Kịch nói

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Kịch nói hay thoại kịch là môn nghệ thuật trình diễn dùng ngôn ngữ để biểu đạt thay vì âm nhạc, động tác, hay vũ điệu. Ngôn ngữ ở đây là ngôn từ và động tác thường nhật rút từ cuộc sống, không phải những điệu múa hay dáng bộ ước lệ.

Ở Việt Nam, loại kịch này du nhập qua trung gian văn hóa Pháp vào đầu thế kỷ 20.[1]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tờ quảng cáo vở Bệnh tưởng do Nguyễn Văn Vĩnh dịch nguyên tác của Molière, diễn ngày 20 Tháng Tư, 1920 ở Nhà hát lớn, Hà Nội. Hội Khai Trí Tiến Đức cùng bảo trợ để quyên góp giúp tử sĩ Đông Dương chết trận ở Âu châu trong Đệ nhất Thế chiến

Những bộ môn trình diễn sân khấu truyền thống ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là hát chèo, hát tuồng, và cải lương. Cả ba đều dùng âm nhạc và ca điệu làm cách diễn tả chính trong khi lời nói thường chỉ dùng xen kẽ. Khi người Pháp đặt nền bảo hộĐông Dương và mang môn giải trí trình diễn kịch sang thì người Việt mới dần quen với lối nghệ thuật mới này.

Vở kịch đầu tiên theo thể cách kịch nói của Âu châu là vở Bệnh tưởng vốn là nguyên tác Malade imaginaire của văn sĩ người Pháp Molière do Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Việt.

Tuy lấy mẫu từ kịch bản Pháp, kịch nói ở Việt Nam đã nhanh chóng thích nghi, trút tỉa từ nét văn hóa Việt Nam đương thời để Việt hóa môn này. Những vở kịch nói tiên khởi phải kể Nửa đêm truyền hịch (Trần Tử Anh), Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948 của Vũ Khắc Khoan), diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Mùa kịch thường là vào thu khi trời trở lạnh và khán giả ăn mặc trang trọng để đi xem kịch. Kịch thơ lúc đó cũng phát triển mạnh như các vở Tâm sự kẻ sang Tần (Vũ Hoàng Chương), Bến nước Ngũ Bồ (Hoàng Công Khanh)...

Sang thập niên 1950 thì ban kịch Dân Nam đã có tiếng. Vở trường kịch đầu tiên ở Việt Nam là vở Áo người trinh nữ.[1] Mười năm sau vào thập niên 1960 thì ở trong Nam đã có nhiều ban kịch như Ban kịch sống Túy Hồng. Trong khi các đoàn cải lương và hát tuồng dùng sân khấu sống, kịch nói vào giai đoạn này xuất hiện chủ yếu trên truyền hình THVN. Các đề tài lồng trong cốt truyện thường phản ảnh tình hình xã hội như các vở Gia đình Ông Ký, Ngã rẽ cuối cùng, Chuyện xảy ra lúc 0 giờ.

Môn kịch nói được giảng dạy ở Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ.

Diễn viên kịch nói nhiều khi là diễn viên cải lương như Kim Cương, Ba Vân, Túy Hoa, La Thoại Tân. Ngoài ra là những diễn viên không thuộc trường phái cải lương như Kiều Hạnh, Tú Trinh.

Nhà soạn kịch Tác phẩm
Đinh Thạch Bích Ái tình Bôn-sê-vích
Vũ Khắc Khoan Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948)
Thành Cát Tư Hãn
Hậu trường(1949)
Ngộ nhận
Ngọc Linh Ngã rẽ tâm tình
Phan Tùng Mai Người giết Tần Cối
Trần Lê Nguyễn Quán nửa khuya
Bão thời đại
Ngô Xuân Phụng Ác mộng
Con vật phi lý
Doãn Quốc Sỹ Trái cây đau khổ (1963)
Tinh Vệ Bão loạn
Cơn lốc
Hoàng Dũng Lá sầu riêng (1963)[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nguyên Thy. "Thoại kịch, tiếng nói thời cuộc". Vietstream Xuân Bính Thân 2016. Westminster, CA. tr 134-141.
  2. ^ "Kỳ nữ Kim Cương và tuyệt tác Lá Sầu Riêng"