức tang lễ xứng với địa vị Hoàng hậu của bà. Kết quả, ông bị đày ra biên cương. Tuy nhiên việc đó cũng không làm chấm dứt sự bất bình của triều đình đối với việc làm của Hoàng đế. Điều đặc biệt là không chỉ triều đình, đến người trong hoàng tộc họ Giác La thị và ngay cả trong dân gian, nhất là vùng Giang Nam, vẫn liên tục phỏng đoán vụ việc này, tất cả đều đả kích việc làm của Càn Long Đế.

Khoảng 12 năm sau, năm Càn Long thứ 43 (1778), lại có người dâng thư thỉnh Hoàng đế cử hành hậu sự cho Na Lạp Hoàng hậu, việc này khiến Càn Long Đế bắt buộc phải ra chiếu dụ giải thích:

Như vậy, lúc đó Na Lạp Hoàng hậu đã cắt tóc, mà theo phong tục Mãn Châu thì việc cắt tóc chỉ khi Hoàng đế hoặc Hoàng thái hậu mất, khép vào đại bất kính, đại bất hiếu, và việc Hoàng hậu cắt tóc như xúc phạm bề trên đã khiến Càn Long Đế nổi giận. Tuy nhiên, với một người xuất thân Mãn Châu Bát Kỳ như Na Lạp Hoàng hậu lại không biết điều cấm kỵ này mà phạm phải? Hơn nữa, khi này là do nhân gian đả kích việc Hoàng đế bạc bẽo Na Lạp hoàng hậu đang ở cao trào, mà hơn 10 năm sau khi Hoàng hậu qua đời thì Càn Long Đế mới ra chỉ giải thích, thật giả khó kiểm chứng được.

Nếu coi việc bà cắt tóc là nguyên nhân cho việc thất sủng là thật, Hoàng hậu Na Lạp thị sống trong hậu cung 30 năm, làm Hoàng hậu 15 năm, luôn ôn nhu uyển thuận, cẩn thận sáng suốt, đến cuối cùng vì việc gì mà phượng vị Hoàng hậu lẫn quốc tục tối kị đều không màng?

Dân gian đồn đãi[sửa | sửa mã nguồn]

Chính điều này đã làm dấy lên nhiều phỏng đoán nghi vấn. Giả thiết được lưu truyền nhiều nhất, là do Hoàng hậu phản đối việc Càn Long xuống Giang Nam vi hành, cho rằng ông chỉ xuống để tìm người đẹp để nhập cung, được gọi là Giang Nam liệp diễm (江南猎艳).

Trong lịch sử, Càn Long Đế cũng như Khang Hi Đế rất tích cực Nam tuần, không chỉ vì cảnh đẹp Giang Nam, mà còn vì ở đây nổi tiếng nhiều mỹ nữ như hoa như ngọc. Trong truyền thuyết, khi Nam tuần thì Càn Long Đế từng đến Thanh Phố, Hoài An và sủng hạnh một vài con hát xinh đẹp. Có một con hát tên Tuyết Như (雪如), nhan sắc xinh đẹp, chuyên câu dẫn nam nhân đã khiến Hoàng đế vui thích bằng dáng vẻ chiều chuộng, kĩ năng phòng the cao nên rất được Hoàng đế chiếu cố. Xong việc, nàng còn được Hoàng đế ban cho rất nhiều thứ như ngọc như ý, trân châu, trâm cài đều tinh xảo. Trên bả vai Tuyết Như có thêu một hình Tiểu đoàn long, nhiều người diễn giải rằng do Hoàng đế hay vuốt ve bả vai nàng, nên lệnh cho đặc biệt thêu lên một hình Tiểu long, mang ý sủng dị. Hoàng hậu cư nhiên không biết chuyện này. Khi cả đoàn đến Hàng Châu, Càn Long Đế nổi hứng mặc Thường phục, cải trang làm du khách ăn chơi lên phố, hòng tiếp tục tìm kiếm người đẹp. Na Lạp Hoàng hậu biết được thì bàng hoàng phản đối, thậm chí khóc lóc khuyên can, Càn Long Đế không nghe, thậm chí chửi mắng Hoàng hậu tinh thần không ổn, nên mới bí mật đem bà hồi kinh.

Một truyền thuyết nữa nói rằng, Na Lạp hoàng hậu cùng Càn Long Đế thực hiện chuyến Nam tuần năm thứ 30, khi đến Kim Lăng, Hoàng đế cùng với đám thần tử sủng ái chạy trên sông Tần Hoài tìm ca kỹ mua vui. Quan viên địa phương muốn lấy lòng Hoàng đế, đã cho sắp xếp một chiếc thuyền hoa tráng lệ, bên trên đầy những kỹ nữ tuổi trẻ mơn mởn, nhan sắc hồ mị, dáng điệu lẳng lơ nhảy múa ca hoan. Càn Long Đế đại hỉ, ban thưởng cho quan viên bọn họ, còn cùng các ca kỹ nghe hát nhạc dâm đến hết cả đêm. Hoàng hậu biết được chuyện này, vốn không thể nhẫn nhịn nữa, đả đem toàn bộ tóc cắt đi hết. Càn Long Đế trở về thì thấy sự tình, trách mắng Hoàng hậu vô phép thất đức, ghen tuông vô cớ, bèn sai người đưa Hoàng hậu về kinh sư, giam vào lãnh cung.

Một loại thuyết gọi là "Sủng thiếp diệt thê" nói, khi đó Càn Long Đế sủng ái Lệnh Ý Hoàng quý phi, muốn lập làm Hoàng quý phi nên Hoàng hậu phản đối, bị đưa về kinh sư. Từ khi Đại Thanh lập quốc, trừ Đổng Ngạc phi thời Thuận Trị, thì nhà Thanh tối kị việc lập Hoàng quý phi khi đang còn Hoàng hậu, vì như thế sẽ đe dọa vị trí của Hoàng hậu.

Ghi chép đương thời[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chép về Na Lạp hoàng hậu trong Thanh sử cảo:

Chuyện Na Lạp hoàng hậu đột ngột bị giam cầm, được sứ giả người Triều TiênHồng Đại Dung (홍대용), một học giả nổi tiếng ở Triều Tiên ghi lại với tâm thế rất bất bình thay cho Hoàng hậu. Ông từng sang triều Thanh làm sứ thần thời Càn Long, và đã ghi chép một số truyện trong cuốn Ngoại tập yến ký (外集燕记), ông từng ghi chép về sự kiện cấm túc Na Lạp hoàng hậu như sau:

Trong Văn tự ngục án cung từ (文字狱案供词) của Nghiêm Tăng (严譄), có nói rằng:

Trong Khiếu đình tạp lục (啸亭杂录) cũng có ghi lại chuyện tông thất A Vĩnh A (阿永阿) can gián Càn Long Đế việc đối đãi tệ bạc với Na Lạp hoàng hậu.

Trong Thanh sử cảo, phần Bộ viện đại thần niên biểu, Tiền Nhữ Thành khuất dưỡng ở năm thứ 30, ngày 3 tháng 5; còn ở Thanh sử liệt truyện (清史列传), truyện về Tiền Nhữ Thành cũng ghi là năm thứ 30, tháng 5 thì xin khuất dưỡng. Tuy cả hai bộ đều không nói rõ nguyên nhân Tiền Nhữ Thành khuất quan, song thời gian đều minh xác, có thể thấy câu chuyện ở Khiếu đình tạp lục thập phần đáng tin.

Còn chuyện A Vĩnh A vì can gián mà bị bãi chức, thực sự có gi trong Triều Tiên vương triều thực lục: "Càn Long giam cầm Hoàng hậu, mà Hình bộ Thị lang A Vĩnh A cực lực can gián" (Nguyên văn: 乾隆幽囚皇后,而刑部侍郎阿永阿极谏。). Thanh sử cảo ghi chuyện A Vĩnh A, ghi nhận ngày 2 tháng 5 năm Càn Long thứ 30, A Vĩnh A bị khiển cách chức.

Càn Long Đế biểu thị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 30, tức ngay năm xảy ra chuyện, vào ngày 20 tháng 6, khoảng gần 4 tháng sau khi Na Lạp hoàng hậu bị giam lỏng, Càn Long Đế đã bí mật gửi một bức thư đến Nạp Tô Khảng, cháu trai gọi Na Lạp hoàng hậu là cô mẫu, trong khi bức thư được phát ra là từ ngày 3 tháng 3, gần 1 tuần sau sự kiện Na Lạp hoàng hậu.

Nội dung bức thư viết, theo Hán ngữ đã được dịch (do bức thư gốc là theo chữ Mãn):

Ở đây, Tiễn phát (翦发), cùng với Cạo phát (剃发), tuy dịch ở tiếng Việt nôm na là dùng vật sắt cắt đi mái tóc, nhưng ở ngôn ngữ đa nghĩa như chữ Hán lại là 2 vấn đề một trời một vực.

Cái gọi là Cạo phát, chỉ chính là việc hằng ngày cắt tóc, người nam giới Bát Kỳ triều Thanh bởi vì muốn lưu bím tóc, cho nên yêu cầu thường xuyên cắt tóc. Vào lúc chủ nhân qua đời, hay quốc tang trọng thể, thường yêu cầu Trăm ngày không được cạo phát, tức là cấm không được cắt cạo tóc trong vòng 100 ngày diễn ra đại tang.

Còn gọi Tiễn phát, là một tập tục cổ của người Mãn Châu. Đó là khi chủ nhân hoặc là tôn trưởng qua đời, các nô tài hoặc vãn bối (nam hay nữ đều được), muốn biểu thị tiếc hận, liền tiễn phát để tỏ tấm lòng. Đó là khi Thanh Thế Tổ băng hà: "Thánh Tổ Nhân hoàng đế tiệt bím tóc, thành phục. Vương, dưới Văn Võ các quan, Cố Luân công chúa, Hòa Thạc phúc tấn, dưới Tông nữ, Tá lãnh, Tam đẳng Thị vệ, Mệnh phụ trở lên, toàn thành phục. Nam trích quan anh, tiệt bím tóc, nữ đi trang sức, tiễn phát".

Cho nên, theo lời trong bức thư, Na Lạp hoàng hậu đã tiễn phát, trong khi Hoàng đế và cả Hoàng thái hậu đều còn sống, hẳn là đã phạm đại kị. Tuy nhiên, nguyên nhân vì sao Na Lạp hoàng hậu đột nhiên muốn xuất gia, ngay cả Càn Long Đế vẫn không hay biết. Đó là vì dựa vào chu phê thứ phúc đáp chiết thỉnh an của Thập ngũ a ca, tức Thập ngũ a ca thỉnh an chiết (十五阿哥请安折), hiện còn trưng bày tại bảo tàng Nam Kinh. Nội dung phúc đáp giữa Càn Long Đế và giữa tổng quản Phan Phượng (潘凤), có nói đến sự kiện Càn Long Đế đã tra hỏi cung nữ 3 người bên cạnh Na Lạp hoàng hậu, ngay cái hôm mà Na Lạp hoàng hậu cắt tóc:

Việc thẩm tra cung nữ đã rời khỏi phòng hôm Hoàng hậu cắt tóc, chứng tỏ khi vụ việc xảy ra, Hoàng hậu âm thầm làm, do không muốn liên lụy cung nữ nên xua họ ra ngoài, vậy thì căn bản khi hoàng hậu cắt tóc là Càn Long Đế không có mặt chứng kiến. Trong chỉ dụ, Càn Long Đế suy đoán “Nàng ngày thường hận ta rất sâu”, lại sai khiến người quan sát Hoàng hậu phản ứng khi tiếp chỉ, có thể thấy được Càn Long Đế đối với sự việc Na Lạp hoàng hậu cắt tóc, cơ hồ không biết chân tướng.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu Na Lạp thị có ba người con với Càn Long Đế:

  1. Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ [永璂; 7 tháng 6, năm 1752 - 17 tháng 3, năm 1776]. Dù là đích xuất nhưng chỉ giữ phong hiệu Bối lặc (貝勒). Sau khi Hoàng hậu Na Lạp thị qua đời, ông bị thất sủng và chết khi mới chỉ 25 tuổi.
  2. Hoàng ngũ nữ [皇五女; 17531755], mất sớm.
  3. Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh (永璟; 2 tháng 1, năm 1756 - 7 tháng 9, năm 1757), mất sớm, táng vào Đoan Tuệ Hoàng thái tử viên tẩm (端慧皇太子园寝).

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim điện ảnh và truyền hình Diễn viên Nhân vật
1998 Hoàn Châu cách cách Đới Xuân Vinh Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
1999 Hoàn châu cách cách 2 Đới Xuân Vinh Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2002 Hoàn Châu cách cách 3: Chi thiên thượng nhân gian Khương Lê Lê Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2002 Càn Long du Giang Nam Khương Hồng Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
(Nhàn phi → Hoàng hậu)
2004 Càn Long và Hương Phi Ông Hồng Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
(Nhàn phi → Hoàng hậu)
2011 Tân Hoàn Châu cách cách Đặng Tụy Văn Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2012 Hậu cung Chân Hoàn truyện Trương Nghiên Ô Lạp Na Lạp Thanh Anh
2013 Họa khuông nữ nhân Phạm Băng Băng Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2014 Cung tỏa liên thành Dương Minh Na Ô Lạp Na Lạp Hoàng hậu
2018 Hậu cung Như Ý truyện Châu Tấn Ô Lạp Na Lạp Thanh Anh / Như Ý
2018 Diên Hi công lược Xa Thi Mạn Huy Phát Na Lạp Thục Thận

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều này tương tự cách gọi các dòng họ lớn ở Trung nguyên, như Thái Nguyên Vương thị chẳng hạn.
  2. ^ Thế tập:truyền lại chức vụ từ đời này sang đời khác
  3. ^ Bát Kỳ tuyển tú: tuyển chọn cả thê thiếp cho các hoàng tử, chứ không hẳn chỉ dùng để tuyển phi tần
  4. ^ 清实录乾隆朝实录卷之二百三十三 乾隆十年。...乙未。谕、朕奉皇太后懿旨。贵妃诞生望族。佐治后宫。孝敬性成。温恭素著。著晋封皇贵妃。以彰淑德。娴妃、纯妃、愉嫔、魏贵人。奉侍宫闱。慎勤婉顺。娴妃、纯妃、俱著晋封贵妃。愉嫔、著晋封为妃。魏贵人、著晋封为嫔。以昭恩眷。钦此。特行传谕。该部将应行典礼。察例具奏。
  5. ^ 清实录乾隆朝实录卷之五十八: 乾隆二年。丁巳。十二月。丁亥。上礼服。御太和殿。宣制。命保和殿大学士鄂尔泰为正使。户部尚书海望为副使。持节。赍册宝。册立嫡妃富察氏为皇后。册文曰。朕闻乾坤定位。爰成覆载之能。日月得天。聿衍升恒之象。惟内治乃人伦之本。而徽音实王化所基。茂典式循。彝章斯举。咨尔嫡妃富察氏、钟祥勋族。秉教名宗。当亲迎之初年。礼成渭涘。膺嫡妃之正选。誉蔼河洲。温恭娴图史之规。敬顺协珩璜之度。承欢致孝。问安交儆于鸡鸣。逮下流恩。毓庆茂昭于麟趾。允赖宜家之助。当隆正位之仪。兹奉崇庆皇太后慈命。以金册金宝。立尔为皇后。尔其祗承懿训。表正壸仪。奉长乐之春晖。勖夏凊冬温之节。布坤宁之雅化。赞宵衣旰食之勤。恭俭以率六宫。仁惠以膺多福。螽斯樛木。和风溥被于闺闱。茧馆鞠衣。德教覃敷于海宇。永绥天禄。懋迓鸿禧。钦哉。命保和殿大学士张廷玉为正使。内阁学士索柱为副使。持节。册封庶妃高氏为贵妃。册文曰。朕惟政先内治。赞雅化于坤元。秩晋崇班。沛渥恩于巽命。彝章式考。典礼攸加。尔庶妃高氏、笃生名族。克备令仪。持敬慎以褆躬。秉柔嘉而成性。椒掖之芳声早著。度协珩璜。璇闱之淑德丕昭。荣膺纶綍。兹仰承皇太后慈谕。以册宝封尔为贵妃。尔其祗勤日懋。迓景福以凝祥。恭顺弥彰。荷洪庥而衍庆。钦哉。命协办大学士礼部尚书三泰为正使。内阁学士岱奇为副使。持节。册封庶妃那拉氏为娴妃。册文曰。朕惟教始宫闱。式重柔嘉之范。德昭珩佩。聿资翊赞之功。锡以纶言。光兹懿典。尔庶妃那拉氏、持躬淑慎。赋性安和。早著令仪。每恪恭而奉职勤修内则。恒谦顺以居心。兹仰承皇太后慈谕。以册印封尔为娴妃。尔其祗膺巽命。荷庆泽于方来。懋赞坤仪。衍鸿休于有永。钦哉。命东阁大学士徐本为正使。内阁学士春山为副使。持节。册封纯嫔苏氏为纯妃。册文曰。朕惟协赞坤仪。端赖柔嘉之范。翊宣内则。聿加位号之荣。贲以徽章。昭兹茂典。尔纯嫔苏氏、克裕温恭。夙彰淑慎。凛芳规于图史。式佐椒庭。叶令望于珐璜。懋膺纶诰。兹仰承皇太后慈谕。以册印封尔为纯妃。尔其祗承象服。昭勤俭以流徽。笃迓鸿禧。履谦和而裕庆。钦哉。命礼部尚书任兰枝为正使。内阁学士吴家骐为副使。持节。册封贵人金氏为嘉嫔。册文曰。朕惟赞宫庭而敷化。淑德丕昭。班位号以分荣。恩光式焕。珩璜克叶。纶綍攸加。尔贵人金氏、早毓名门。夙禀温恭之度。久勤内职。备娴敬慎之仪。兹仰承皇太后慈谕。册封尔为嘉嫔。尔其象服钦承。履谦和而迓福。鸿禧永荷。懋敦顺以凝祥。钦哉。正使跪受节起。于各册前、依次行。副使随行。至景运门外。捧节授内监。册宝印入官。册立册封礼成。内监持节出景运门。授各正副使。至后左门复命。
  6. ^ 乾隆十三年(1748)三月十一日,弘历的嫡皇后孝贤皇后病逝,中宫皇后的位子出现空缺。四个月后,乾隆帝发出一道上谕:“朕躬揽万几。勤劳宵旰。宫闱内政。全资孝贤皇后综理。皇后上侍圣母皇太后。承欢朝夕。纯孝性成。而治事精详。轻重得体。自妃嫔以至宫人。无不奉法感恩。心悦诚服。十余年来。朕之得以专心国事。有余暇以从容册府者。皇后之助也。兹奉皇太后懿旨。皇后母仪天下。犹天地之相成。日月之继照。皇帝春秋鼎盛。内治需人。娴贵妃那拉氏、系皇考向日所赐侧室妃。人亦端庄惠下。应效法圣祖成规。即以娴贵妃那拉氏继体坤宁。予心乃慰。即皇帝心有不忍。亦应于皇帝四十岁大庆之先。时已过二十七月之期矣。举行吉礼。佳儿佳妇。行礼慈宁。始惬予怀也。钦此。朕以二十余年伉俪之情。恩深谊挚。遽行册立。于心实所不忍。即过二十七月。于心犹以为速。但思皇后大事。上轸圣母怀思。久而弥笃。岁时令节。以及定省温凊。朕虽率诸妃嫔、及诸孙、问安左右。而中宫虚位。必有顾之而怆然者。固宜亟承慈命。以慰圣心。且嫔嫱内侍。掖庭之奉职待理者甚众。不可散而无统。至王妃命妇等、皆有应行典礼。允旷不举。亦于礼制未协。册立既不忍举行。可姑从权制。考之明太祖淑妃李氏宁妃郭氏、相继摄六宫事。国朝顺治十三年、册立皇贵妃。皇曾祖世祖章皇帝升殿命使翼日颁诏天下。典至崇重。今应仿效前规。册命娴贵妃那拉氏为皇贵妃。摄六宫事。于以整肃壸仪。上奉圣母。襄助朕躬。端模范而迓休祥。顺成内治。有厚望焉。所有应行典礼。大学士会同礼部、内务府、详议具奏。寻议、恭查皇贵妃册封大典。王妃命妇行礼。已有成例。惟贵妃行礼之处。外廷无案可稽。但皇贵妃摄行六宫事。二十七月后即正位中宫。既统理内政。体制自宜尊崇。贵妃亦应一体行礼。所有册封礼仪应前期一日。遣官祭告太庙。奉先殿告祭礼。上亲诣举行。届期设卤簿仪仗、中和韶乐。上御太和殿阅册宝。大学士等、捧节授持节使。持节使随册宝亭、至景运门授内监。皇贵妃具礼服恭迎。宣受如仪。次日上率王以下文武官员、诣皇太后宫行礼。礼毕。皇贵妃率贵妃以下、公主、王妃、命妇、行礼。上御太和殿受贺。颁诏天下。嗣后遇三大节。及庆贺大典。三品以上大臣官员、进笺庆贺。及每岁行亲蚕礼。应照例举行。得旨、依议册封典礼。著于明年三月后举行。其亲蚕礼。俟正位中宫后。该部照例奏请。
  7. ^ 穿戴档: 乾隆二十三年三月十五日,胡世杰传旨:“袍子领子小些!到家里着皇后放样。巡幸褂抬肩转身最小,亦着放样。
  8. ^ 穿戴档: 乾隆二十四年十二月初六日,胡世杰传旨:金银线东珠押豆火(火燫)怎么不伺候万岁爷带随?又传旨降东珠押豆火(火燫)拿来伺候呈览。总管马国用等随将火(火燫)二把交与胡世杰奉至御前呈览。奉旨:将东珠押豆一个摅下交于皇后重做一把火(火燫)来。
  9. ^ 拨用行文底簿: 乾隆二十八年五月十八日,皇帝驾行热河,皇后住汤泉。同行嫔妃有:庆妃、颖妃、忻嫔、豫嫔、慎嫔、容嫔、新常在,共八位,手下女子十七人。
  10. ^ 乾隆三十年正月十六日,皇帝驾行江南,同行有:皇后、令贵妃、庆妃、容嫔、永常在、宁常在六位。
  11. ^ 膳底档: 正月十八赏膳给皇后
  12. ^ 膳底档: 闰二月初九庆妃进全猪肉丝一品,全猪肉丝赏皇后
  13. ^ 膳底档: 闰二月十四西湖行宫上传叫苏州府役做燕窝烩五香鸡一品赏皇后
  14. ^ 膳底档: 闰二月十八日皇帝吃饭前赏皇后一个菜,吃完后又赏了一个
  15. ^ 清宫的《上谕档》记载:“闰二月十八日,乾隆派额驸福隆安扈从皇后那拉氏,由水路先行回京。”
  16. ^ 乾隆三十一年七月十五日,正在木兰狩猎的皇帝发了一道上谕
  17. ^ “Avec Amélie Lavin, ça déménage au musée des Beaux-Arts”. 
  18. ^ 乾隆四十三年九月: 乙未。谕本日有锦县生员金从善、于御道旁。进递呈词。条陈四事。狂诞悖逆。为从来所未有。观其首以建储为请。盖妄思彼言一出。便可为他日邀功之具而敢于蔑视王章。情实可恶。即以此事而论。康熙年间。未尝不立皇太子。乃因情性乖张。群小复从而蛊惑。遂致屡生事端。幸而皇祖洞烛其情。再立再废。国家得以乂安。使理密亲王、及弘晳父子。相继嗣位。岂我大清宗社臣民之福乎。至所云立太子。可杜分门别户之嫌。尤为大谬。不知有太子然后有门户。盖众人见神器有属。其庸碌者。必豫为献媚逢迎。桀黠者。且隐图设机构陷。往牒昭然可鉴。若不立储。则同系皇子。并无分别。即有憸邪之辈。又孰从而依附觊觎乎。我皇祖有鉴于前事。自理密亲王既废。不复建储。迨康熙六十一年十一月。皇祖龙驭上宾。皇考绍膺大宝。内上帖然。我皇考效法前徽。亦不立储位。唯于雍正元年。亲书朕名。缄藏于乾清宫正大光明扁内。并不明降谕旨。及雍正十三年八月。皇考升遐。遵向谕敬启御函。朕即缵承洪绪。彼时人情亦甚辑宁。此即不建储之益。固天下臣民所共见共闻者也。朕登极之初。恪遵家法。以皇次子为孝贤皇后所出。人亦贵重端良。曾书其名。立为皇太子。亦藏于正大光明扁内。未几薨逝。因追谥为端慧皇太子。其旨亦即彻去。不复再立。且皇七子亦皇后所出。又复逾年悼殇。若以次序论。则当及于皇长子。既弗克永年。而以才质论。则当及于皇五子。亦旋因病逝。设如古制之继建元良。则朕在位而国储四殒。尚复成何事体乎。然此等大事。朕未尝不计及也。曾于乾隆三十八年冬。密书封识。并以此意、谕知军机大臣。但遵皇考旧例。不明示以所定何人。盖不肯显露端倪。使群情有所窥伺。此正朕善于维持爱护之深心也。然是年冬至南郊大祀。即令诸皇子在坛侍仪观礼。朕曾以所定皇子之名。默祷上帝。以所定之子若贤。能承大清基业。则祈昊苍眷估。俾得有成。苦其人弗克负荷。则速夺其算。毋误国家重大之任。予亦可另行选择。此朕告天之语。岂能饰词以欺人乎。是朕虽未明诏立储。实与立储无异。但不欲似前代之务虚名而滋流弊耳。而该逆犯乃以为大清不宜立太子。岂以不正之运自待耶。此何言乎。尤为大逆不道。我朝得天下之正。实非汉唐宋明所可比。而该逆犯竟敢目为不正。其心显然存内外之见。肆其狂吠。非惟诋斥朕躬。并且干犯列祖。该逆犯身列青衿。自其高曾以来。皆本朝臣仆。食毛践土。百有余年。况其父曾为知县。乃敢悖逆若此。虽夷其三族。亦岂足蔽辜乎。朕每论自昔为建储之请者。大率自为身谋。即年已老耄。亦为其子孙计。明执古礼、以博正人之名。隐挟私见、以图一已之利。若而人者。实无足取。即今时诸臣中。亦未必无存此见者。但如逆犯所云以不正之运自待。明肆诋毁。则实称罕见之鬼蜮耳。总之建储与封建井田相似。封建井田。不可行于后世。建储亦何独不然。至所称、立后一事。更属妄延。乾隆十三年。孝贤皇后崩逝时。因那拉氏、本系朕青宫时。皇考所赐之侧室福晋。位次相当。遂奏闻圣母皇太后。册为皇贵妃、摄六宫事。又越三年。乃册立为后。其后自获过愆。朕仍优容如故。乃至自行翦发。则国俗所最忌者。而彼竟悍然不顾。然朕犹曲予包含。不行废斥。后因病薨逝。只令减其仪文。并未降明旨。削其位号。朕处此事。实为仁至义尽。且其立也。循序而进。并非以爱选色升。及其后自蹈非理。更非因色衰爱弛。况自此不复继立皇后。朕心事光明正大如此。洵可上对天祖。下对臣民。天下后世。又何从訾议乎。该逆犯乃欲朕下罪已之诏。朕有何罪而当下诏自责乎。逆犯又请复立后。朕春秋六十有八。岂有复册中宫之理。况现在妃嫔中。既无克当斯位之人。若别为选立。则在朝满洲大臣。及蒙古扎萨克诸王公。皆朕儿孙辈行。其女更属卑幼。岂可与朕相匹而膺尊号乎。此更可笑。不足论矣。至所称、讷谏一节。朕自临御以来。凡臣工条奏。果有益于国计民生者。无不即为采纳。或下部议行。从无拒谏之事。若各省水旱偏灾。皆朕于督抚等奏报晴雨摺。或咨之奉差入觐之人。稍遇雨旸失调。无不先事邮询。严饬封疆大臣。实力妥办。多方赈恤。并未有臣下陈奏。朕转拒而不听者。即或内外大臣。如有不公不法之事。原许诸臣劾奏。朕察核果实。无难立治所劾大臣之罪。又何尝有如明季言官。弹劾大臣。因而得祸者乎。若胜国宦官宫妾。窃揽大权。擅作威福者。今日实无其事。科道更何从白简从事。亦何待朕之拒绝乎。又所请施德一事。朕践阼至今四十三年。曾普免天下钱粮三次。普免漕粮一次。而灾赈之需。动辄数百万。且如今年豫省水灾。截漕三十万。发帑百余万。此尤近事之可徵者。即以奉天一省而论。今岁既当轮免之年。复以巡幸盛京。特蠲明年正赋。恩德之及民。不为不厚。而该逆犯何尚敢于妄逞横议耶。此等逆犯。实属罪大恶极。昔曾静尚属远居湖南。不料陪都根本重地。俗朴风淳。乃有如此悖逆之徒。实为意想所无。着行在大学士九卿、会同严审定拟具奏
  19. ^ Từ Hoăng (薨) mà Càn Long Đế dùng vốn chỉ dành cho phi tần và hoàng tử, công chúa; dùng để chỉ sự qua đời. Hoàng hậu cũng như Hoàng đế, khi qua đời đều dùng Băng (崩). Có thể thấy Thanh sử cảo vẫn dùng đúng
  20. ^ Thanh sử cảo - quyển 214
  21. ^ 啸亭杂录·阿司寇